Thứ Tư, 18 tháng 3, 2026

Chiến tranh Mỹ - Iran và cơ hội cho Trung Quốc

Chiến tranh Mỹ - Iran và cơ hội cho Trung Quốc
Tác giả: Ngạn Mặc Cây bút tự do tại Đài Loan.Lực lượng răn đe của Mỹ bị "xóa mã số", Chuỗi đảo thứ nhất bàng hoàng
Chuỗi đảo thứ nhất là một hàng rào phòng thủ liên hoàn của Mỹ và đồng minh để kiềm chế, bao vây Trung Quốc, trong đó Đài Loan là điểm yếu yếu nhất nhưng cũng là điểm trọng yếu nhất quyết định sự tồn tại của cả chuỗi.

Trong địa chính trị Đông Á và thế giới, Chuỗi đảo thứ nhất (First Island Chain) không chỉ là Đài Loan, mà là một hàng rào địa lý chạy dọc theo bờ biển phía Đông của lục địa Á-Âu. Cụ thể, chuỗi này bao gồm các khu vực chính sau: Phía Bắc gồm Quần đảo Kuril (Nga) và quần đảo Nhật Bản. Miền Trung gồm Quần đảo Ryukyu (Okinawa - Nhật Bản) và Đài Loan. Phía Nam gồm Miền bắc Philippines (đảo Luzon) và đảo Borneo (phần thuộc Malaysia và Indonesia).

Ảnh hưởng của cuộc chiến Mỹ - Israel - Iran đối với Chuỗi đảo thứ nhất là: lực lượng răn đe của Mỹ sụt giảm tốc độ cao, nhưng kinh doanh năng lượng lại hưởng lợi; Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippines và khu vực Đài Loan đồng thời chịu cú sốc kép về cả kinh tế lẫn an ninh. Tuy nhiên, trong cơn bàng hoàng, các vấn đề về đa dạng hóa năng lượng, phòng thủ vũ trang, thậm chí là "sở hữu hạt nhân" sẽ nhanh chóng nổi lên.

Tạm gác lại chuyện kinh tế thương mại và năng lượng, bài viết này tập trung thảo luận về phòng thủ vũ trang.

Bước sang tuần thứ ba của cuộc chiến Mỹ - Israel - Iran, có lẽ chỉ còn riêng Trump chưa nhận ra, hoặc từ chối tin rằng, cuộc chiến Trung Đông này có ảnh hưởng sâu sắc vượt xa những ảo tưởng tốt đẹp ban đầu khi quyết định khai chiến, là Mỹ và Israel cùng quản trị Trung Đông. Ngược lại, lực lượng răn đe vốn là nền tảng duy trì bá quyền của Mỹ đang bị thâm hụt nghiêm trọng, và điều này cả thế giới đều biết.

Chưa nói đến các khu vực khác, ngay tại Chuỗi đảo thứ nhất trong tầm mắt chúng ta, các mắt xích đều đang sợ hãi không ít. Việc "quốc gia tông chủ" miệng cứng nhưng nắm đấm mềm vốn đã là mối nghi ngờ sâu sắc của các nước chư hầu từ lâu, nhưng trước đây ít nhất bề ngoài vẫn còn có thể tỏ ra mạnh mẽ, bởi những điểm yếu mà Mỹ lộ ra vẫn còn ở trạng thái mờ nhạt, lực lượng răn đe vẫn tạm duy trì được. Nhưng giờ đây, Iran đã giải mã được bí ẩn: Một khi Mỹ trực tiếp ra tay, dù huy động sức mạnh cả nước Mỹ cũng không đảm bảo giải quyết được một khu vực đơn lẻ, thậm chí là một quốc gia đơn lẻ, huống hồ là răn đe toàn cầu.

Điều Chuỗi đảo thứ nhất sợ nhất không phải là sự sụt giảm lực lượng răn đe của Mỹ, mà là việc sự thật này đã trở thành nhận thức chung của toàn cầu.

Sự vỡ mộng và biến chất của "An ninh dựa vào Mỹ"

Từ chính sách "Xoay trục sang châu Á - Tái cân bằng" hay "Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở" cuối thời Obama đến nay chưa đầy 10 năm, nhưng cảm giác như những hào khí giả tạo và lời hứa suông từ trăm năm trước. "Bộ tứ kim cương" (QUAD) vốn cũng vang bóng một thời giờ đây đã hoàn toàn phá sản. Ngay cả chiến lược co cụm "Tập trung vào Tây bán cầu" mà Trump trưng ra như một động tác giả sau khi trở lại cũng bị nghiền nát tan tành trong cuộc chiến Mỹ - Israel - Iran, chỉ còn lại một đống hỗn độn.

Kể từ khi Washington rút khỏi TPP, lực lượng răn đe quân sự là sự hiện diện duy nhất còn sót lại của Mỹ ở Tây Thái Bình Dương. Chẳng cần nhìn đâu xa, chỉ cần xem biểu đạt lập trường của Singapore trong 10 năm qua là biết cái gọi là "duy nhất còn sót lại" không hề nói quá. Đối với Bắc Kinh, lựa chọn bắt cá hai tay của Singapore "Kinh tế dựa vào Trung Quốc, an ninh dựa vào Mỹ" vốn không hẳn là chuyện xấu, bởi chỉ cần kéo dài thời gian, cái trước sẽ xói mòn cái sau, và đó chính là một trong những nguồn gốc của "định lực chiến lược".

Biểu hiện của Trump từ khi tái đắc cử đến nay khiến "An ninh dựa vào Mỹ" dần không còn chỗ đứng. Chuỗi đảo thứ nhất chịu trận đầu tiên, bị buộc phải tự vũ trang, đổ tiền mở rộng quân đội, điều này ngược lại càng chứng minh cho sự cần thiết của "Kinh tế dựa vào Trung Quốc". Ví dụ rõ nhất là Philippines: trên Biển Đông va chạm nhỏ không ngừng, bộ mặt chư hầu hung hăng, nhưng sự phụ thuộc kinh tế thương mại vào Trung Quốc chỉ có tăng chứ không giảm.

Cho đến khi chiến tranh Mỹ - Israel - Iran nổ ra, số phận của nhóm các quốc gia vùng Vịnh đã biến ảo tưởng "An ninh dựa vào Mỹ" trực tiếp thành cơn ác mộng "nguồn cơn tai họa". Bảo đảm an ninh đâu chẳng thấy, trái lại còn trở thành thiệt hại đi kèm khi các căn cứ quân sự Mỹ bị tấn công, rồi ngay lập tức ảnh hưởng đến động mạch kinh tế. Bây giờ đi hỏi các quốc gia vùng Vịnh xem lực lượng răn đe của Mỹ là gì? Câu trả lời có lẽ sẽ khiến người ta cười ra nước mắt: lực lượng răn đe của Mỹ chính là lực lượng răn đe của Iran.

Khi căn cứ Mỹ trở thành nguồn cơn tai họa, lợi ích chư hầu sẽ biến mất trong một đêm. Chuỗi đảo thứ nhất càng đặc biệt như vậy, vì như đã nói ở trên, lực lượng răn đe là sự hiện diện hữu hình duy nhất của Mỹ tại Đông Á. Tương tự, lực lượng răn đe của Mỹ chính là lực lượng răn đe của Trung Quốc. Đạo lý này Nhật, Hàn, Phi và Đài Loan đều đã hiểu rõ từ lâu, điểm không ổn là bây giờ chuyện đã vỡ lở ra cho cả thế giới biết.

Ryukyu (Okinawa) thể hiện sự lo ngại sớm nhất, điều này hoàn toàn hợp lý. Nơi đây chính là căn cứ không quân Al Dhafra của Đông Á. Nếu chiến tranh nổ ra tại eo biển Đài Loan, Ryukyu sẽ là mục tiêu tên lửa lộ liễu nhất, là "hố thiên thạch khổng lồ" tiếp theo. Còn eo biển Đài Loan, eo biển Bashi, eo biển Miyako chính là eo biển Hormuz của ngày hôm nay.

Điều đáng suy ngẫm là hiện nay, "tác chiến bất đối xứng" có ý nghĩa hơn với ai?

Chiến thuật "tác chiến bất đối xứng" của Iran gần như giống hệt những gì Mỹ hình dung cho Đài Loan. Dư luận Hoa ngữ có trách nhiệm đã sớm dự báo tình cảnh "con nhím" của Iran hôm nay chính là thảm cảnh của Đài Loan mai sau. Tuy nhiên, tác chiến bất đối xứng của Iran gây thiệt hại nặng nề cho Mỹ - Israel và kinh tế toàn cầu, nhưng lại thể hiện một ý nghĩa hoàn toàn khác.

Mạng lưới phòng thủ tên lửa đắt đỏ không địch lại máy bay không người lái tự sát giá rẻ. "Vòm Sắt" hiện có của Israel, "Vòm Vàng" trong tưởng tượng của Mỹ, "Lá chắn Đài Loan" hay "Quần đảo tên lửa" của Ryukyu sẽ đối phó thế nào với phi đội UAV hùng hậu nhất hành tinh của Giải phóng quân Trung Quốc ? Đối tượng và nội dung của cái gọi là "bất đối xứng" có lẽ sau cuộc chiến này sẽ mang ý nghĩa hoàn toàn khác.

Đó mới chỉ là tầng lo âu thứ nhất của "An ninh dựa vào Mỹ". Còn tầng thứ hai, tài sản của quân đội Mỹ tại Đông Á bị coi là "dư thừa" khi có chiến tranh ở khu vực khác.

Để phục vụ nhu cầu chiến tranh Mỹ - Israel - Iran, Mỹ đã điều động tài sản quân sự từ các khu vực khác, trong đó số lượng và quy mô lớn nhất là từ khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, tiếp theo là châu Âu, rồi mới đến nội địa Mỹ.

Nhìn chung, đợt tăng binh Trung Đông lần này là cuộc tập trung quân lực lớn nhất của Mỹ kể từ chiến tranh Iraq năm 2003, tổng cộng hơn 2 cụm tác chiến tàu sân bay, hơn 13 tàu khu trục, hàng trăm chiến đấu quân và lượng lớn tên lửa đánh chặn, trong đó khí tài từ chiến khu Ấn Thái là nhiều nhất.

Cụm tác chiến tàu sân bay, tàu đổ bộ, thủy quân lục chiến, chiến đấu cơ, hệ thống phòng thủ tầm cao THAAD, hệ thống Patriot, máy bay tiếp dầu... lần lượt bị điều sang chiến trường Trung Đông mà không hề thông báo cho các nước chư hầu. Hàn Quốc không nén nổi lời phàn nàn, Nhật Bản không dám lên tiếng, quan chức Philippines vờ như không có chuyện gì, nhưng phe đối lập tại đó đang dấy lên làn sóng bài Mỹ.

Là một trong những khu vực hòa bình nhất thế giới, Đông Á bị coi là "thừa thãi khí tài" là lẽ đương nhiên, nhưng việc quân đội Mỹ liên tục điều động nguồn lực vùng này sang Trung Đông đã phản ánh đúng bản chất hiếu chiến "không có việc cũng tìm việc" và sự kiệt quệ về binh lực của Mỹ.

Phe diều hâu Mỹ một mặt rêu rao "Chiến tranh Mỹ - Israel - Iran gây thiệt hại nặng cho Trung Quốc", mặt khác lại hoảng sợ "Chiến tranh Trung Đông là cơ hội của Trung Quốc". Nhưng các quan sát viên hiểu rõ khu vực này đều cho rằng cả hai đều không đúng. Chiến tranh Trung Đông không đồng nghĩa với tổn thất chiến lược của Trung Quốc, cũng không có nghĩa là Trung Quốc sẽ "thừa cơ trục lợi" tại Đông Á.

Trung Quốc đã sớm thực hiện đa dạng hóa năng lượng, Iran cũng sẽ không tự cắt đứt con đường tài chính chính của mình, hơn nữa Mỹ và Israel tất bại, phía ta không hề có tổn thất chiến lược. Đó là điều thứ nhất. Nếu Trung Quốc thừa lúc quân Mỹ di chuyển quy mô lớn sang Trung Đông mà "đánh chiếm thành trì" tại eo biển Đài Loan, biển Hoa Đông hay Biển Đông, thì chắc chắn sẽ giúp Mỹ tìm được lối thoát tại Trung Đông để đình chiến cắt lỗ, rồi tập trung quân lực toàn cầu về lại Đông Á. Nếu Đại lục chưa có ý định thực hiện thống nhất, đánh bại Nhật Bản và giải quyết dứt điểm vấn đề Biển Đông trong năm nay, thì việc "thừa cơ trục lợi" là một hạ sách. Đó là điều thứ hai.

Chiến tranh Trung Đông giúp ích cho "tự sự Trung Quốc" là thật, khiến Chuỗi đảo thứ nhất run rẩy cũng là thật, nhưng dù Đại lục muốn "làm một mẻ" tấn công cụ thể, cũng phải đợi đến khi quân Mỹ ở Trung Đông rệu rã hoặc cạn kiệt nguồn lực. Trong thời gian án binh bất động, phía ta chỉ cần phát động cuộc chiến ngoại giao cũng đủ khiến Mỹ nếm trải đau khổ, không thể nhúc nhích.

Các quan sát viên ở Chuỗi đảo thứ nhất dễ dàng rút ra kết luận này, còn phe diều hâu Mỹ thì hoàn toàn theo kiểu "lời nói dối lặp lại ba lần cũng tự tin là thật", hoàn toàn không thể khỏa lấp được sự bẽ bàng và khốn đốn hiện tại của Mỹ.

Việc Trung Quốc tạm thời án binh bất động tương đương với việc phủ định nỗ lực tự vũ trang giai đoạn này của Chuỗi đảo thứ nhất, đồng thời tích lũy lý lẽ để dập tắt chủ nghĩa quân phiệt tại khu vực này sau này. Nói cách khác, "tạm thời" mới là từ khóa, bởi vì lực lượng răn đe của Mỹ giảm sút đồng nghĩa với việc mở rộng quân bị ở Chuỗi đảo thứ nhất, thậm chí là tính hợp lý của việc sở hữu hạt nhân.

Điều này dẫn đến tầng lo âu thứ ba: Sự vô hiệu của lực lượng răn đe tự vũ trang tại Chuỗi đảo thứ nhất và lý thuyết về sự cần thiết của vũ khí hạt nhân.

Răn đe vô hiệu, vũ khí đắt tiền lại bị xuyên thủng

Dù là xung đột Nga - Ukraine hay chiến tranh Mỹ - Israel - Iran, đều làm nổi bật một thực tế: Trên chiến trường tương lai, kẻ quyết định thắng bại thường không phải là vũ khí cao cấp đắt tiền, mà là trang thiết bị có hiệu suất chi phí (P/S) cao, chịu được tiêu hao. Tuy nhiên, từ lâu nay, lực lượng răn đe của Mỹ lại dựa chính vào các loại vũ khí cao cấp đắt đỏ.

Mặc dù chiến tranh tiêu hao kiểu "tác chiến bất đối xứng" cũng tạo ra nhu cầu lớn cho công nghiệp quân sự Mỹ, nhưng khái niệm sử dụng vũ khí tương đối rẻ để phòng thủ hoặc tấn công chưa bao giờ được các nhà buôn vũ khí ưa chuộng. Có thể thấy rõ điều này qua các thương vụ bán vũ khí của Mỹ cho Đài Loan hay các nước vùng Vịnh.

Ngay khi phía Mỹ đang thực hiện gây áp lực tối đa trong việc bán vũ khí cho Đài Loan, nghị sĩ xuất sắc nhất của Đài Loan là Mã Văn Quân đã chọc thủng bức màn thưa. Bà thẳng thắn nói rằng, mua sắm quân sự từ Mỹ không còn là "nhu cầu chiến trường" quyết định danh mục mua sắm nữa, mà ngược lại, là dựa trên danh mục mua sắm để "sửa đổi" nhu cầu chiến trường. Giống như bạn ban đầu chỉ muốn mua xe hai bánh để đi lại, nhưng thị trường không bán, đành phải mua xe bốn bánh đắt hơn nhiều và phải sửa đổi nhu cầu của mình cho phù hợp, trong khi thực tế bạn không cần đến nó.

Vũ khí cao cấp của Mỹ đắt hơn vũ khí cùng cấp của các quốc gia khác là điều ai cũng biết, nguyên nhân không ngoài chi phí nhân công cao, nguyên liệu cao, chi phí phát triển và chính trị cao. Mặt khác còn là giá độc quyền. Ngoài ra, để theo đuổi "năng lực triển khai toàn cầu, tác chiến toàn phổ", Mỹ phải sản xuất vũ khí có thể hoạt động trong mọi môi trường, do đó đẩy tiêu chuẩn thiết kế lên rất cao. Ngược lại, các nước khác có thể ưu tiên nhu cầu tại khu vực của họ, "đủ dùng là được". Khoảng cách chi phí cứ thế giãn ra.

Vì vậy, công nghiệp quân sự Mỹ rơi vào cái bẫy tuần hoàn chi phí cao, và dựa vào đó yêu cầu các tổ chức ngoại vi (như các think-tank tại Washington) cung cấp những chiến lược khớp với vũ khí đắt tiền để thuyết phục các tầng lớp quyết định chính trị chi tiền.

Ai cũng biết các quốc gia vùng Vịnh giàu có đã mua rất nhiều vũ khí đắt đỏ nhưng không phù hợp nhu cầu. Mục đích mua sắm thường không nằm ở quân sự mà là đóng "phí bảo kê", việc phòng thủ thực sự vẫn dựa vào các căn cứ Mỹ. Tình hình Đài Loan cũng tương tự, chỉ khác là trên đảo không có căn cứ Mỹ, việc phòng thủ thực sự dựa vào lực lượng răn đe khu vực và sức mạnh chính trị của Mỹ.

Nói cách khác, Đài Loan được Mỹ giao nhiệm vụ tác chiến bất đối xứng, nhưng vũ khí mua về vừa đắt vừa vô dụng, "bất đối xứng" không thể triển khai được. Suy cho cùng, đơn hàng Mỹ ném cho Đài Loan là những thứ nhà buôn vũ khí Mỹ muốn bán, có thể bán, chứ không phải thứ Đài Loan muốn dựa trên nhu cầu chiến trường.

Khi lực lượng răn đe của Mỹ còn tồn tại, kiểu mua sắm và chiến lược vô hiệu này còn có thể mập mờ bỏ qua, dù sao "ý ông say không phải ở rượu". Nhưng chiến tranh Trung Đông đã "giải mã" lớp màng này, khiến mạng lưới phòng thủ của Chuỗi đảo thứ nhất chỉ còn là những lý thuyết suông khó tin trên giấy, giống như việc nước thủy triều rút để lộ ra kẻ không mặc quần.

Về lý thuyết, sau khi hiệu ứng "răn đe vô hiệu" của Mỹ lan rộng, nó sẽ kích thích Chuỗi đảo thứ nhất tự chủ công nghiệp quân sự, ví dụ như Nhật Bản. Kế hoạch thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa tại Ryukyu, so với các nước vùng Vịnh, tuy vẫn dùng vũ khí Mỹ làm chủ đạo nhưng tỷ lệ tự chế cao hơn. Đây là yêu cầu tất yếu của việc tái "quân phiệt hóa". Bởi lẽ, nếu vũ khí chỉ dựa vào nguồn cung từ nước ngoài thì không thể gọi là "chủ nghĩa quân phiệt" được.

Tuy nhiên, chiến lược và chiến thuật của Chuỗi đảo thứ nhất phần lớn không tự chủ mà xuất phát từ yêu cầu của Mỹ. Theo yêu cầu của Mỹ, Nhật, Hàn, Phi và Đài Loan muốn phát triển công nghiệp quân sự phải kết nối với các ngành công nghiệp liên quan của Mỹ. Đối với Đại lục, điều này có thể đồng nghĩa với việc "cái bẫy tuần hoàn chi phí cao" của Mỹ sẽ được Chuỗi đảo thứ nhất chia sẻ. Nói trắng ra, Mỹ có thể gia công những vũ khí có hiệu suất chi phí cao hơn cho Chuỗi đảo thứ nhất.

Đặc điểm chính của thời loạn là nguy cơ và cơ hội song hành. Nếu đã bị lộ chuyện không mặc quần thì mau đi mặc quần vào. Phía ta không nên chỉ nhìn việc lực lượng răn đe của Mỹ sụt giảm, thậm chí về số không, là cơ hội; nó đồng thời tiềm ẩn nguy cơ.

Nguy cơ chính của ta là Nhật Bản đi theo hướng quân phiệt hóa, đương nhiên sẽ kéo theo cả Đài Loan, và sự sỉ nhục cũng như "phủ định lực lượng răn đe" mà Mỹ phải nhận tại Iran lần này sẽ chỉ khuyến khích Washington ngầm cho phép "tự chủ bán công nghiệp quân sự" tại Chuỗi đảo thứ nhất. Bởi lẽ, giải quyết vấn đề cấu trúc của chính ngành công nghiệp quân sự mình không dễ, "chuyển giao chi phí" ra nước ngoài mới là con đường tắt.

Nói cách khác, trong vòng 5 năm tới, nếu Chuỗi đảo thứ nhất hợp tác với Mỹ để sản xuất hàng loạt vũ khí thông thường "nhỏ mà rẻ, nhỏ mà đẹp" tại bản địa thì cũng không có gì lạ. Triển vọng này vừa phù hợp lợi ích nhà buôn vũ khí Mỹ, vừa phù hợp nhu cầu chính trị của Washington. Phía ta phải giả định rằng, một nước Mỹ dù hiếu chiến nhưng hay bại trận, dù thế nào vẫn có năng lực biến nguy thành cơ.

Có lẽ, nguy cơ chí mạng hơn là triển vọng "sở hữu hạt nhân" tại Đông Á.

Trang thiết bị vũ khí chịu được tiêu hao tuy quan trọng, nhưng loại vũ khí này chỉ có tác dụng khi đã khai chiến, còn lực lượng răn đe trước khi khai chiến là không đủ. Nếu không phải vì Iran quyết liều một phen, thế giới sẽ không coi chiếc UAV Shahed-136 tỏa sáng trên chiến trường lần này là một lực lượng răn đe.

Từ góc nhìn của Chuỗi đảo thứ nhất, Trung Quốc Đại lục có năng lực quân sự áp đảo trong khu vực. Vì chiến lược là duy trì hiện trạng, nên lực lượng răn đe là ưu tiên hàng đầu. Và khi lực lượng răn đe của Mỹ thoái trào, thứ duy nhất có thể nhanh chóng lấp chỗ trống và có tác dụng hiệu quả chính là sở hữu hạt nhân, hoặc được đưa vào ô bảo hạt nhân.

Nhật và Hàn đã rõ ràng được Mỹ đưa vào ô bảo hạt nhân, Philippines và Đài Loan thì chưa. Philippines được giao vai trò trung chuyển hậu cần, Đài Loan được giao nhiệm vụ như một kẻ đánh bom tự sát.

Tại sao đã được đưa vào ô bảo hạt nhân mà nội bộ Nhật - Hàn vẫn có tiếng nói mạnh mẽ về việc tự sở hữu hạt nhân? Câu trả lời đơn giản nhất là: Trước khi lực lượng răn đe của Mỹ sụt giảm, thì sự tin cậy vào cam kết chính trị của họ đã sụt giảm trước. Khi cả hai cùng giảm và cả thế giới đều biết, có thể hình dung tiếng nói sở hữu hạt nhân ở Đông Bắc Á sẽ chỉ lớn hơn chứ không nhỏ đi.

Năm ngoái, khảo sát tại Hàn Quốc cho thấy hơn 70% người dân ủng hộ tự phát triển vũ khí hạt nhân. Khảo sát tại Nhật Bản cho thấy 77% người dân không tin Mỹ sẽ bảo vệ Nhật.

Cái gọi là "làm tốt quan hệ Trung - Mỹ" sở dĩ quan trọng, một phần vì Mỹ còn năng lực bác bỏ việc Nhật - Hàn sở hữu hạt nhân. Tuy nhiên, tiền đề của việc này là lực lượng răn đe của Mỹ vẫn còn, ô bảo hạt nhân mới có ý nghĩa. Với Nhật - Hàn, việc Trung - Mỹ cải thiện quan hệ không nhất định phù hợp với lợi ích chiến lược của họ. Vậy nếu lực lượng răn đe của Mỹ giảm sút, quan hệ Trung - Mỹ lại không phù hợp lợi ích của họ, thì ngoài sở hữu hạt nhân, họ còn lựa chọn nào khác?

Đối mặt với Triều Tiên, Seoul có thể trông mong Trung Quốc bảo đảm an ninh cho mình không? Đối mặt với viễn cảnh Mỹ từ bỏ Đài Loan, Nhật Bản còn lực lượng răn đe nào để tránh cái gọi là "tình trạng nguy cơ tồn vong" trong tưởng tượng của họ?

Còn về khu vực Đài Loan, chỉ cần phe "Đài độc" cầm quyền, nếu Mỹ rút tay, họ không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đâm đầu vào ô bảo vệ của Nhật Bản để cầu sinh tồn. Hợp tác chiến lược và quân sự giữa hai bên chắc chắn sẽ tăng tốc nhất thể hóa.

Có thể thấy, việc coi "xoa dịu quan hệ Trung - Mỹ" là bảo chứng cho hòa bình Đông Á, thậm chí là nền tảng để "hai bờ thống nhất, láng giềng mặc định", có lẽ là suy nghĩ không thực tế. Trong quá trình Mỹ rút khỏi Chuỗi đảo thứ nhất, một số thách thức cũ có thể biến mất, nhưng những thách thức mới sẽ nảy sinh.

Do đó, lực lượng răn đe của Mỹ sụt giảm hoặc biến mất tại khu vực này, đối với phía ta, cũng là sự tồn tại song hành của nguy cơ và cơ hội, không đơn thuần là "Mỹ xuống Trung lên". Cái "tạm thời" trong việc án binh bất động có thể ngắn ngủi hơn nhiều so với tưởng tượng.

Nếu ai đó cho rằng "quan hệ Trung - Mỹ dịu bớt" là có thể duy trì hiện trạng, tranh thủ thời gian phát triển, thì đó là dựa trên nền tảng lực lượng răn đe của Mỹ tại khu vực này vẫn còn hiệu lực. Cá nhân tôi cho rằng, hiện trạng đã tiến sát mép vực của "thay đổi kịch liệt". Chuỗi đảo thứ nhất, dưới tác động của ba tầng lo âu, sẽ tìm kiếm bước ngoặt từ trong nỗi đau thích nghi với cục diện mới. Điều này có lợi cho phía ta hay không, tùy thuộc vào việc tâm lý cầu may được thu nhỏ đến mức nào.

Nói một cách đơn giản: Chiến thuật tích cực thì có lợi cho ta, chiến thuật tiêu cực thì bất lợi.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét