Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Cuộc chiến Iran ảnh hưởng như thế nào tới các nước và khu vực trên thế giới

Cuộc chiến Mỹ - Israel - Iran ảnh hưởng như thế nào tới các nước và khu vực trên thế giới
Vòng xoáy đối đầu quân sự hiện tại giữa Mỹ, Israel và Cộng hòa Hồi giáo Iran bắt đầu từ ngày 28 tháng 2 bằng các cuộc không kích quy mô lớn vào lực lượng vũ trang, cơ sở hạ tầng kinh tế năng lượng, các trung tâm quyết định chính trị và ban lãnh đạo cấp cao của Iran. Xung đột vẫn chưa kết thúc và có thể kéo dài hàng tuần, thậm chí hàng tháng. 
Rõ ràng nhân loại ta đang chứng kiến những hành động thù địch quân sự chưa từng có tại khu vực này, với cường độ vượt xa "Cuộc chiến 12 ngày" hồi tháng 6 năm ngoái. Đây chắc chắn cũng là chiến dịch quân sự lớn nhất và khốc liệt nhất mà Tổng thống Mỹ Donald Trump từng phát động kể từ khi lên nắm quyền lần đầu vào tháng 1 năm 2017.

Nhiều quốc gia trong khu vực, thực tế là tất cả các nước Ả Rập vùng Vịnh, đã bị cuốn vào cuộc chiến này một cách trực tiếp hoặc gián tiếp. Tác động chính trị và kinh tế của xung đột hiện đã lan rộng toàn cầu, sóng xung kích chấn động thị trường thế giới, làm gián đoạn dòng chảy thương mại, thay đổi các dự báo kinh tế và thúc đẩy các quốc gia xem xét lại chiến lược an ninh quốc gia. 

Tại thời điểm này, còn quá sớm để đưa ra bất kỳ dự đoán chắc chắn nào về kết quả cuối cùng của cuộc đối đầu vũ trang, nhưng có thể rút ra một số kết luận sơ bộ về tác động đối với các thực thể chính trong và ngoài Trung Đông, thậm chí là đối với trật tự thế giới.

1. Iran: Các nhà lãnh đạo Mỹ - Israel rõ ràng đã đánh giá thấp khả năng phục hồi của hệ thống chính trị Iran

Không còn nghi ngờ gì nữa, Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo, Hải quân Iran, kho dự trữ tên lửa và máy bay không người lái (UAV), hệ thống phòng không, cũng như ban lãnh đạo chính trị - quân sự cấp cao của quốc gia (bao gồm cả vụ ám sát Lãnh đạo tối cao Ali Khamenei) đã chịu tổn thất nặng nề. Các quan chức Iran cũng báo cáo rằng hơn 10.000 cơ sở dân sự đã bị hư hại nghiêm trọng hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, bao gồm 8.000 tòa nhà nhà ở và 2.000 bất động sản thương mại, điều này làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng nhân đạo tại nước này.

Đồng thời, các nhà lãnh đạo Mỹ - Israel rõ ràng đã đánh giá thấp khả năng phục hồi của hệ thống chính trị Iran. Hệ thống này đã không sụp đổ hay tan rã từ bên trong dưới áp lực quân sự mạnh mẽ. Chiến tranh không kích động phe đối lập chính trị tập hợp các vụ bạo lực đường phố rộng khắp để thách thức trực tiếp quyền lực nhà nước. Nhiều nhóm dân tộc thiểu số của Iran (người Kurd, người Ả Rập, người Azeri, v.v.) không coi xung đột này là cơ hội để giành quyền tự trị chính trị lớn hơn hay thậm chí là độc lập khỏi Tehran; phần lớn họ vẫn trung thành với Cộng hòa Hồi giáo. Nhìn chung, đa số người dân Iran đã chọn cách đoàn kết dưới lá cờ quốc gia, tạm gác lại nhiều bất mãn và oán hận đối với thể chế chính trị này.

Thách thức đối với sự ổn định chính trị của Iran dường như mang tính trung hạn hơn là ngắn hạn. Các vấn đề kinh tế - xã hội đã bắt đầu tích tụ từ lâu trước các cuộc không kích gần đây của Mỹ - Israel. Ví dụ, tỷ lệ lạm phát hàng năm vượt quá 60%, giá thực phẩm tăng 13,7% mỗi tháng, tỷ giá nội tệ giảm 75% trong một năm, thâm hụt ngân sách đạt 6% GDP, v.v. Các cuộc không kích rất có thể sẽ làm trầm trọng thêm tình hình, bao gồm thất nghiệp gia tăng, thu nhập xuất khẩu giảm mạnh, thiếu hụt nhu yếu phẩm và tình trạng mất điện toàn quốc.

Sự đoàn kết quốc gia ngắn ngủi trong thời chiến chắc chắn sẽ nhường chỗ cho những rạn nứt và chia rẽ mới trong xã hội Iran. Điều này đặc biệt nguy hiểm vì Tân Lãnh đạo tối cao Mujtaba Hosseini Khamenei vẫn chưa hoàn toàn kiểm soát được quyền lực, đồng thời không có được uy tín và kinh nghiệm như người cha quá cố của mình (người đã lãnh đạo đất nước gần 37 năm). 

Tóm lại, ngay cả khi Iran vượt qua được cuộc chiến này, họ vẫn sẽ đối mặt với thách thức và phải thực hiện những cải cách đau đớn không thể tránh khỏi, điều này mang lại rủi ro chính trị và sự bất định rất lớn cho bất kỳ ai cầm quyền tại Tehran.

2. Mỹ: Một thắng lợi ngoại giao tương tự như chiến dịch Venezuela sẽ không xảy ra

Cho đến nay, theo các nguồn tin từ Mỹ, các cuộc tấn công trả đũa của Iran đã làm hư hại 17 cơ sở quân sự và ngoại giao của Mỹ tại Trung Đông, khiến 140 binh sĩ bị thương và 8 người thiệt mạng 
(có thể đã đánh giá thấp số người chết). Nếu xung đột tiếp diễn, thương vong của quân đội Mỹ có thể còn tăng cao hơn nữa.

Chỉ trong 6 ngày đầu của cuộc chiến, người đóng thuế Mỹ đã phải chi hơn 11,3 tỷ USD, chủ yếu cho đạn dược, các chiến dịch không quân và triển khai hải quân. Theo ước tính hiện nay mức phí 800 - 900 triệu USD mỗi ngày, tổng chi phí rất có thể sẽ vượt quá hàng chục tỷ USD, chưa kể đến chi phí chăm sóc cựu chiến binh dài hạn, bổ sung trang thiết bị và tổn thất kinh tế gián tiếp. Rõ ràng, chiến tranh sẽ có tác động tiêu cực lâu dài đối với kinh tế Mỹ, bao gồm giá dầu trong nước tăng, lạm phát cao, tăng trưởng chậm lại và nợ quốc gia lập kỷ lục mới. Không ngạc nhiên khi đa số người Mỹ không ủng hộ các cuộc không kích quy mô lớn vào Iran, nghi ngờ chiến lược Trung Đông tổng thể của Trump, lo ngại xung đột kéo dài và phản đối gay gắt bất kỳ chiến dịch bộ binh quy mô lớn nào tại Iran.

Về lý thuyết, Tổng thống Trump có thể tuyên bố "chiến thắng" bất cứ lúc nào, lập luận rằng mục tiêu của chiến dịch quân sự chống lại Iran đã thành công. Ông có thể khẳng định chương trình hạt nhân của Iran đã chịu bước lùi mang tính hủy diệt, Tehran đã mất đi gần như toàn bộ năng lực tên lửa đạn đạo, toàn bộ hải quân và hệ thống phòng không. Còn về ý định thúc đẩy thay đổi chế độ tại Iran, ông có thể gác lại hoặc thậm chí từ bỏ hoàn toàn; Trump có thể biện hộ rằng tương lai của Iran hiện giờ nên do người dân Iran quyết định. Tuy nhiên, nếu cố gắng rút lui, Trump sẽ đối mặt với rủi ro bị chỉ trích kép: phe diều hâu trong nước sẽ cáo buộc ông "chưa làm đến nơi đến chốn", trong khi phe bồ câu sẽ khăng khăng rằng toàn bộ chiến dịch ngay từ đầu đã được trù tính kém cỏi và phản tác dụng.

Mặt khác, nếu các hành động của Mỹ chống lại Iran tiếp tục, cái giá mà Mỹ phải trả bằng máu và tiền bạc sẽ tăng vọt và có thể sớm chạm mức không thể chịu đựng được. Một cuộc chiến vùng Vịnh kéo dài và tiêu tốn nguồn lực sẽ hạn chế khả năng của Trump trong việc xử lý các cuộc khủng hoảng quốc tế cấp bách khác, làm tổn hại đến hình ảnh tự xưng là "người duy trì hòa bình" của ông, và có thể dẫn đến thất bại của Đảng Cộng hòa trong cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ vào tháng 11 năm nay. Nói ngắn gọn, Trump không có một chiến lược rút lui lý tưởng trong xung đột này; đây sẽ không phải là một thắng lợi ngoại giao tương tự như chiến dịch tại Venezuela.

3. Israel: Chi phí cho chiến tranh không lớn, nhưng tương lai phải đối mặt với làn sóng bài Israel dâng cao

Nhờ hệ thống phòng không hiệu quả và các đòn đánh phủ đầu, tổn thất của Israel so với Iran hiện vẫn tương đối hạn chế, nhưng đã bao gồm thương vong dân sự và quân sự do các cuộc tấn công tên lửa của Iran. Chỉ trong những ngày đầu tháng 3 năm 2026, ít nhất 13 - 15 người Israel đã thiệt mạng và khoảng 2.000 người bị thương. Mặc dù hàng chục mục tiêu trong lãnh thổ Israel (bao gồm khu dân cư, sân bay Ben-Gurion và các cơ sở quân sự) bị tấn công, nhưng thiệt hại dường như khá hạn chế. Cái giá kinh tế của Israel bao gồm lạm phát và thâm hụt ngân sách cao hơn, thiếu hụt năng lượng và vật tư y tế, tác động tiêu cực của việc huy động quân dự bị đối với kinh tế; những cái giá này tuy cao nhưng không phải là không thể chịu đựng.

Bất chấp những cái giá này, xét cho cùng, Israel dường như là bên hưởng lợi ròng không thể tranh cãi trong xung đột này. Nhiều người thậm chí tin rằng Thủ tướng Benjamin Netanyahu là kẻ xúi giục chính, người đã liên tục kéo chính quyền Trump vào cuộc. Iran càng chịu nhiều tổn hại (quân sự, kinh tế, hạ tầng, xã hội, chính trị), thì càng có lợi cho giới lãnh đạo Israel. Sự hỗn loạn tại khu vực cũng cho phép Israel thực hiện các chiến dịch quân sự xâm lược tại dải Gaza, Bờ Tây và đặc biệt là miền Nam Lebanon.

Ngoài ra, các cuộc tấn công của Iran vào các nước Ả Rập vùng Vịnh có thể tạo động lực mạnh mẽ để đẩy nhanh tiến trình "Hiệp định Abraham", thúc đẩy một số quốc gia vùng Vịnh có thái độ thù địch nhất với Iran xích lại gần quốc gia Do Thái vì lo sợ sự xâm lược của Iran.

Tuy nhiên, thật khó tin rằng kết quả của xung đột này (giả sử không bao gồm việc thay đổi chế độ tại Iran để tạo ra một chính phủ thân phương Tây, thân Israel) có thể giải quyết tất cả các vấn đề an ninh của Israel. Ngược lại, có thể dự đoán một cách logic rằng một trong những kết quả rõ ràng nhất của cuộc khủng hoảng này sẽ là làn sóng bài Israel lại dâng cao, không chỉ ở chính Iran, mà còn ở tất cả các nước Hồi giáo xung quanh Israel. Những tâm lý này không chỉ gây ra căng thẳng chính trị hay ngoại giao, mà còn dẫn đến việc gia tăng các vụ tấn công khủng bố nhằm vào người Israel trong nước và người Do Thái trên toàn cầu. Có thể dự báo các nhóm chính trị cực đoan như Hamas và Hezbollah sẽ trỗi dậy trở lại, cố gắng gây ra nỗi đau tối đa cho Israel để trả thù cho những thương vong và đau khổ to lớn của người Hồi giáo. Tóm lại, Israel sẽ phải sống trong một môi trường cực kỳ mất an ninh trong nhiều năm tới.

4. Thế giới Ả Rập: Nghi ngại về sự bảo đảm an ninh của Mỹ tái hiện

Thế giới Ả Rập hiện đang rơi vào tình thế lưỡng nan. Đa số các quốc gia Ả Rập đã nỗ lực hết sức để tránh bị cuốn trực tiếp vào cuộc đối đầu hiện tại và hạn chế tối đa cái giá đi kèm không thể tránh khỏi của cuộc đối đầu này. Tuy nhiên, sự trung lập không mang lại cho họ nhiều lợi ích: các cuộc tấn công của Iran đã đánh vào các thành phố của UAE, các nhà máy lọc dầu của Saudi Arabia, các khách sạn và khu dân cư ở Qatar, cũng như các cơ sở quân sự của Mỹ rải rác khắp vùng Vịnh, gây ra tổn thất hàng chục tỷ USD ngay trong những ngày đầu xung đột.

Một mặt, những cuộc tấn công bất ngờ và chưa từng có này của Iran đã buộc các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC) phải từ bỏ nỗ lực giữ trung lập trước đó, chuyển sang tìm kiếm liên minh chặt chẽ hơn với Mỹ và Israel. 

Mặt khác, nhiều quốc gia Ả Rập cảm thấy lo ngại khi Washington ưu tiên Israel hơn các đối tác Mỹ khác trong khu vực về viện trợ phòng thủ và chia sẻ tình báo. Nghi ngờ về độ tin cậy trong sự bảo đảm an ninh của Mỹ và cam kết tổng thể của Mỹ đối với khu vực này lại trỗi dậy. Đa số các quốc gia Ả Rập vẫn chưa sẵn sàng cắt đứt hoàn toàn với Tehran và có thái độ hoài nghi đối với bất kỳ mô hình "NATO phiên bản Ả Rập" chống Iran nào, đặc biệt nếu liên minh chính trị - quân sự đó bao gồm mối quan hệ an ninh chặt chẽ với Israel.

Xung đột càng kéo dài, cái giá của sự đối đầu đối với các quốc gia nằm gần tâm chấn chiến tranh càng cao. Đối với các nước sản xuất dầu khí chính vùng Vịnh, sự hỗn loạn trong lĩnh vực năng lượng do các cơ sở sản xuất bị hư hại và sự gián đoạn tuyến vận tải qua eo biển Hormuz là những tác động tiêu cực rõ rệt nhất. Lưu lượng du lịch quốc tế và trung chuyển hàng không qua Doha, Dubai, Kuwait... giảm mạnh là một cú sốc trực tiếp khác.

Về lâu dài, hình ảnh quốc tế của UAE hay Saudi Arabia, vốn được xem là những đảo quốc ổn định bất khả xâm phạm trong một thế giới đầy biến động, đã bị tổn hại nghiêm trọng. Một kết quả khả dĩ khác của xung đột đối với các quốc gia Ả Rập là nỗi lo ngại của họ về tham vọng bá quyền khu vực của Israel ngày càng tăng; vụ tấn công của Israel vào Doha hồi tháng 9 năm 2025 vẫn còn mới nguyên trong ký ức và nỗi đau. Những lo ngại này có thể làm chậm đáng kể hoặc thậm chí cản trở bất kỳ tiến triển nào tiếp theo của "Hiệp định Abraham" (đặc biệt là khi không có tiến triển rõ rệt trong việc giải quyết công bằng vấn đề Palestine).

5. Châu Âu: Bị chia rẽ thêm nữa

Cuộc khủng hoảng Trung Đông đối với châu Âu không mang lại lợi lộc gì nhưng lại gây tổn thất nặng nề. Rõ ràng, chính quyền Trump đã không tham khảo ý kiến của các đồng minh châu Âu trước khi tấn công Iran, điều này cho thấy rõ sự bất đối xứng nghiêm trọng trong quan hệ xuyên Đại Tây Dương. 

Tuy nhiên, Mỹ vẫn khăng khăng mình có quyền sử dụng các cơ sở hạ tầng quân sự và hậu cần của châu Âu trong khu vực, đồng thời mong đợi sự tham gia của châu Âu. Các đồng minh NATO của Mỹ đã phóng hàng trăm tên lửa đánh chặn để ứng phó với tên lửa Iran nhắm vào Israel và các căn cứ Mỹ trong khu vực, làm tiêu hao 20 - 30% kho dự trữ tên lửa Patriot và Arrow của họ. Việc vận chuyển tên lửa của Mỹ sang châu Âu bị chuyển hướng sang ưu tiên bảo đảm cho Trung Đông, dẫn đến việc giao hàng cho châu Âu bị trì hoãn từ 3 - 6 tháng, thậm chí lâu hơn.

Châu Âu ngày càng lo lắng rằng khi chiến sự ở Trung Đông tiếp diễn, Mỹ có thể giảm bớt các cam kết ở sườn Đông NATO. Những lo ngại này có thể chia rẽ EU thêm nữa và kích thích các cuộc thảo luận về cách châu Âu tăng cường "tự chủ chiến lược" so với Mỹ.

Pháp và Đức ủng hộ sự kiềm chế và sử dụng các biện pháp ngoại giao khi giải quyết khủng hoảng, chỉ trích Trump leo thang xung đột mà không tham vấn, trong khi đa số các nước Trung Âu và Anh lại ủng hộ nhất quán các hành động quân sự của Mỹ - Israel. Tây Ban Nha là một trong những nước chỉ trích Mỹ gay gắt nhất trong EU, kiên quyết từ chối cho quân đội Mỹ sử dụng căn cứ Rota và Morón cho các chiến dịch quân sự.

Về kinh tế, châu Âu chịu ảnh hưởng từ việc giá dầu và khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG) tăng vọt có thể nghiêm trọng hơn bất kỳ khu vực lớn nào khác trên thế giới. Chỉ tính riêng cú sốc ngắn hạn đã bao gồm việc tăng chi phí nhập khẩu nhiên liệu và tổn thất thương mại từ 20 - 50 tỷ Euro, lạm phát tăng 0,5 - 1% khiến Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB) phải tạm dừng cắt giảm lãi suất. Nhưng tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng dường như sẽ đồng hành với châu Âu trong thời gian dài, tổng cái giá của cuộc khủng hoảng sẽ cao hơn nhiều, không chỉ giới hạn ở việc tăng giá năng lượng và tăng trưởng chậm lại.

Ví dụ, nếu xung đột dẫn đến một lượng lớn người di cư không giấy tờ từ khu vực Trung Đông (không chỉ từ Iran mà còn từ Lebanon, Iraq, Yemen, v.v.) tràn ra, khu vực EU rất có thể sẽ trở thành điểm đến chính, như đã từng xảy ra nhiều lần trong quá khứ. Trớ trêu thay, khả năng ảnh hưởng đến tiến trình xung đột của các quốc gia châu Âu lại rất hạn chế; trong tương lai gần, vai trò chính trị và ngoại giao của các nước châu Âu tại Trung Đông rất có thể chỉ dừng lại ở mức bên lề.

6. Nga: Lợi ích ngắn hạn, ảnh hưởng lâu dài có hạn

Điện Kremlin thường được coi là bên hưởng lợi chính ngoài khu vực trong xung đột này. Thực tế, xung đột Mỹ - Israel - Iran đã làm chệch hướng sự chú ý của dư luận quốc tế khỏi xung đột Nga - Ukraine, làm trầm trọng thêm nhu cầu cạnh tranh đối với các loại vũ khí tiên tiến nhất của Mỹ vốn có thể được chuyển đến Ukraine, và có thể hạn chế thêm các nguồn lực tài chính của châu Âu dành cho việc hỗ trợ Kiev trong giai đoạn 2026 - 2027. Ngoài ra, tình trạng thiếu hụt tương đối dầu khí trên thị trường toàn cầu do gián đoạn vận tải tại eo biển Hormuz đã làm tăng nhu cầu đối với hydrocarbon của Nga, điều này có thể giúp thu nhập từ xuất khẩu năng lượng hàng năm của Moscow tăng thêm 400 - 500 tỷ USD.

Nỗi lo ngại của Mỹ về tình trạng thiếu hụt dầu khí có thể xảy ra đã buộc chính quyền Trump phải tạm thời nới lỏng một phần các lệnh trừng phạt năng lượng đối với Nga, tạo ra một tiền lệ quan trọng. Cuối cùng, trong bối cảnh bất định và thách thức chiến lược ngày càng tăng, cuộc khủng hoảng này khiến Moscow trở nên quan trọng hơn đối với các đối tác chính ở châu Á, trước hết là Bắc Kinh và New Delhi, vừa là nhà cung cấp năng lượng đáng tin cậy, vừa là đối tác địa chính trị đáng tin cậy. Trong trường hợp thuận lợi, Moscow thậm chí có thể thử đóng vai trò trung gian hòa giải giữa các bên xung đột.

Tuy nhiên, tác động lâu dài của cuộc khủng hoảng đối với Nga trông có vẻ ảm đạm hơn nhiều. Thứ nhất, phía Tehran có thể cảm thấy không hài lòng về sự hỗ trợ quân sự không đầy đủ từ đối tác chiến lược của mình. Một lo ngại phổ biến trong nội bộ Iran là Điện Kremlin chỉ coi quan hệ với Iran như một con bài mặc cả trong ván cờ lớn hơn với Washington; nếu điều kiện phù hợp, Nga có thể hy sinh lợi ích của Iran để cải thiện quan hệ Nga - Mỹ. 

Mặt khác, nếu Moscow tăng cường viện trợ cho Tehran (ví dụ: chia sẻ tình báo nhạy cảm về hoạt động của quân đội Mỹ trong khu vực), điều đó có thể gây nguy hiểm cho tiến trình hòa dịu Nga - Mỹ vốn khá mong manh hiện nay, đặc biệt là trong trường hợp số lượng nhân viên quân sự Mỹ tử vong có thể tăng lên. Sự thay đổi trong chính sách trừng phạt của Mỹ đối với Nga có thể chỉ mang tính chiến thuật chứ không phải chiến lược.

Về việc giá dầu tăng, thật khó tin rằng đây là một xu hướng lâu dài; một khi cuộc đối đầu quân sự gay gắt tại eo biển Hormuz kết thúc, giá dầu có thể nhanh chóng sụt giảm. Cuối cùng, sự suy yếu không thể tránh khỏi của Iran có thể gây tác động bất lợi đến tương lai hợp tác kinh tế Nga - Iran cũng như các sáng kiến đa phương liên quan đến hai nước (BRICS, SCO, hành lang vận tải "Bắc - Nam", hiệp định thương mại tự do giữa Iran và Liên minh Kinh tế Á - Âu, v.v.).


7. Trung Quốc: Thử thách năng lực quản trị rủi ro và cơ hội khẳng định "Giải pháp thay thế"

Nếu Nga được xem là bên hưởng lợi gián tiếp về quân sự, thì Trung Quốc lại đang đối mặt với một bảng cân đối phức tạp giữa rủi ro kinh tế và lợi thế địa chính trị dài hạn.

Rủi ro an ninh năng lượng và kinh tế: Trung Quốc là khách hàng mua dầu lớn nhất của Iran và các nước vùng Vịnh. Việc eo biển Hormuz bị gián đoạn và giá năng lượng tăng vọt trực tiếp gây áp lực lên chi phí sản xuất nội địa của Bắc Kinh. Khác với Mỹ đã tự chủ năng lượng, nền kinh tế Trung Quốc cực kỳ nhạy cảm với biến động tại Trung Đông. Hơn nữa, các dự án trong sáng kiến "Vành đai và Con đường" (BRI) tại khu vực này đang đứng trước nguy cơ bị đình trệ hoặc hủy hoại do hỏa lực.

Sự phá sản của "Mô hình ổn định kiểu Mỹ": Ở góc độ chiến lược, cuộc chiến này là một "món quà" về mặt tuyên truyền cho Bắc Kinh. Việc Mỹ trực tiếp tấn công Iran sau khi đã thất bại trong việc mang lại hòa bình lâu dài cho khu vực giúp Trung Quốc củng cố lập luận rằng: "Sự hiện diện quân sự của Mỹ là nguồn cơn gây bất ổn". Đây là cơ hội để Bắc Kinh quảng bá "Sáng kiến An ninh Toàn cầu" (GSI), nhấn mạnh vào đối thoại và phát triển kinh tế thay vì liên minh quân sự.

Thế tiến thoái lưỡng nan về vai trò hòa giải: Trung Quốc từng thành công rực rỡ khi môi giới cho Saudi Arabia và Iran xích lại gần nhau vào năm 2023. Tuy nhiên, cuộc chiến tổng lực hiện tại đẩy Bắc Kinh vào thế khó: Nếu đứng hẳn về phía Iran, họ sẽ làm mất lòng các đối tác Ả Rập đang bị Iran tấn công trả đũa; nếu im lặng, vai trò "cường quốc có trách nhiệm" sẽ bị nghi ngờ. Việc Trung Quốc chọn bỏ phiếu trắng tại Hội đồng Bảo an (Nghị quyết 2817) cho thấy họ đang cố gắng đi trên dây để giữ cân bằng giữa các bên.

Lợi thế tại Đông Á: Việc Mỹ bị hút cạn tài nguyên và sự chú ý vào Trung Đông tạo ra một "khoảng trống chiến lược" tại Thái Bình Dương. Trung Quốc có thể tận dụng thời điểm này để tăng cường ảnh hưởng tại Chuỗi đảo thứ nhất mà không lo ngại sự can thiệp toàn lực từ Washington. Tuy nhiên, Bắc Kinh đủ tỉnh táo để hiểu rằng, nếu họ quá lấn lướt tại Đông Á lúc này, Mỹ có thể lấy đó làm cớ để rút nhanh khỏi Trung Đông nhằm quay lại đối phó với "đối thủ cạnh tranh số 1".

Tóm lại: Đối với Trung Quốc, cuộc chiến này là một "cơn đau đầu về kinh tế" nhưng lại là "cơ hội vàng về chiến lược". Bắc Kinh sẽ tiếp tục đóng vai trò "người quan sát có thiện chí", kêu gọi kiềm chế, tận dụng năng lượng giá rẻ từ Nga và chờ đợi sự suy yếu tự nhiên của tầm ảnh hưởng Mỹ tại Trung Đông.


8. Hệ thống quốc tế: Sự cân bằng đã bị phá vỡ, điều phối gần như không thể

Rõ ràng các hành động thù địch hiện nay tại Trung Đông bắt đầu từ vụ tấn công của Hamas vào Israel ngày 7 tháng 10 năm 2023 đã phá hủy sâu sắc cấu trúc an ninh khu vực cũ. Nhiều sự cân bằng quyền lực truyền thống (giữa người Israel và người Palestine, người Kurd và người Thổ Nhĩ Kỳ, người Ả Rập và người Ba Tư, giữa dòng Sunni và dòng Shiite) đã bị phá vỡ. Ngay cả trong kịch bản tốt nhất, việc khôi phục những sự cân bằng này, nếu còn có thể khôi phục, dường như cũng cần một thời gian rất dài.

Nếu điều này là đúng, chúng ta có thể rút ra kết luận: Khu vực này trong nhiều năm tới vẫn có thể là cái nôi của các cuộc khủng hoảng và xung đột. Ngay cả khi cuộc chiến hiện tại kết thúc trong vài tuần tới, nó cũng không mang lại một nền hòa bình lâu dài. Thật không may, tất cả các kế hoạch vĩ mô về việc ổn định Trung Đông, như đề xuất thiết lập hệ thống an ninh tập thể khu vực, đều trở nên phi thực tế hoặc không khả thi. Nhiều nhất chỉ có thể hy vọng đạt được các thỏa thuận mang tính chiến thuật, tình huống để ứng phó với các khía cạnh cụ thể của đa tầng thách thức an ninh khu vực.

Nếu tất cả các thực thể bên ngoài chính có thể điều phối phương châm của họ đối với khu vực, tình hình tổng thể có thể phát triển theo hướng tốt đẹp. Tuy nhiên, trong thời đại cạnh tranh giữa các cường quốc diễn ra gay gắt, sự điều phối này gần như là không thể.

Các cuộc thảo luận gần đây tại Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc về việc giải quyết xung đột Trung Đông phản ánh những bất đồng căn bản bên trong nhóm các nước ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an. Cuối cùng, Nga và Trung Quốc đã chọn bỏ phiếu trắng thay vì phủ quyết nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc (số 2817, thông qua ngày 11 tháng 3 năm 2026) do Mỹ ủng hộ, yêu cầu Iran ngừng các cuộc tấn công vào các quốc gia vùng Vịnh. Cả Moscow và Bắc Kinh đều chưa sẵn sàng ủng hộ đề xuất do Mỹ dẫn dắt, chủ yếu vì nội dung văn bản mang tính phiến diện, không đề cập đến các cuộc tấn công của Mỹ - Israel; lý do chính để không phủ quyết nghị quyết là nhằm tránh làm mất lòng các đối tác Ả Rập vùng Vịnh.

Hiện tại, lợi ích của các cường quốc ngoài khu vực hoạt động tại đây không thể điều hòa; khả năng họ đạt được sự đồng thuận về một sự sắp xếp an ninh khu vực phù hợp nhất là rất thấp. Do đó, các thực thể bên ngoài không những không phải là một phần của giải pháp, mà ngược lại còn có thể trở thành một phần của vấn đề.

Tất cả những điều này có nghĩa là, Trung Đông sẽ tiếp tục trở thành nguồn gốc gây bất ổn ảnh hưởng đến các khu vực khác trên thế giới (bao gồm Nam Á, Trung Á, Nam Caucasus, Bắc Phi và thậm chí cả châu Âu). 
Trung Đông sẽ xuất khẩu sự bất ổn thông qua các mạng lưới cực đoan xuyên biên giới, các dòng người di cư không giấy tờ quy mô lớn và các khí tài quân sự. Hơn nữa, không thể tách rời sự bất ổn của khu vực này khỏi phần còn lại của thế giới.

Đồng thời, phần còn lại của thế giới sẽ tiếp tục cần đến Trung Đông, không chỉ coi đây là một trong những nguồn cung cấp hydrocarbon chính, mà còn coi đây là một không gian kinh tế - xã hội đầy sức sống, và là một trong những động lực thúc đẩy sự phát triển toàn cầu trong những năm tới.

Tổng hợp từ nhiều nguồn.

Xem thêm:  https://baotintuc.vn/the-gioi/nguy-co-chien-su-trung-dong-keo-dai-de-doa-trien-vong-kinh-te-toan-cau-20260318173822145.htm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét