Thứ Bảy, 7 tháng 3, 2026

Nga là bên hưởng lợi lớn nhất từ cuộc chiến Mỹ-Iran?

Nga là bên hưởng lợi lớn nhất từ cuộc chiến Mỹ-Iran? 
Cuộc xung đột leo thang gần đây giữa Mỹ, Israel và Cộng hòa Hồi giáo Iran đã tạo ra một số tác động đáng kể đối với Liên bang Nga. Chiến tranh vẫn đang tiếp diễn và có nguy cơ lan rộng sang các quốc gia khác. Những ảnh hưởng lâu dài hiện vẫn chưa rõ ràng, tuy nhiên, vẫn có thể đưa ra một số kết luận sơ bộ về việc cuộc đối đầu mới giữa Mỹ-Israel và Iran thực sự có ý nghĩa gì đối với Moscow.
Những tác động tích cực mang tính chiến thuật

Đối với Điện Kremlin, tác động tích cực nằm ở chỗ, bất kỳ cuộc xung đột lớn nào trên thế giới rõ ràng cũng sẽ làm phân tán sự chú ý của cộng đồng quốc tế khỏi cuộc đối đầu Nga-Ukraine.

Hơn nữa, Mỹ có thể gặp khó khăn hơn trong việc cung cấp một số loại trang thiết bị quân sự tiên tiến cho 
Ukraine, vì quân đội Mỹ hiện cũng cần những trang bị này tại khu vực Trung Đông. Kho dự trữ đạn dược của Mỹ vốn đã khá căng thẳng, nay lại đối mặt với nguy cơ tiêu hao thêm do các cuộc tấn công nhằm vào Iran, từ đó hạn chế việc chuyển giao vũ khí mới cho Kyiv.

Nếu trong bất kỳ trường hợp nào, Trump buộc phải lựa chọn giữa Ukraine và Israel, thì không còn nghi ngờ gì nữa, ông ta sẽ đặt Israel lên trên Ukraine.

Đồng thời, châu Âu không có khả năng thay thế hoàn toàn Mỹ trong vai trò nhà cung cấp trang thiết bị quân sự cho cuộc xung đột Nga-Ukraine, đặc biệt là trong lĩnh vực các hệ thống phòng không tiên tiến và tên lửa đánh chặn (như Patriot). Sự thiếu hụt này có thể khiến hệ thống phòng thủ của Ukraine lộ rõ điểm yếu trước các cuộc tấn công gia tăng bằng máy bay không người lái và tên lửa của Nga, từ đó làm thay đổi cán cân lực lượng trên chiến trường Nga-Ukraine – điều này có lợi cho Nga.

Một kết quả tích cực khác cho Nga là, xung đột tại Iran và khu vực lân cận, đặc biệt là những hạn chế đáng kể đối với hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz, đã dẫn đến tình trạng thiếu hụt hydrocacbon trên thị trường toàn cầu, kéo theo giá dầu mỏ và khí đốt tự nhiên hóa lỏng (LNG) thế giới tăng mạnh.

Giá dầu thô WTI cũng tăng mạnh sau cuộc tấn công của Mỹ-Israel ngày 28/2

Vào phiên giao dịch đầu tuần sáng thứ Hai ngày 2/3, dầu Brent đã tăng khoảng 9% từ mức 72,87 USD/thùng vào thứ Sáu tuần trước, lên khoảng 79-80 USD/thùng và tới xấp xỉ 91 
USD/thùng hôm qua 6/3. Do Iran trả đũa bằng các cuộc tấn công tên lửa và lời cảnh báo, hoạt động hàng hải qua eo biển Hormuz bị đình trệ, ảnh hưởng đến 20% lưu lượng dầu mỏ toàn cầu. Chính lo ngại về gián đoạn nguồn cung đã thúc đẩy giá tăng vọt. Các công ty dầu mỏ lớn đã tạm dừng vận chuyển. Các nhà phân tích dự báo, nếu căng thẳng tiếp tục leo thang, giá dầu có thể tăng thêm lên mức 90-100 USD/thùng.

Tình huống này mở ra cơ hội mới để Nga gia tăng doanh thu xuất khẩu hydrocacbon, đồng thời giảm bớt những tác động tiêu cực ngày càng gia tăng từ các lệnh trừng phạt năng lượng mới mà EU và Mỹ áp đặt lên Moscow.

Hơn nữa, nếu người châu Âu buộc phải trả giá cao hơn cho dầu mỏ và khí đốt nhập khẩu, họ sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực hiện các cam kết tài chính đối với Ukraine, điều vốn đã là gánh nặng lớn đối với ngân sách EU.

Tuy nhiên, những lợi ích và cơ hội này, dù có vẻ hấp dẫn, nhưng dường như mang tính chiến thuật hơn là chiến lược. Xung đột Trung Đông khó có khả năng thay đổi đáng kể cục diện đối đầu Nga-Ukraine; Ukraine vẫn còn lượng đạn dược lớn, dù tồn tại một số thiếu hụt, nhưng vẫn có thể tiếp tục chiến đấu trong thời gian dài.
Hơn nữa, theo các nguồn tin phương Tây, Iran đã cung cấp công nghệ máy bay không người lái và tên lửa cho Nga, những yếu tố quan trọng đối với hoạt động của Điện Kremlin tại Ukraine, cho phép Moscow thực hiện các cuộc tấn công theo cụm, từ đó tiết kiệm tên lửa của Nga.

Các cuộc tấn công của Mỹ và Israel nhằm vào cơ sở sản xuất quốc phòng Iran có thể phá hoại các nhà máy hỗ trợ Nga, làm giảm sản lượng máy bay không người lái của Iran. Tương tự, xét đến tình trạng dư thừa tương đối của các mặt hàng này trên thị trường toàn cầu hiện nay, bất kỳ đợt tăng giá nào của dầu mỏ và khí đốt cũng khó có khả năng kéo dài. Khả năng là, sau một giai đoạn bất ổn tương đối ngắn, giá dầu khí sẽ ổn định ở mức tương đối thấp, gần với mức trước khi Mỹ-Israel tấn công Iran.

Ngoài ra, hầu hết các tác động khác rất có thể sẽ mang tính tiêu cực rõ rệt và mang tính chiến lược, thay vì chiến thuật.

Thử thách kép trong xử lý quan hệ Nga-Mỹ, Nga-Iran

Thứ nhất, Iran vẫn là đối tác chiến lược của Nga. Ngày 17/1/2025, Nga và Iran đã ký kết một thỏa thuận hợp tác có thời hạn 20 năm, đánh dấu bước nâng cấp đáng kể trong liên minh chiến lược giữa hai nước. Thỏa thuận này dự kiến mở rộng nhanh chóng hợp tác song phương trong nhiều lĩnh vực, từ các dự án kỹ thuật quân sự đến giáo dục và tiếp xúc xã hội dân sự. Giờ đây, nhiều kế hoạch đầy tham vọng trong số đó đang đứng trước dấu hỏi lớn.

Hơn nữa, Lãnh tụ Tối cao Iran Ali Khamenei, người đã thiệt mạng trong cuộc không kích của Israel, luôn là một trong những người ủng hộ kiên định nhất việc tăng cường hợp tác với Moscow. Sự ra đi của ông khiến Tổng thống Putin mất đi một người bạn riêng và đối tác đáng tin cậy. Những tổn thất đáng kể trong giới lãnh đạo chính trị và quân sự cấp cao của Iran có thể làm thay đổi cán cân lực lượng tổng thể trong giới tinh hoa cầm quyền đất nước, từ đó gây tổn hại đến mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa Nga và Iran. Có thể dễ dàng dự đoán rằng, nhiều người trong nội bộ Iran sẽ thất vọng trước việc Moscow không ngăn chặn được cuộc tấn công của Mỹ-Israel.

ảnh Vladimir Putin và Tổng thống Iran Masoud Pezeshkian tại Hội nghị thượng đỉnh BRICS

Cũng cần chỉ ra rằng, Nga đã nỗ lực đưa Iran tham gia vào các nhóm đa phương phi phương Tây như BRICS, SCO (Tổ chức Hợp tác Thượng Hải). Tháng 12/2023, Iran đã ký hiệp định thương mại tự do với Liên minh Kinh tế Á-Âu, hiệp định này có hiệu lực từ tháng 5/2025. Moscow và Tehran từng hy vọng thương mại và đầu tư giữa Iran và không gian hậu Xô viết sẽ tăng trưởng nhanh chóng và ổn định; giờ đây, những hy vọng này không còn tươi sáng như trước khi Mỹ-Israel tấn công. Xung đột kéo dài có thể làm trì hoãn đáng kể hoặc đình trệ một số dự án phát triển đa phương quy mô lớn, bao gồm kế hoạch hành lang vận tải "Bắc-Nam" kết nối Bắc Âu và Nam Á.

Hành động xâm lược của Mỹ đối với Iran có thể phủ bóng đen dài lên nỗ lực của Trump trong vai trò trung gian hòa giải đàm phán Nga-Ukraine. Những hành động này làm gia tăng tâm lý bài Mỹ trong công chúng Nga, và dấy lên nghi ngờ về việc liệu thế giới, bao gồm cả Nga, có nên tin tưởng vào thiện ý của Tổng thống Mỹ hay không. Nhiều người Nga có xu hướng cho rằng, chính quyền Trump chỉ sử dụng đàm phán như một màn khói để che giấu sự chuẩn bị cho các cuộc chiến tranh xâm lược.

Một số người Nga có xu hướng cho rằng, các cuộc đàm phán Mỹ-Nga-Ukraine chỉ là màn khói để Mỹ-Israel chuẩn bị tấn công Iran.
Cuộc tấn công của Mỹ nhằm vào Iran nên được xem là một mắt xích nữa trong chuỗi hành động thiếu trách nhiệm và đáng tiếc của Mỹ, bao gồm việc bắt cóc Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro, áp đặt lệnh phong tỏa kinh tế đối với Cuba, v.v.

Mặc dù vậy, Điện Kremlin đã tuyên bố rằng họ tiếp tục đánh giá cao nỗ lực trung gian đang diễn ra của Mỹ, và không có ý định rút khỏi tiến trình đàm phán ba bên Mỹ-Nga-Ukraine. Xét đến các vấn đề hậu cần và an ninh tại Abu Dhabi, vòng đàm phán tiếp theo hiện có thể sẽ được tổ chức tại Istanbul.

Chuyển dịch từ đơn cực sang đa cực? Chiến lược Trung Đông của Nga đối mặt thách thức

Sự phân cực đang hình thành tại khu vực Trung Đông cũng đặt ra thách thức đối với Liên bang Nga. Kể từ khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, Moscow luôn nỗ lực duy trì quan hệ tốt với các bên đối lập trong xung đột khu vực: với người Israel và người Palestine, với người Thổ Nhĩ Kỳ và người Kurd, với phe Shia và Sunni, với người Ba Tư và người Ả Rập, với các quốc gia thế tục và thần quyền, giữa các chủ thể khu vực và phi khu vực, v.v. Cuộc leo thang đối đầu gần đây giữa Mỹ, Israel và Iran có thể khiến sự cân bằng này trở nên khó khăn hơn.

Đối với Moscow, điều đặc biệt quan trọng là duy trì quan hệ đối tác với Iran mà không làm nguy hại đến sự tiếp xúc với các quốc gia quân chủ giàu có vùng Vịnh (như Saudi Arabia, UAE, Qatar, v.v.). Nga nhất quán phản đối việc thành lập "NATO Ả Rập" chống Iran, và ủng hộ việc thiết lập một hệ thống an ninh tập thể khu vực bao trùm, trong đó sẽ bao gồm Iran và hạn chế bá quyền của Mỹ tại vùng Vịnh. Giờ đây, mục tiêu này có thể khó đạt được hơn bao giờ hết.

Cuối cùng, những diễn biến gần đây tại Trung Đông một lần nữa cho thấy sự mong manh của trật tự toàn cầu hiện nay. Nó có thể bị phá hoại nghiêm trọng bởi những quyết định tùy tiện và có thể nói là thiếu cân nhắc của một nhà lãnh đạo duy nhất. Rõ ràng, hiện không có bất kỳ thể chế đa phương nào, bao gồm cả Liên Hợp Quốc, có khả năng ngăn chặn Trump hoặc gây ảnh hưởng lên các hành động của ông ta. Việc lãnh đạo Mỹ có thể tùy ý vi phạm mọi chuẩn mực luật pháp quốc tế ở bất kỳ góc nào trên thế giới mà hoàn toàn không bị trừng phạt, thực tế này không hoàn toàn phù hợp với luận điệu chính thức của Nga về việc hệ thống quốc tế đang chuyển dịch nhanh chóng từ đơn cực sang đa cực.

Cũng có thể bổ sung rằng, cuộc leo thang gần đây tại Trung Đông càng làm phức tạp hóa quan hệ giữa Nga và Israel. Mối quan hệ đã xấu đi rất mạnh kể từ khi Nga phát động chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine vào tháng 2/2022, và đặc biệt là từ khi Israel bắt đầu chiến dịch tấn công tại Gaza vào tháng 10/2023.

Người Nga coi Israel là kẻ chủ mưu chính đằng sau các hành động của Mỹ nhằm vào Tehran, đồng thời là đối thủ cứng rắn nhất của Iran, hoàn toàn cam kết với mong muốn thay đổi chế độ chính trị tại Iran. Sự đồng cảm trước đây đối với Israel, một quốc gia phải đối mặt với các cuộc tấn công khủng bố và thách thức sinh tồn từ các nước láng giềng thù địch, đang dần bị thay thế bởi sự oán giận và thù địch; hiện nay nhiều người Nga xem quốc gia Do Thái là nguồn gốc chính của sự bất ổn và mất an ninh tại toàn bộ khu vực Trung Đông. Điều này không có nghĩa là Nga sẽ hoàn toàn đoạn tuyệt với Israel, nhưng quan hệ song phương vẫn sẽ ở trạng thái căng thẳng trong một thời gian dài sắp tới.

Moscow có thể làm gì?

Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng nhất là Điện Kremlin sẽ phản ứng như thế nào trước hành động xâm lược của Mỹ-Israel nhằm vào Cộng hòa Hồi giáo Iran. Phản ứng tức thời của họ chủ yếu giới hạn trong các hành động chính trị và ngoại giao.

Tổng thống Vladimir Putin gọi cuộc tấn công này là "hành động xâm lược vô cớ, không có lý do chính đáng", và Bộ Ngoại giao Nga tuyên bố lên án mạnh mẽ các "hành động liều lĩnh" của Mỹ và Israel, cho rằng những hành động này có thể dẫn đến thảm họa kinh tế, nhân đạo và môi trường ở quy mô khu vực. Nga đã tái khẳng định lập trường này tại cuộc họp Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc sau leo thang. Moscow và Bắc Kinh đã phối hợp phản ứng thông qua các cuộc điện đàm giữa Putin, Tập Cận Bình và các ngoại trưởng của hai nước, đồng thời đệ trình một dự thảo nghị quyết Liên Hợp Quốc yêu cầu ngừng bắn và nhanh chóng khôi phục đàm phán hạt nhân giữa Tehran và Washington.

Có thể hình dung rằng, năng lực phòng thủ của Tehran đã bị tổn hại nghiêm trọng trong các cuộc tấn công gần đây của Mỹ-Israel. Trong trường hợp này, Moscow có thể làm hết sức mình để giúp Tehran khôi phục. Đặc biệt, Iran đang rất cần nâng cấp hệ thống phòng không nhằm hạn chế thiệt hại mà các cuộc tấn công mới có thể gây ra đối với cơ sở hạ tầng năng lượng và giao thông, các trung tâm ra quyết định quân sự và chính trị, cũng như các cơ sở nghiên cứu năng lượng hạt nhân. 

Chỉ có thể phỏng đoán về những hệ thống cụ thể mà Nga sẵn sàng cung cấp cho Iran, nhưng rõ ràng là các thiết bị phòng không cao cấp cần thời gian để giao hàng, triển khai và đưa vào vận hành. Cũng rõ ràng là, trong tương lai gần, khả năng Nga cung cấp viện trợ quân sự cho Iran bị hạn chế bởi cuộc xung đột đang tiếp diễn với Ukraine, cuộc xung đột vẫn là ưu tiên hàng đầu của ngành quốc phòng của Nga.

Về lý thuyết, Nga có thể khiến các cuộc tấn công quân sự mang tính quyết định của Mỹ-Israel nhằm vào Iran trở nên bất khả thi hoặc có cái giá cực kỳ đắt đỏ. Theo các chuyên gia quân sự Nga, để tăng cường năng lực quân sự cho Iran, Moscow phải cung cấp cho Tehran các hệ thống phòng không S-400 mới nhất và công nghệ tác chiến điện tử, cũng như các tên lửa chống hạm siêu thanh "Zircon" hoặc "Oniks".

Không còn nghi ngờ gì nữa, Liên bang Nga có thể cung cấp cho Iran dữ liệu vệ tinh thời gian thực về hoạt động của tàu chiến và lực lượng cơ động Mỹ, và việc các cố vấn Nga hiện diện tại các cơ sở then chốt sẽ khiến bất kỳ cuộc tấn công nào của Mỹ vào những cơ sở này trở nên cực kỳ nguy hiểm.

Tuy nhiên, phần lớn những hỗ trợ này đòi hỏi công tác chuẩn bị đáng kể, bao gồm đào tạo nhân sự địa phương, tích hợp năng lực mới vào quân đội Iran, chưa kể đến vận chuyển, triển khai và bảo trì. Một số hướng hợp tác kỹ thuật quân sự Nga-Iran triển vọng nhất sẽ cần nhiều tháng, thậm chí nhiều năm, mới có thể đơm hoa kết trái.

Điều quan trọng không kém là Nga có thể hỗ trợ duy trì ổn định xã hội và chính trị trong nội bộ Iran. Xét cho cùng, thách thức nguy hiểm nhất đối với thể chế chính trị và vị thế quốc gia của Iran không đến từ áp lực quân sự của Mỹ hay Israel, mà đến từ phe đối lập trong nước. Và bản thân phe đối lập này, thay vì là sản phẩm của các hoạt động phá hoại từ nước ngoài, lại là kết quả của những vấn đề kinh tế và xã hội ngày càng trầm trọng. Nếu hợp tác kinh tế Nga-Iran có thể giúp giải quyết ít nhất một phần những vấn đề này, Moscow có thể tuyên bố rằng mình thực sự là "người bạn trong cơn hoạn nạn" của Iran, chứ không phải là một kẻ đứng nhìn thờ ơ khi cuộc khủng hoảng của nước láng giềng ngày càng sâu sắc.

Đáng chú ý là, ngày 2/3, Tổng thống Putin đã có các cuộc điện đàm kéo dài với lãnh đạo các quốc gia vùng Vịnh như UAE, Qatar, Bahrain. Trong các cuộc đối thoại này, Putin đã cố gắng thuyết phục các bên tránh để khu vực xuất hiện sự chia rẽ Ả Rập-Ba Tư mới, mặc dù một số quốc gia Ả Rập vùng Vịnh đã hứng chịu các cuộc tấn công bằng tên lửa và máy bay không người lái từ Iran. Trong khi Mỹ và Israel cố gắng cô lập Iran trong khu vực, lập trường của Nga là việc loại trừ Iran khỏi các thỏa thuận an ninh khu vực chỉ sẽ dẫn đến căng thẳng và xung đột mới tại Trung Đông.

Tóm lại, có thể cho rằng, nếu xung đột Mỹ-Iran phát triển thành một cuộc đối đầu quân sự quy mô lớn và kéo dài, Moscow hầu như không có lợi gì, mà ngược lại có thể chịu tổn thất nặng nề. Lợi ích của Nga nằm ở việc chứng kiến cuộc đối đầu vũ trang tự tiêu hao, như trong cái gọi là "cuộc chiến 12 ngày" vào tháng 6/2025, để hai bên quay trở lại bàn đàm phán. Không cần phải nói, lần này sẽ khó khăn hơn nhiều so với chín tháng trước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét