Thứ Bảy, 8 tháng 8, 2026

Nghị quyết của BCT về công tác người Việt Nam ở nước ngoài

Làm gì để đưa Nghị quyết của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài vào cuộc sống ?
Tôi ủng hộ bài viết dưới đây của nhà báo Lưu Trọng Văn. Trong bài, bác Văn nhắc tới Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, được đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm ký ban hành ngày 02/8/2026.

1. 
Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị 

Nghị quyết chỉ rõ "Trong giai đoạn mới, công tác người Việt Nam ở nước ngoài cần nâng tầm tư duy từ vận động, tập hợp, chăm lo lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn trong hành trình hội nhập, xây dựng và phát triển của đất nước".

Nghị quyết cũng khẳng định "Đảng, Nhà nước luôn trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia - dân tộc. Đề cao tinh thần hoà hợp dân tộc; xoá bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai".

2. Người Việt Nam ở nước ngoài nghĩ gì ?

Tôi sống ở Âu Mỹ nhiều năm, đã tiếp xúc với nhiều người Việt Nam ở nước ngoài. Theo tôi hiểu, đối với họ, vấn đề quyết định không phải là Nghị quyết viết gì, mà là người Việt Nam ở nước ngoài có tin rằng những điều viết trong Nghị quyết sẽ được thực hiện trên thực tế hay không. Đây là một mệnh đề cực kỳ quan trọng, vì đối với người Việt Nam ở nước ngoài, đặc biệt những người có chính kiến khác biệt, vấn đề không chỉ là “cánh cửa có mở hay không”, mà còn là: “Nếu tôi bước qua cánh cửa ấy, tôi có được đối xử đúng như tinh thần của Nghị quyết hay không?”

Từ đây dẫn đến bài toán thứ hai là niềm tin. Một nghị quyết của Đảng có thể rất tiến bộ về tư duy, nhưng nếu người dân không dự đoán được cách chính sách sẽ được áp dụng thế nào thì họ vẫn có tâm lý dè dặt. Trong kinh tế học thể chế, đây chính là tính có thể dự đoán của thể chế. Đối với một thể chế đã làm người dân mất quá nhiều niềm tin rồi, thì việc xây dựng các chính sách và cam kết để khôi phục được lòng tin luôn luôn vô cùng quan trọng và cực kỳ khó, đòi hỏi các nhà lãnh đạo quốc gia phải rất can đảm và quyết tâm thực hiện.

Nhà nước có thể ban hành một nghị quyết về hòa hợp dân tộc.

Nhưng niềm tin của người Việt Nam ở nước ngoài không thể được tạo ra bằng một nghị quyết. Niềm tin chỉ xuất hiện sau một quá trình, đi từ chính sách, tới hành động rồi trải nghiệm thực tế và tích lũy niềm tin.
Một người Việt ở nước ngoài có thể thấy Nghị quyết và rất vui mừng. Nhưng quyết định cuối cùng của họ có thể chỉ xuất hiện sau khi họ trực tiếp về Việt Nam, làm việc với cơ quan nhà nước, thử đầu tư, mở doanh nghiệp, nghiên cứu, xuất bản, giảng dạy, đóng góp ý kiến... từ đó trực tiếp trải nghiệm cách mình được đối xử. Nếu những trải nghiệm đó phù hợp với tinh thần Nghị quyết, niềm tin sẽ tăng lên. Nếu ngược lại, chỉ cần vài trường hợp bị đối xử khác với tinh thần Nghị quyết, niềm tin có thể giảm rất nhanh.

Đây là một quy luật rất quan trọng: Niềm tin xã hội được xây dựng bằng hàng nghìn hành động nhỏ, nhưng có thể mất đi chỉ bởi một vài trải nghiệm tiêu cực.

3. Làm gì để đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống ?

Theo tôi, những tư duy đổi mới trên của Đảng đều vô cùng sáng suốt và trí tuệ, thể hiện tầm nhìn rất sâu sắc và có giá trị chiến lược hàng trăm năm.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, có tình trạng rất nhiều Chủ trương, Quyết sách của Đảng rất đúng, nhưng ở khâu triển khai thực hiện thì rất kém, nên không thành công. Theo tôi, có hai nguyên nhân chính.

Một là việc cụ thể hóa các Chủ trương, Quyết sách của Đảng không kịp thời và minh bạch. Ví dụ các cơ quan nhà nước phải xác định rõ ràng thế nào là "phương hại đến lợi ích quốc gia", xác định bằng những tiêu chí thật rõ ràng, dễ hiểu, lượng hóa được thì càng tốt, để người Việt Nam ở nước ngoài thấy rõ và tuân thủ. Những tiêu chí này ít nhất cũng phải cụ thể hóa thành danh mục cho các ngành nghề, lĩnh vực như 19 điều cấm Đảng viên không được làm. Đồng thời phải có tiêu chí pháp lý rõ ràng, có thể dự đoán và có cơ chế giải trình theo hướng bảo vệ người dân được ghi trong luật.

Ví dụ quy định rõ hành vi nào bị cấm? Cơ quan nào có thẩm quyền quyết định? Quyết định dựa trên căn cứ pháp luật nào? Người bị ảnh hưởng có quyền giải trình, khiếu nại hoặc yêu cầu xem xét hay không? Các trường hợp tương tự có được xử lý giống nhau không? Làm được như thế mới thực sự là thượng tôn pháp luật.

Hai là đã cụ thể hóa bằng các luật, pháp lệnh, nghị quyết, nghị định, thông tư... rồi thì phải quyết tâm thực hiện theo đúng nguyên tắc Thượng tôn pháp luật". Đừng để tình trạng cán bộ công chức "có một nghị quyết học hoài không thông", hay "học rồi để đấy chứ không làm gì", như hiện nay, làm cho người Việt Nam ở nước ngoài dù có khát vọng cống hiến và tinh thần tự hào dân tộc cao đến đâu cũng sợ hãi không dám về nước cống hiến, vì họ làm gì cũng phải đoán xem mình có vi phạm pháp luật hay không.

Nghị quyết có viết “xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai”; nhưng nếu một cán bộ ở một cửa khẩu, một cơ quan quản lý, một cơ quan văn hóa, một cơ quan xuất bản... vẫn mang tư duy: "Người này trước đây có quan điểm như thế nào, ủng hộ hay chống Đảng...", thì tinh thần của Nghị quyết rõ ràng không thực sự đi vào cuộc sống.

Đây là chỗ rất đáng suy nghĩ. Hòa hợp dân tộc không thể chỉ là sự thay đổi trong văn bản; nó phải trở thành sự thay đổi trong cách ứng xử của bộ máy và mỗi người cán bộ công chức khi giải quyết những vấn đề có liên quan tới người Việt Nam ở nước ngoài.

Cuối cùng, tôi chỉ muốn nói Hòa hợp dân tộc không phải là tổ chức thật nhiều hội nghị về hòa hợp để các bên vui vẻ với nhau, nhưng thực chất là bằng mặt nhưng không bằng lòng. Hòa hợp dân tộc là phải làm sao để người Việt Nam ở nước ngoài không còn cảm thấy mình là “người ngoài”, và cũng không cần một cơ chế đặc biệt để chứng minh rằng mình là người Việt Nam mỗi khi sống và làm việc ở Việt Nam.

Để hiểu vì sao cánh cửa hồi hương cho người Việt Nam ở nước ngoài cần rộng mở, xin đọc những dòng dưới đây của nhà báo Lưu Trọng Văn, người đã gặp, đã nghe nhiều kiều bào mang nặng nỗi nhớ quê.
-----------------

CÁNH CỬA TRỞ VỀ QUÊ HƯƠNG CẦN RỘNG MỞ CHO BẤT CỨ NGƯỜI VIỆT YÊU NƯỚC NÀO.

Gã từ lâu mong muốn có một phiên thảo luận tại Quốc hội hoặc một Hội nghị Trung ương đảng mang tính đặc biệt để bàn về Hoà giải hoà hợp Dân tộc.

Trước mắt gã rất ủng hộ BCT của đảng vừa ra một nghị quyết về việc Hoà hợp Dân tộc, thay cho nghị quyết 36 ra đời 22 năm trước đã không còn thích ứng với tầm tư duy mới nữa.

Gã rất hoan nghênh khi NQ khẳng định: “Đảng, Nhà nước luôn trân trọng, cầu thị, lắng nghe mọi ý kiến đóng góp xây dựng, kể cả những quan điểm khác biệt nhưng không phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc. Đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. Hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, đột phá, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi để kết nối, thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực, trí tuệ của người Việt Nam ở nước ngoài; gắn kết cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài thông qua mạng lưới hệ sinh thái kết nối bền vững các chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam toàn cầu, đóng góp thiết thực cho sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.”

Đặc biệt NQ tuyên bố rõ ràng: “Đề cao tinh thần hòa hợp dân tộc; xóa bỏ định kiến, gác lại quá khứ, hướng tới tương lai. “

Sự khẳng định này hy vọng sẽ đồng nghĩa với Cánh cửa trở về quê hương mở rộng đối với bất cứ người Việt ở nước ngoài nào dù có chính kiến khác nhau, miễn là “không phương hại đến lợi ích quốc gia-dân tộc.”

Gã gặp nhiều người Việt tại Mỹ, Úc, châu Âu có chính kiến bất đồng với đảng CSVN. Họ khẳng định không bất đồng với Dân tộc, Đất nước VN. Đa số họ cho rằng dù bất đồng gì chăng nữa thì nhà nước không nên ngăn cản họ về với quê hương, Dân tộc.

Nhiều trí thức nổi tiếng như gsts Mai Thanh Truyết, từng đóng góp cho bảo vệ môi trường đồng bằng sông Cửu Long, và nhà nghiên cứu văn hoá Nguyễn Hưng Quốc rất tích cực giảng dạy và truyền bá tiếng Việt, trên facebook của mình nhiều lần viết lên khát vọng trở về quê hương. Tuy vậy tiếc rằng vì lý do nào đó đến nay cánh cửa trở về ấy chưa mở với họ.

Nhà báo Thuỵ Khuê từng có những bài viết, cuốn sách về “Nhân văn giai phẩm”không vừa ý với ai đó trong nước, dẫn đến những e ngại về chính trị làm cho nhà báo Thuỵ Khuê không thiện cảm với thể chế ở VN. Bước ngoặt xuất hiện khi nhà thơ Hoàng Hưng thuyết phục Thuỵ Khuê gửi một cuốn sách nghiên cứu văn hoá VN cho một nhà xuất bản trong nước in. 

Với nhiệt tình ủng hộ hoà hợp trí thức trong và ngoài nước bằng hành động cụ thể, bỏ qua các định kiến quá khứ, nhà văn Nguyễn Quang Thiều giám đốc nxb Hội NV lúc đó đã bảo lãnh cho cuốn sách được in. Thuỵ Khuê đã về nước dự lễ phát hành sách trong tình cảm của bè bạn văn chương. Chị đã quyết định tự mình tìm hiểu những thay đổi của Đất nước, từ đó chị cùng chồng, một nhà khoa học đã dâng tặng rẩt nhiều bức tranh quý của các hoạ sĩ hàng đầu VN mà vợ chồng chị sưu tập được cho Bảo tàng Mỹ thuật Tp HCM.

Nhạc sĩ Phạm Duy nhận thức rằng, mình trở về là trở về với Đất nước, quê hương, Đồng bào mình. Ông đã được hạnh phúc khi thấy các tác phẩm của mình được Đồng bào mình đón nhận. 

Ông từng nói với gã: chỉ khi được sống trong tình cảm quê hương, Dân tộc mới từng bước tìm ra tiếng nói chung với thể chế chính trị và bản thân nhà cầm quyền cũng sẽ tìm ra tiếng nói chung về quê hương, Dân tộc với những người họ từng dị nghị. 

Phạm Duy nói thẳng: hoà hợp không phải khẩu hiệu bô bô xoa dịu nhau mà là tình thương sự tôn trọng với nhau bằng hành động cụ thể nhất. Nhạc sĩ tác giả của “Tôi yêu tiếng nước tôi”nói trong nước mắt, với kẻ xa quê hương, thì hình phạt nặng nề nhất là lệnh cấm không được về lại quê hương. Bởi với kẻ xa quê hương thì nỗi nhớ khủng khiếp dai dẳng nhất đó là nỗi nhớ quê hương. Và niềm hạnh phúc lớn nhất là ngày được trở về thăm quê hương.

Riêng gã, gã luôn cho rằng Hoà hợp thì phải thấy rõ điểm Hợp. Hợp các nền tảng cốt lõi: hợp yêu nước, hợp thương Đồng bào, hợp mong muốn cùng chung tay vì một Tương lai tốt đẹp của Đất nước.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét