Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

VAI TRÒ THEN CHỐT CỦA QUAN HỆ ĐẦU TƯ NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN

VƯỢT BẪY THU NHẬP TRUNG BÌNH: VAI TRÒ THEN CHỐT CỦA QUAN HỆ ĐẦU TƯ NHÀ NƯỚC – TƯ NHÂN
Trong hành trình đổi mới, phát triển kinh tế 40 năm qua, Việt Nam đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu nguồn lực đầu tư. Từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, gần như hoàn toàn dựa vào đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước (KTNN), chuyển sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Việt Nam đã gia tăng mạnh mẽ tỷ trọng đầu tư của khu vực kinh tế ngoài nhà nước (KTNNN), từ đó đưa khu vực KTNNN trở thành một trong những động lực then chốt của tăng trưởng. Vốn đầu tư, dù đến từ KTNN hay KTNNN, đều đã chứng minh được vai trò ngày càng quan trọng trong việc hình thành năng lực sản xuất, thúc đẩy sáng tạo và đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất lao động và tạo thêm nhiều việc làm và thu nhập cho người dân.
Tuy nhiên, mối quan hệ giữa hai nguồn vốn này vẫn là chủ đề tranh luận sôi nổi cả về lý luận lẫn thực tiễn chính sách. Về lý luận, câu hỏi vẫn chưa được giải đáp là đầu tư của khu vực KTNN (ĐTNN) có tác dụng bổ sung cho đầu tư của khu vực KTNNN (ĐTNNN) bằng cách cải thiện hạ tầng, giảm rủi ro và hỗ trợ, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho khu vực KTNNN, hay ngược lại, lấn át, chèn ép ĐTNNN vì nó đã và đang chiếm dụng nguồn vốn tín dụng, bóp méo thị trường và tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng?

Về thực tiễn chính sách, câu hỏi này đang ngày càng trở nên cấp thiết. Đến nay trong tiềm thức của nhiều nhà hoạch định chính sách và quản lý kinh tế nước ta, ĐTNN gồm đầu tư công (ĐTC) bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước và đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), vẫn được xem là động lực chính thúc đẩy quá trình tăng trưởng kinh tế, trong khi ĐTNNN thường bị xem nhẹ. Đặc biệt, mỗi khi tỷ lệ tăng trưởng kinh tế chậm lại, hoặc muốn đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế, họ lại nghĩ ngay đến các chính sách kích cầu thông qua mở rộng ĐTC, tín dụng ưu đãi của nhà nước và thúc đẩy đầu tư của các DNNN (ĐTDNNN). Điều này gây tâm lý lo ngại cho các nhà đầu tư, nhất là trong bối cảnh Nhà nước đang tăng cường tái cơ cấu đầu tư và nâng cao hiệu quả khu vực DNNN, để phấn đấu đạt tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hai con số trong suốt 20 năm tới. Đến nay, các bằng chứng thực nghiệm trong nước và quốc tế về tương tác giữa ĐTNN và ĐTNNN đối với nền kinh tế Việt Nam vẫn rất hạn chế, rời rạc và thiếu tính hệ thống.

Trong bối cảnh đó, Bộ Chính trị vừa ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân, bộ phận chủ lực của KTNNN, trong đó khẳng định "Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”.
Như vậy, vị trí, vai trò của KTNNN đã được nâng lên ngang tầm với KTNN, cả hai cùng giữ vai trò động lực và làm nòng cốt để xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta. Với nhận thức rất mới như vậy, ĐTNNN phải được quan tâm và ủng hộ mạnh mẽ hơn so với trước.

Mục tiêu của bài viết là phân tích mối quan hệ định lượng giữa hai nguồn vốn ĐTNN và ĐTNNN trong 30 năm đổi mới kinh tế gần đây (1995-2025), qua đó cung cấp cơ sở thực tiễn vững chắc cho các quyết sách về cải cách thể chế, phân bổ nguồn lực và phối hợp phát triển giữa các thành phần kinh tế trong 20 năm tới. Bài viết sẽ mở đầu bằng việc điểm lại một số quan điểm về ảnh hưởng của ĐTNN đối với ĐTNNN; tiếp đó sẽ phân tích ảnh hưởng của ĐTNN tới ĐTNNN thông qua một mô hình kinh tế lượng, và cuối cùng sẽ đưa ra một số gợi ý chính sách.

1. Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tế về ảnh hưởng của ĐTNN đối với ĐTNNN

1.1. Cơ sở lý thuyết

Hiện nay trên thế giới vẫn tồn tại song song hai luồng quan điểm trái chiều. Quan điểm “lấn át” (Crowding-out/Eviction Effect) của trường phái kinh tế học cổ điển và tân cổ điển cho rằng sự can thiệp quá mức của nhà nước vào hoạt động đầu tư sẽ làm méo mó thị trường và chiếm dụng nguồn lực khan hiếm, từ đó chèn ép, ức chế ĐTNNN (Aschauer, 1989; Faini,1994; Francois, 2024). Hai cơ chế lấn át cụ thể là:

(i) Chèn ép, lấn át tài chính: Khi chính phủ huy động lượng vốn lớn từ hệ thống ngân hàng và thị trường vốn để ĐTNN, lãi suất sẽ tăng, khu vực KTNNN, thường phải chịu rào cản tiếp cận tín dụng cao hơn, sẽ bị “đẩy ra ngoài”, không huy động được lượng vốn (Easterly & Rebelo, 1993).

(ii) Ức chế thị trường: Các DNNN thường được ưu tiên hoạt động trong các lĩnh vực có tính cạnh tranh, được hưởng quy chế độc quyền hoặc độc quyền nhóm với nhiều ưu đãi ngầm (bảo lãnh, tiếp cận đất đai, thông tin chính sách), nên gia tăng ĐTNN sẽ tạo môi trường cạnh tranh không bình đẳng, ức chế các doanh nghiệp ngoài nhà nước, làm cho khu vực KTNNN rất khó phát triển, nên quy mô đầu tư giảm so với tiềm năng. Hậu quả là hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thấp, hệ số ICOR cao, vì vốn ĐTNN thường được phân bổ kém hiệu quả (do động cơ chính trị, tham nhũng, quản trị yếu…), không tạo ra giá trị gia tăng tương xứng, đồng thời chiếm giữ nguồn lực đáng lẽ có thể được khu vực KTNNN, khu vực sử dụng vốn với hiệu quả cao hơn, sử dụng (World Bank, 2020; Faini, 1994; Barro, 1990).

Quan điểm “bổ sung” (Crowding-in Effect) của trường phái Keynes và hậu Keynes nhấn mạnh vai trò khởi xướng và dẫn dắt của ĐTNN, đặc biệt là ĐTC, ở các nền kinh tế đang phát triển với thị trường chưa hoàn thiện. Hai cơ chế cụ thể là:

(i) ĐTNN tạo cơ sở hạ tầng thiết yếu và không thể thiếu cho phát triển, gồm hạ tầng giao thông, điện, nước, sân bay, cảng biển, viễn thông, giáo dục, y tế… Đây là những lĩnh vực có chi phí đầu tư và rủi ro cao nên khu vực KTNNN thường không muốn đầu tư. ĐTNN vào các lĩnh vực này sẽ tạo thuận lợi cho đầu tư và sự phát triển của khu vực KTNNN (Aschauer, 1989).

(ii) ĐTNN góp phần khắc phục các thất bại của thị trường, nhất là trong các lĩnh vực có tính ngoại ứng (externalities) cao, cần phải có các DNNN như nghiên cứu - phát triển (R&D), y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng cơ bản, bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, bảo tồn di sản, phát triển văn hóa và nghệ thuật truyền thống… Đây là những lĩnh vực KTNNN thường né tránh đầu tư. Khi ĐTNN “đi trước”, nó sẽ kéo theo ĐTNNN tham gia theo hiệu ứng bổ sung lẫn nhau giữa nhà nước và tư nhân (public-private complementarity).

Ngoài ra, gia tăng ĐTNN còn là một tín hiệu chính sách, thể hiện cam kết của Chính phủ về ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ cải thiện môi trường kinh doanh, từ đó làm tăng niềm tin cho nhà đầu tư của khu vực KTNNN.

1.2. Kinh nghiệm thực tế

Vì vai trò đặc biệt quan trọng của vốn đầu tư đối với phát triển kinh tế nên các nghiên cứu quốc tế về mối quan hệ giữa ĐTNN và ĐTNNN rất phong phú. Một số nghiên cứu kinh điển nổi bật là Aschauer (1989) về hiệu ứng tích cực của đầu tư công (đặc biệt là hạ tầng) lên năng suất của khu vực kinh tế tư nhân. Easterly và Rebelo (1993) phân tích vai trò của chi tiêu công và thuế đối với tăng trưởng kinh tế, trong đó nhấn mạnh cơ chế crowding-out qua lãi suất. IMF (2020) phân tích dữ liệu hơn 100 quốc gia rút ra kết luận đầu tư công có thể thúc đẩy đầu tư tư nhân nếu đi kèm cải cách thể chế. Barro và Robert (1991) không khẳng định cứng nhắc đầu tư nhà nước có tác động bổ sung hoặc lấn át tư nhân, mà ông đưa ra một mức chi tiêu công tối ưu: Nếu chi tiêu công quá thấp, sẽ thiếu kết cấu hạ tầng, làm năng suất thấp. Ngược lại, nếu chi tiêu công quá cao, sẽ dẫn tới thuế cao, qua đó ức chế đầu tư tư nhân và làm giảm tăng trưởng. Do đó, mối quan hệ giữa chi tiêu công và đầu tư tư nhân là phi tuyến (inverted U-shaped).

Đối với Việt Nam, Ngân hàng Thế giới (2021) phân tích vai trò của ĐTC trong xây dựng kết cấu hạ tầng để hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân ở Việt Nam, đặc biệt trong logistics và sản xuất, từ đó khẳng định “trong giai đoạn 2016–2020, khi ĐTC được đẩy mạnh vào hạ tầng giao thông (cao tốc Bắc–Nam, sân bay, cảng biển), nhiều doanh nghiệp logistics và sản xuất trong nước đã mở rộng nhà xưởng, kho bãi dọc các hành lang kinh tế mới – minh chứng cho hiệu ứng crowding-in”. Nguyễn Đức Thành, Vũ Tiến Thành & Lê Việt Anh (2019) cho rằng ĐTC không kéo theo đầu tư tư nhân, thậm chí còn kìm hãm đầu tư tư nhân vì DNNN tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn do có ưu đãi ngầm, dẫn tới chiếm dụng nguồn lực của khu vực tư nhân. Đây là hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân, thay vì tạo ra hiệu ứng bổ trợ như lý thuyết kỳ vọng. Nguyễn Thế Khang (2022) sử dụng dữ liệu bảng của 63 tỉnh/thành của Việt Nam từ năm 2000 đến 2020, bằng phương pháp FMOLS và DOLS phân tích rút ra kết luận ĐTC tác động tích cực đầu tư tư nhân theo cả hai phương pháp ước lượng.

Phần lớn các nghiên cứu ở Việt Nam thừa nhận vai trò tích cực của ĐTNN đối với ĐTNNN, nhất là trong những năm đầu đổi mới. Nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, nếu ĐTNN tăng thêm được sử dụng vào phát triển kết cấu hạ tầng như xây dựng các tuyến đường giao thông, bến cảng, năng lượng, điện nước, thông tin liên lạc và phát triển con người thì ảnh hưởng của nó là tích cực. Kết cấu hạ tầng tốt hơn, năng lực, trình độ của người lao động tăng lên... sẽ làm cho năng suất lao động cận biên của khu vực KTNNN tăng lên, từ đó kích thích gia tăng ĐTNNN. Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy chỉ khi ĐTNN được hướng vào các lĩnh vực sản xuất trực tiếp, liên quan mật thiết tới lợi nhuận của khu vực KTNNN như công nghiệp chế biến, nông nghiệp, kinh doanh dịch vụ và hàng xuất khẩu thì nó mới làm giảm đầu tư tư nhân.

Tuy nhiên, quá trình đổi mới càng tiến xa thì càng có nhiều nghiên cứu cho rằng việc tăng nhanh ĐTNN đã gây ảnh hưởng tiêu cực tới ĐTNNN vì nó làm giảm nguồn vốn tín dụng và làm tăng chi phí huy động vốn của khu vực kinh tế này. Mặt khác, ĐTNN còn lấn sân ĐTNNN; nhiều dự án chậm thu hút được vốn đầu tư tư nhân trong và ngoài nước đã được thực hiện bằng nguồn vốn nhà nước. Thậm chí, trong các giai đoạn nguồn vốn đầu tư khá dồi dào nhờ chính sách kích cầu của Nhà nước, nhiều ngành và địa phương đã không tích cực huy động ngoài nhà nước và vốn nước ngoài mà chủ trương dùng vốn ĐTNN thay thế. Như vậy, bên cạnh một số mặt tích cực, ĐTNN đã phát sinh tiêu cực, làm giảm đầu tư của KTNNN, trong khi đây lại là khu vực sử dụng Đáng lo ngại hơn, một số nhà kinh tế còn cho rằng việc phát hành tiền tệ để bù đắp thâm hụt ngân sách đã dẫn tới cơ cấu lại thu nhập xã hội theo hướng tăng thu nhập của nhà nước và giảm thu nhập của dân cư, đồng thời làm tăng tỷ lệ lạm phát và lãi suất thực, từ đó làm giảm thu nhập thực tế và khả năng đầu tư của khu vực KTNNN. Trong trường hợp bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn vốn vay trong nước, lãi suất thực sẽ tăng lên vì thị trường tài chính ở Việt Nam đang rất yếu kém, làm giảm tiết kiệm trong dân, kéo theo giảm tiêu dùng và đầu tư của khu vực KTNNN.

Điểm yếu lớn nhất trong các nghiên cứu định lượng ở Việt Nam về mối quan hệ giữa hai nguồn vốn này là các chuỗi thời gian thường quá ngắn; đa số không loại bỏ đầu tư của khu vực FDI khỏi khu vực KTNNN, làm các kết quả bị nhiễu, vì đầu tư FDI thường phản ứng khác với đầu tư của khu vực KTNNN trong nước. Đặc biệt, chưa có nhiều nghiên cứu dùng dữ liệu panel theo ngành/tỉnh để kiểm soát đặc thù địa phương. Vì vậy, việc định lượng rõ ràng mối quan hệ giữa ĐTNN và ĐTNNN (không tính FDI) không chỉ có ý nghĩa học thuật, mà còn giúp trả lời câu hỏi chính sách then chốt: “Làm thế nào để phân bổ vốn ĐTNN sao cho vừa đảm bảo vai trò dẫn dắt, vừa không chèn ép đầu tư của khu vực KTNNN?”.

2. Quan hệ nhân quả giữa đầu tư nhà nước và đầu tư ngoài quốc doanh ở nước ta

...........................

...........................



5. Kết luận và gợi ý chính sách đầu tư cho giai đoạn 2026–2045

Mục tiêu của bài viết này là đánh giá vai trò và tác động của ĐTNN đến đầu tư của khu vực KTNNN trong giai đoạn 1995–2025, dựa trên mô hình kinh tế lượng được xây dựng từ lý thuyết tăng trưởng nội sinh và tiếp cận CES. Kết quả ước lượng cho thấy ĐTNN có tác động ròng tích cực đến ĐTNNN, phù hợp với giả thuyết “Crowding-in”, tức là ĐTNN không lấn át mà ngược lại, hỗ trợ và thúc đẩy ĐTNNN. Tuy nhiên, bản chất của mối quan hệ này không đồng nhất khi tách riêng các thành phần cấu thành của ĐTNN.

Cụ thể, ĐTC bao gồm chi tiêu từ ngân sách nhà nước cho hạ tầng giao thông, năng lượng, giáo dục, y tế… có hiệu ứng bổ sung mạnh mẽ cho ĐTNNN. Điều này khẳng định vai trò then chốt của ĐTC trong việc tạo dựng môi trường thuận lợi, giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng suất cho khu vực KTNNN. Ngược lại, ĐTDNNN có xu hướng lấn át (Crowding-out) ĐTNNN, phản ánh tình trạng cạnh tranh không bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực như tín dụng, đất đai, giấy phép và thị trường. Dù hiệu ứng này yếu, nó vẫn cho thấy sự hiện diện của DNNN trong các ngành kinh tế cạnh tranh đang cản trở sự phát triển của khu vực KTNNN.

Những phát hiện trên không chỉ củng cố lý thuyết tăng trưởng nội sinh, mà còn phản ánh đúng thực tiễn cải cách ĐTNN ở Việt Nam trong ba thập kỷ qua, khi nhà nước từng bước tái cơ cấu vai trò của mình từ “người chơi” sang “người tạo sân chơi” cho tất cả các loại hình doanh nghiệp cùng phát triển.

Trong bối cảnh Việt Nam hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045, kết quả nghiên cứu nhấn mạnh sự cần thiết phải tiếp tục ưu tiên ĐTC một cách hiệu quả, minh bạch và có chọn lọc, đồng thời đẩy mạnh cải cách DNNN theo hướng thị trường hóa. Chỉ khi ĐTNN tập trung vào các hàng hóa công cộng thuần túy và rút khỏi các lĩnh vực cạnh tranh theo cơ chế thị trường, khu vực KTNNN mới có thể phát huy đầy đủ vai trò động lực chính của tăng trưởng và đổi mới sáng tạo trong nền kinh tế. Dưới đây xin gợi ý sáu chính sách đầu tư cho giai đoạn 2026–2045 nhằm chuyển đổi mô hình đầu tư từ số lượng sang chất lượng, từ dàn trải sang trọng tâm, từ vai trò “người chơi” sang “người tạo sân chơi” của khu vực KTNN.

5.1. Tái cấu trúc đầu tư công theo hướng “chất lượng – kết nối – chuyển đổi”

Thay vì tiếp tục đầu tư dàn trải vào các hạ tầng truyền thống, ĐTC trong 20 năm tới cần tập trung vào ba trụ cột chiến lược: (i) Hạ tầng số (trung tâm dữ liệu, mạng 5G/6G, trí tuệ nhân tạo, Internet vạn vật); (ii) Hạ tầng xanh (năng lượng tái tạo, giao thông công cộng điện khí hóa, hệ thống chống ngập và thích ứng biến đổi khí hậu); và (iii) Hạ tầng con người (giáo dục, đào tạo kỹ năng số, y tế thông minh). Mỗi đồng vốn ĐTNN phải được đánh giá không chỉ qua tiêu chí tài chính, mà quan trọng hơn là qua tác động lan tỏa đến năng suất và đổi mới sáng tạo của khu vực KTNNN. Đồng thời, cần mở rộng mô hình đối tác công – tư (PPP) minh bạch, dựa trên nguyên tắc chia sẻ rủi ro và lợi ích công bằng, nhằm huy động tối đa nguồn lực tư nhân cho các dự án hạ tầng chiến lược.

5.2. Cải cách triệt để DNNN theo hướng thị trường hóa và minh bạch hóa

Cần có lộ trình cụ thể để thu hẹp phạm vi hoạt động của DNNN chỉ trong những lĩnh vực then chốt liên quan đến an ninh quốc gia, hàng hóa công cộng và độc quyền tự nhiên. Trong các ngành kinh tế cạnh tranh (bán lẻ, logistics, xây dựng, bất động sản, thậm chí cả viễn thông, năng lượng), DNNN phải thoái vốn toàn diện để trả lại sân chơi cho khu vực KTNNN. Đồng thời, áp dụng chuẩn mực quản trị doanh nghiệp theo tiêu chuẩn quốc tế, tách bạch rõ chức năng chủ sở hữu nhà nước và quyền điều hành doanh nghiệp, đảm bảo DNNN hoạt động như một thực thể kinh tế độc lập, không được hưởng đặc quyền tiếp cận vốn, đất đai hay giấy phép. Mục tiêu cuối cùng là biến DNNN thành doanh nghiệp hiệu quả, minh bạch, không còn là “đối thủ” mà là “đối tác” bình đẳng với các DNNNN.

5.3. Xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSMEs)

Khu vực MSMEs hiện chiếm gần 98% tổng số doanh nghiệp (MPI, 2025) và là xương sống của nền kinh tế, nhưng đang gặp muôn vàn rào cản về tiếp cận vốn, công nghệ và thị trường. Chính sách đầu tư cần hướng tới xây dựng hệ sinh thái hỗ trợ toàn diện cho MSMEs, bao gồm: (i) Các quỹ đầu tư mạo hiểm công – tư để tài trợ cho khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; (ii) Các sàn giao dịch B2B số hóa kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng toàn cầu; (iii) Các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cung cấp dịch vụ R&D, chuyển giao công nghệ với chi phí thấp; và (iv) Các gói tín dụng ưu đãi cho doanh nghiệp đầu tư vào chuyển đổi số và xanh hóa sản xuất. Chỉ khi MSMEs phát triển và ngày càng lớn mạnh, KTNNN mới thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững.

5.4. Cải cách thể chế để giảm chi phí và bảo vệ quyền kinh doanh

Đầu tư không chỉ phụ thuộc vào hạ tầng vật chất, mà còn vào chất lượng thể chế. Trong 20 năm tới, cần tập trung cải cách Luật Đất đai, Luật Cạnh tranh, Luật Phá sản và Luật Doanh nghiệp theo hướng: (i) Bảo vệ quyền sở hữu tài sản, coi là quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm; (ii) Bình đẳng tuyệt đối giữa các thành phần kinh tế; (iii) Thuận tiện hóa thủ tục hành chính thông qua số hóa 100% dịch vụ công liên quan đầu tư; và (iv) Xây dựng cơ chế giải quyết tranh chấp minh bạch, nhanh chóng. Môi trường kinh doanh phải được đánh giá qua tỷ lệ DNNNN có tốc độ tăng trưởng nhanh và mở rộng đầu tư mạnh mẽ.

5.5. Gắn chiến lược đầu tư với chiến lược phát triển vùng và đô thị thông minh

Chính sách đầu tư cần được định hướng theo không gian tập trung, không dàn trải. Ưu tiên ĐTC vào các vùng động lực (ĐBSCL, ĐBSH, miền Trung) và mạng lưới đô thị thông minh để tạo ra các cụm liên kết ngành (industrial clusters) và các doanh nghiệp lớn có năng lực cạnh tranh tầm cỡ toàn cầu. Phải huy động KTNNN tham gia đầu tư phát triển mạnh mẽ các đô thị vệ tinh, khu công nghiệp xanh, khu kinh tế cửa khẩu, tạo động lực lan tỏa cho cả vùng. Quy hoạch đầu tư phải gắn liền với chiến lược thích ứng biến đổi khí hậu, đảm bảo phát triển xanh và bền vững.

5.6. Điều chỉnh chính sách ĐTNN hướng vào thu hút ĐTFDI

Để nâng cao hiệu quả thu hút ĐTFDI, tạo mối liên kết giữa ĐTNN và ĐTFDI trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, ĐTNN cần phải linh hoạt và gắn kết chặt chẽ với nhu cầu thực tế của nhà ĐTFDI. ĐTC phải chuyển từ tư duy “dàn trải theo kế hoạch” sang đầu tư “theo tín hiệu thị trường”. Nhà nước nên ưu tiên đầu tư hạ tầng giao thông, năng lượng, logistics và khu công nghiệp tại những vùng có tiềm năng thu hút FDI cao hoặc đã có dòng vốn FDI đăng ký, thay vì dàn trải đồng đều theo địa giới hành chính. Mặt khác, cần thiết lập cơ chế “ĐTC đối ứng”: khi FDI cam kết đầu tư vào một địa bàn, nhà nước cần nhanh chóng điều chỉnh kế hoạch ĐTC để bổ sung hạ tầng hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi ngay từ đầu cho nhà đầu tư. Bên cạnh đó, DNNN phải sớm rút khỏi các lĩnh vực cạnh tranh, chỉ duy trì ở vài ngành then chốt mang tính chiến lược. Cũng cần cổ phần hóa triệt để, minh bạch hóa quản trị và chấm dứt mọi ưu đãi phi thị trường dành cho DNNN để FDI tin tưởng và gia tăng cam kết dài hạn tại Việt Nam. Cuối cùng nhưng quan trọng nhất để ĐTNN “kéo được” FDI vào trong nước là phải cải cách thể chế mạnh mẽ. Hạ tầng cứng (đường xá, sân bay, bến cảng, năng lượng, nước sạch…) dù hiện đại đến đâu cũng không đủ nếu thiếu “hạ tầng mềm”, gồm môi trường pháp lý minh bạch, kinh tế vĩ mô ổn định, thủ tục hành chính đơn giản và bảo vệ quyền sở hữu.

Sáu chính sách đầu tư trên cho thấy thành công của ĐTNN sẽ được đo bằng sự phát triển mạnh mẽ của ĐTNNN và ĐTFDI. Thông điệp chiến lược xuyên suốt 20 năm tới là “ĐTNN không cạnh tranh với ĐTNNN và ĐTFDI, mà phải tạo điều kiện tốt nhất để ĐTNNN và ĐTFDI phát triển”. Chỉ khi ĐTNN trở lại đúng vai trò và hoàn thành tốt vai trò của mình, thì khu vực KTNNN, được hỗ trợ bởi khu vực FDI, mới có thể vươn lên làm động lực và đầu tàu tăng trưởng, đưa Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình và hiện thực hóa được mục tiêu trở thành nước phát triển, có thu nhập cao vào năm 2045.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét