Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2026

Tôn trọng Quyền Tự Quyết và Sự Đa dạng Văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc

Tôn trọng Quyền Tự Quyết và Sự Đa dạng Văn hóa của mỗi quốc gia, dân tộc
Đọc những bình luận của nhiều bạn trong trang này của tôi lên án chế độ Iran hiện nay và ủng hộ cuộc xâm lược của Mỹ và Israel vào Iran nhằm thay đổi chế độ và kiểm soát tài nguyên của đất nước này, tôi thấy nguyên nhân chủ yếu là các bạn ghét chế độ này hạn chế quyền con người, nhất là bắt phụ nữ phải che tóc và mặc trang phục kín đáo khi ra nơi công cộng. 
Theo tôi ý kiến như thế dường như mang tính áp đặt của những người không hiểu về lịch sử và văn hóa Iran nên có thể không công bằng với người Iran. Nó cũng giống như người phương Tây luôn luôn muốn áp đặt các tiêu chuẩn tự do, dân chủ, dân quyền theo quan niệm của họ vào đất nước ta. 

Theo tư duy của người Việt, việc buộc phụ nữ phải che mặt hoặc tuân thủ quy định trang phục theo luật tôn giáo là điều khó chấp nhận, thậm chí bị phản đối mạnh mẽ. Tuy nhiên, nếu nhìn từ góc độ quyền tự quyết quốc gia và bản sắc dân tộc, thì ở Iran, đây là một phần trong hệ thống giá trị văn hóa – tôn giáo đã hình thành qua nhiều thế hệ. Đối với nhiều người dân Iran, những quy định này không chỉ là luật pháp mà còn là biểu hiện của niềm tin và bản sắc, mang ý nghĩa và giá trị truyền thống theo văn hóa của họ. Việc áp đặt tiêu chuẩn bên ngoài khi không hiểu về họ để phán xét họ có thể dẫn đến sự hiểu lầm và thái độ thiếu tôn trọng đối với chủ quyền văn hóa của họ.

Trong một thế giới ngày càng toàn cầu hóa, việc đánh giá các nền văn hóa khác nhau luôn là một vấn đề nhạy cảm. Nhiều người có xu hướng sử dụng tiêu chuẩn của chính mình để phán xét xã hội khác, đặc biệt khi những tập quán đó liên quan đến tự do cá nhân. Tuy nhiên, một cách tiếp cận công bằng hơn là nhìn nhận mỗi quốc gia trong bối cảnh lịch sử, tôn giáo và cấu trúc xã hội riêng của họ, từ đó tôn trọng quyền tự quyết văn hóa.

Ở Iran. Sau Cách mạng Hồi giáo năm 1979, nhà nước Iran quy định phụ nữ phải tuân thủ quy tắc trang phục Hồi giáo, bao gồm việc che tóc và mặc trang phục kín đáo khi ra nơi công cộng vừa mang tính tôn giáo,  nhưng vừa có ý nghĩa xã hội nào đó. Dĩ nhiên, không phải
tất cả người dân Iran đều chấp nhận quy định này như một niềm tin. Thực tế, có nhiều phụ nữ Iran cũng phản đối. Vấn đề là ngay cả khi có tranh cãi nội bộ, giải pháp cũng phải đến từ đối thoại nội bộ chứ không phải xâm lược áp đặt từ nước ngoài.

Đối với nhiều người bên ngoài, đặc biệt là ở các xã hội phương Tây hoặc Việt Nam, quy định này bị xem là hạn chế tự do cá nhân. Tuy nhiên, trong bối cảnh Iran, đây không chỉ là một quy định hành chính mà còn gắn chặt với bản sắc tôn giáo, đạo đức xã hội và lịch sử chính trị của quốc gia này.

Điểm đáng chú ý là: nhà nước Iran không chỉ “khuyến khích” mà còn yêu cầu người dân tuân thủ chuẩn mực văn hóa đó thông qua hệ thống pháp luật và bộ máy thực thi. Điều này thường gây phản cảm với người ngoài, nhưng nếu nhìn rộng hơn, đây không phải là hiện tượng quá xa lạ trong quản trị xã hội. Ở nhiều nền văn minh phương Tây, cũng có nhiều quy định luật pháp khiến người Việt Nam cũng có thể rất bất mãn, như coi chó hơn người, đối xử thiếu văn minh với chó bị phạt rất nặng, thậm chí có thể còn bị vào tù.

So sánh với Việt Nam, ta sẽ thấy một logic tương tự, dù biểu hiện khác nhau. Ở tầm quốc gia, nhà nước ta cũng có những quy định quản lý xã hội mà người phương Tây cho là khó hiểu, thậm chí không thể chấp nhận được trong con mắt của họ. Nhiều người Việt cũng không tán thành, nhưng cả xã hội vẫn phải chấp hành. 

Ở tầm địa phương, Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 cộng đồng cùng tồn tại. Hiến pháp khẳng định rõ: các dân tộc có quyền bảo tồn phong tục, tập quán và bản sắc văn hóa của mình, đồng thời nhà nước có trách nhiệm tôn trọng và tạo điều kiện cho điều đó .

Trên thực tế, nhiều phong tục của cả các dân tộc thiểu số lẫn người Kinh có thể bị nhìn nhận là “không tiến bộ” hoặc “khó chấp nhận” dưới góc nhìn hiện đại. Có thể lấy một số ví dụ sau dù chưa tiêu biểu:

Một số nơi ngày trước từng tồn tại tục “bắt vợ”, hôn nhân mang tính ép buộc, vi phạm pháp luật
và bị nhà nước bài trừ, nhưng không biết đến bây giờ đã xóa bỏ được hết chưa ?

Các nghi lễ cúng bái, mê tín hoặc tập quán tốn kém được quy định 
trong một số cộng đồng, đa số người dân thấy phi lý và lãng phí, thậm chí lên án, nhưng không làm theo không được, nhất là khi thấy những người có địa vị cao trong xã hội vẫn làm.

Quan niệm trọng nam khinh nữ tồn tại trong một số cộng đồng, 
vi phạm pháp luật và bị nhà nước bài trừ, nhưng trong thực tế đến nay chắc chưa phải đã hết, nhiều trường hợp vi phạm không bị xử lý.

Những quy tắc làng xã mang tính áp đặt mạnh mẽ lên cá nhân mà cá nhân không chấp hành không được.

Dù vậy, trong nhiều trường hợp, nhà nước Việt Nam không xóa bỏ ngay lập tức, mà lựa chọn cách quản lý mềm dẻo: vừa công nhận và duy trì, vừa từng bước điều chỉnh thông qua giáo dục, pháp luật và phát triển kinh tế – xã hội; nhờ đó đến nay gần như đã xóa bỏ được hầu hết các hủ tục.

Trong đời sống nông thôn, một số “luật tục”, "hương ước", "phép vua thua lệ làng"..., tức các quy tắc truyền thống của cộng đồng, vẫn đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh hành vi xã hội và được nhà nước thừa nhận hoặc ngầm thừa nhận ở mức độ nhất định, dù không phải ai trong cộng đồng đó cũng tán thành.

Nhà nước tôn trọng bản sắc dân tộc và văn hóa xã hội, nhưng kiên quyết loại bỏ các hủ tục vi phạm nhân quyền, và đó là nhân quyền theo quan điểm của  nhà nước và góc nhìn của người Việt Nam chứ không phải thứ nhân quyền của phương Tây.

Ở đây xuất hiện một điểm tương đồng rất đáng suy nghĩ:

Iran yêu cầu phụ nữ choàng khăn trở thành một chuẩn mực văn hóa – tôn giáo được nhà nước thể chế hóa;

Việt Nam vẫn có những phong tục truyền thống mà nhiều người Việt Nam cũng nhận thấy 
không hợp lý. Đôi khi chúng cũng khác với những chuẩn mực văn hóa thế giới, nhất là văn hóa phương Tây, nhưng vẫn được nhà nước dung hòa và quản lý.

Cả hai đều phản ánh một thực tế: Nhà nước không chỉ quản lý bằng luật pháp “trung lập” để hài hòa văn hóa của toàn dân, mà còn tham gia định hình và bảo vệ các giá trị văn hóa chung mà nhà nước coi là nền tảng xã hội.

Vấn đề nằm ở chỗ chúng ta thường dễ chấp nhận trường hợp của chúng ta (vì gần gũi hoặc “nhẹ nhàng” hơn), cứ im lặng chấp hành, nhưng lại phản đối mạnh mẽ những chuyện ở Iran, dù về bản chất, cả hai đều liên quan đến việc nhà nước can thiệp vào đời sống văn hóa – xã hội của cá nhân.

Điều này đặt ra một câu hỏi quan trọng: Liệu chúng ta đang đánh giá một cách khách quan, hay chỉ đang áp dụng tiêu chuẩn quen thuộc của mình lên người khác?

Dĩ nhiên, cần thừa nhận rằng không phải mọi tập quán đều nên được bảo vệ vô điều kiện. Tuy nhiên, quá trình thay đổi nên đến từ bên trong mỗi xã hội, thay vì bị áp đặt từ bên ngoài, nhất là thông qua các cuộc chiến tranh xâm lược.

Kết luận


Từ Iran đến Việt Nam, có thể thấy rằng mỗi quốc gia đều có cách riêng để cân bằng giữa truyền thống và hiện đại, giữa cá nhân và cộng đồng. Việc Iran yêu cầu phụ nữ choàng khăn hay Việt Nam chấp nhận sự tồn tại của những quy định, văn hóa, phong tục “khó hiểu” trong con mắt của người nước ngoài, thực chất đều phản ánh một nguyên tắc chung: Tôn trọng quyền tự quyết và sự đa dạng văn hóa và xã hội của các quốc gia, dân tộc.

Tôn trọng nguyên tắc này không có nghĩa là từ bỏ phê phán, mà là đặt sự phê phán trong một thái độ hiểu biết và khiêm tốn. Chỉ khi nhìn nhận các xã hội và nền văn hóa trong chính bối cảnh lịch sử của chúng, chúng ta mới có thể tránh được sự áp đặt và tiến gần hơn tới một thế giới thực sự đa dạng nhưng vẫn tôn trọng và thương yêu lẫn nhau.

https://daibieunhandan.vn/iran-thong-qua-luat-trang-phuc-10353881.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét