Khi lịch sử bắt đầu quay đầu: Trung Quốc còn cách Triều Tiên bao xa?
Mình đọc bài này trên mạng Trung Quốc, thấy là một lời cảnh báo cũng hay, nên đăng cho các bạn tham khảo. Trong bài có câu mình rất tâm đắc: "Mối nguy lớn nhất của một xã hội chưa bao giờ là việc người ta tranh luận gay gắt, mà là khi người ta ngừng tranh luận". Người dân Việt Nam cách đây mấy chục năm cũng thường nói: "Ra đường sợ nhất công nông (xe tự chế), Về nhà sợ nhất vợ không nói gì".Rất may là xu hướng tại Việt Nam không giống như cảnh báo ở Trung Quốc trong bài, không có nguy cơ xu hướng tập trung quyền lực và kiểm soát xã hội chặt chẽ như tại Trung Quốc. Khi đối chiếu với Việt Nam, có thể thấy chúng ta có sự tương đồng với Trung Quốc về mặt hình thức/công cụ quản trị vì đều là những nước xã hội chủ nghĩa, nhưng giữa hai nước có khác biệt căn bản về bản chất và mức độ thực thi.
Điểm khác biệt cốt lõi đầu tiên là Việt Nam duy trì cơ chế lãnh đạo tập thể và nguyên tắc đồng thuận trong Đảng, tránh sự thâu tóm quyền lực tuyệt đối vào tay một cá nhân hay làn sóng sùng bái cá nhân thái quá như thời kỳ lịch sử cũ. Thực tế cơ chế lãnh đạo tập thể không đồng nghĩa không có cá nhân nổi bật, nhưng vấn đề then chốt là quyền lực vẫn được vận hành thông qua các thiết chế và cơ chế tập thể.
Điểm khác biệt thứ hai là độ mở kinh tế và đối ngoại của Việt Nam rất cao. Việt Nam hội nhập rất sâu rộng với nền kinh tế toàn cầu thông qua thế "cân bằng chiến lược" (ngoại giao cây tre) và hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Việt Nam hiện là một trong những nền kinh tế có độ mở thuộc nhóm cao nhất thế giới. Kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu đều đã đạt quy mô tương đương, thậm chí năm 2026 đều vượt GDP danh nghĩa của nền kinh tế. Khu vực FDI chiếm khoảng 80% kim ngạch xuất khẩu, hàng triệu việc làm gắn với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Thị trường, kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài (FDI) đã trở nên rất lớn, đóng vai trò là động lực tăng trưởng quan trọng nhất. Những yếu tố này tạo ra các ràng buộc kinh tế trong nước và quốc tế rất mạnh. Một sự thu hẹp đáng kể của không gian thị trường hay hội nhập sẽ kéo theo chi phí kinh tế rất lớn. Đây có lẽ là lập luận có sức nặng giải thích vì sao bối cảnh của Việt Nam khác với điều mà bài viết dưới đây lo ngại đối với Trung Quốc.
Điểm khác biệt thứ ba là sức sống của xã hội dân sự ở Việt Nam rất cao. Người Việt Nam rất thực dụng, nên lịch sử cho thấy dù bị kiểm soát chính trị chặt chẽ, không gian cho kinh tế dân sinh, đời sống văn hóa, tiêu dùng và không gian mạng xã hội thường nhật tại Việt Nam vẫn rất sôi động, đa dạng và có độ "mềm dẻo", "chống chịu" nhất định chứ không rơi vào trạng thái đóng băng hay "muôn ngựa đều im tiếng" như ở Trung Quốc.
Chính vì vậy, có thể khẳng định Việt Nam đang sử dụng một số công cụ quản trị tương đồng với Trung Quốc để giữ vững ổn định chính trị, nhưng nhờ độ mở kinh tế cao và cơ chế lãnh đạo tập thể, Việt Nam không đi theo xu hướng khép kín hay quay đầu lịch sử như lo ngại của tác giả đối với Trung Quốc.
Chính vì vậy, có thể khẳng định Việt Nam đang sử dụng một số công cụ quản trị tương đồng với Trung Quốc để giữ vững ổn định chính trị, nhưng nhờ độ mở kinh tế cao và cơ chế lãnh đạo tập thể, Việt Nam không đi theo xu hướng khép kín hay quay đầu lịch sử như lo ngại của tác giả đối với Trung Quốc.
-----------------------------
Nội dung bài viết về Trung Quốc như sau.
Khi nói về Triều Tiên, nhiều người thường có thói quen xem đây là một quốc gia xa xôi và lạ lẫm. Họ chỉ thấy những khẩu hiệu tràn ngập, sự đồng điệu tắp lự, hệ thống tổ chức hiện diện khắp nơi, cấu trúc quyền lực tập trung cao độ, mạng lưới giám sát len lỏi vào từng tế bào xã hội, cùng sự nhào nặn toàn diện đối với ý chí, tư tưởng và lối sống của cá nhân.
Người ta ngạc nhiên vì sao quốc gia này lại trở thành như ngày hôm nay. Nhưng dường như họ đã quên mất một điều: Triều Tiên ngày nay không tự nhiên xuất hiện, nó có người thầy của riêng mình. Và người thầy đó chính là Trung Quốc của những năm 1950 đến những năm 1970.
Triều Tiên thời Kim Nhật Thành đã học tập Trung Quốc thời Mao Trạch Đông. Sự hình thành hệ tư tưởng Kim Nhật Thành chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi mô hình cách mạng Trung Quốc. Từ các cuộc vận động chính trị, cải tạo tư tưởng, huy động quần chúng, sùng bái cá nhân, tự sự đấu tranh giai cấp, hệ thống kinh tế kế hoạch cho đến phương thức tổ chức xã hội của Triều Tiên đều từng hút dưỡng chất từ kinh nghiệm thời kỳ cách mạng Trung Quốc.
Theo một nghĩa nào đó, Triều Tiên hôm nay là tấm gương phản chiếu lịch sử Trung Quốc ngày qua. Chỉ là tấm gương này đã bị bụi thời gian phủ mờ quá lâu, đến mức nhiều người Trung Quốc đã quên mất gương mặt bên trong đó.
Người ta đã quên đi bếp ăn tập thể; quên đi chính sách mua vét bán độc quyền; quên đi công xã nhân dân; quên việc ai ai cũng phải bày tỏ thái độ, chọn phe, vượt ải; quên các cuộc vận động chính trị, phê và tự phê ngày càng mở rộng; quên việc coi ý kiến trái chiều là kẻ thù, đơn giản hóa vấn đề phức tạp thành lập trường chính trị, và biến cuộc sống bình thường thành chuỗi vận động chính trị liên tục.
Quan trọng hơn, người ta quên rằng lịch sử chưa bao giờ đổi hướng đột ngột. Bất kỳ thể chế tập trung cao độ nào cũng không thể xây xong trong một ngày, nó luôn bắt đầu từ một ý định tốt đẹp: tập trung quyền lực để tăng hiệu quả, thống nhất tư tưởng để giữ đoàn kết, tăng cường kiểm soát để bảo đảm ổn định, hạn chế tự do để bảo vệ an toàn. Thế rồi, ngoại lệ biến thành bình thường, biện pháp tạm thời biến thành chế độ lâu dài, quản lý cục bộ biến thành quản lý toàn diện; cuối cùng, người ta nhận ra cả xã hội đã đi vào một quỹ đạo vận hành mới.
Khi nhìn lại hàng loạt hiện tượng ở Trung Quốc những năm gần đây, ta sẽ thấy chúng không phải là những sự tồn tại cô lập: Hợp tác xã cung tiêu quay lại tầm nhìn công chúng, quản lý cấp cơ sở ngày càng lưới hóa (mô hình chia ô quản lý), phạm vi thẩm tra lý lịch chính trị của sinh viên được mở rộng, kiểm soát không gian mạng được siết chặt, camera giám sát phủ rộng khắp nơi, hành vi vượt tường lửa bị đưa vào tầm ngắm, tư pháp nhấn mạnh thuộc tính chính trị, sáng tác văn nghệ phải tăng cường gánh vác sứ mệnh ý thức hệ, doanh nghiệp và hộ gia đình đối mặt với sự bất định ngày càng lớn, không gian phát triển của các tổ chức xã hội thu hẹp...
Nếu nhìn riêng lẻ, người ta luôn tìm được lý do hợp lý: Hợp tác xã để bảo đảm an toàn và ổn định chuỗi cung ứng, quản lý lưới hóa để tăng hiệu quả quản trị, thẩm tra lý lịch để bảo vệ an ninh quốc gia, kiểm soát mạng để chống tội phạm và tin đồn, tăng cường ý thức hệ để tăng sức gắn kết xã hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nâng cao hiệu quả ra quyết định. Mỗi lý do khi đứng một mình đều có vẻ xuôi tai. Tuy nhiên, khi tất cả sự thay đổi đều diễn ra theo cùng một hướng, chúng ta buộc phải đặt câu hỏi: Tất cả những điều này rốt cuộc có ý nghĩa gì?
Nó có nghĩa là quyền lực nhà nước không ngừng mở rộng, không gian xã hội không ngừng thu hẹp; logic hành chính tăng cường, logic thị trường thoái lùi; tư tưởng hướng về một mối, không gian biểu đạt bị nén lại; cá nhân liên tục bị tổ chức hấp thu, còn tổ chức liên tục bị quyền lực thâu tóm. Thế là, chúng ta thấy ngày càng nhiều người học cách im lặng, né tránh bày tỏ, chủ động tự kiểm duyệt, và tin rằng an toàn quan trọng hơn tự do, phục tùng quan trọng hơn bị nghi vấn, nhất trí quan trọng hơn đa dạng, ổn định đè bẹp tất cả. Và đó chính là thời khắc nguy hiểm nhất của lịch sử.
Mối nguy lớn nhất của một xã hội chưa bao giờ là việc người ta tranh luận gay gắt, mà là khi người ta ngừng tranh luận; không phải là sự tồn tại của các âm thanh khác nhau, mà là chỉ cho phép tồn tại một loại âm thanh; không phải là quyền lực mạnh mẽ, mà là quyền lực không còn bị ràng buộc. Trong lịch sử, nhiều quốc gia từng tin rằng chỉ cần tập trung sức mạnh là tạo ra kỳ tích, thống nhất tư tưởng là tránh được hỗn loạn, tăng cường kiểm soát là đổi lấy bình yên lâu dài. Nhưng kết quả thường là quyền lực ngày càng phình to, xã hội ngày càng mong manh; thể chế ngày càng chặt chẽ, sức sống ngày càng cạn kiệt; khẩu hiệu ngày càng hô to, thực tại lại ngày càng nặng nề.
Triều Tiên đã đi qua con đường như thế. Điều đáng cảnh giác hơn là người Trung Quốc vốn không nên xa lạ với điều này, vì chính họ đã từng trải qua. Họ từng thấy sự sùng bái cá nhân thay thế sự ràng buộc thể chế ra sao, vận động chính trị nuốt chửng cuộc sống bình thường thế nào, huy động quần chúng biến thành đấu tranh quần chúng ra sao, thống nhất tư tưởng dẫn đến cảnh "muôn ngựa đều im tiếng" thế nào, và cũng từng thấy quyền lực khi mất đi ranh giới thì người dân sẽ trả giá đắt ra sao. Chính vì từng trải qua nên càng không nên quên; chính vì từng trả giá nên càng không được lặp lại.
Hôm nay, Trung Quốc dĩ nhiên không phải là Triều Tiên. Trung Quốc có hệ thống công nghiệp khổng lồ, mạng lưới thị trường phức tạp, kinh tế tư nhân năng động và liên kết quốc tế rộng lớn. Điều người ta thực sự lo lắng chưa bao giờ là Trung Quốc hôm nay đã biến thành Triều Tiên; điều người ta lo lắng là liệu chúng ta có đang chậm rãi đi ngược lại con đường mà mình từng đi qua và từng nỗ lực thoát khỏi hay không.
Nơi tàn nhẫn nhất của lịch sử là nó không phải lúc nào cũng xuất hiện với diện mạo mới tinh. Nó thường đeo chiếc mặt nạ quen thuộc, nhân danh an toàn, ổn định, phát triển, trật tự, đoàn kết để một lần nữa gõ cửa... Đến khi người ta nhận ra thì nó đã trở nên to đùng và ngồi chễm chệ trong nhà.
"Trung Quốc còn cách Triều Tiên bao xa" có lẽ không phải là câu hỏi về khoảng cách không gian. Sông Áp Lục không quá rộng, vấn đề thực sự là chúng ta còn cách lịch sử của chính mình bao xa. Nếu một dân tộc quên đi ngày hôm qua của mình, thì ngày hôm qua sẽ một lần nữa biến thành ngày mai!
Khi nói về Triều Tiên, nhiều người thường có thói quen xem đây là một quốc gia xa xôi và lạ lẫm. Họ chỉ thấy những khẩu hiệu tràn ngập, sự đồng điệu tắp lự, hệ thống tổ chức hiện diện khắp nơi, cấu trúc quyền lực tập trung cao độ, mạng lưới giám sát len lỏi vào từng tế bào xã hội, cùng sự nhào nặn toàn diện đối với ý chí, tư tưởng và lối sống của cá nhân.
Người ta ngạc nhiên vì sao quốc gia này lại trở thành như ngày hôm nay. Nhưng dường như họ đã quên mất một điều: Triều Tiên ngày nay không tự nhiên xuất hiện, nó có người thầy của riêng mình. Và người thầy đó chính là Trung Quốc của những năm 1950 đến những năm 1970.
Triều Tiên thời Kim Nhật Thành đã học tập Trung Quốc thời Mao Trạch Đông. Sự hình thành hệ tư tưởng Kim Nhật Thành chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi mô hình cách mạng Trung Quốc. Từ các cuộc vận động chính trị, cải tạo tư tưởng, huy động quần chúng, sùng bái cá nhân, tự sự đấu tranh giai cấp, hệ thống kinh tế kế hoạch cho đến phương thức tổ chức xã hội của Triều Tiên đều từng hút dưỡng chất từ kinh nghiệm thời kỳ cách mạng Trung Quốc.
Theo một nghĩa nào đó, Triều Tiên hôm nay là tấm gương phản chiếu lịch sử Trung Quốc ngày qua. Chỉ là tấm gương này đã bị bụi thời gian phủ mờ quá lâu, đến mức nhiều người Trung Quốc đã quên mất gương mặt bên trong đó.
Người ta đã quên đi bếp ăn tập thể; quên đi chính sách mua vét bán độc quyền; quên đi công xã nhân dân; quên việc ai ai cũng phải bày tỏ thái độ, chọn phe, vượt ải; quên các cuộc vận động chính trị, phê và tự phê ngày càng mở rộng; quên việc coi ý kiến trái chiều là kẻ thù, đơn giản hóa vấn đề phức tạp thành lập trường chính trị, và biến cuộc sống bình thường thành chuỗi vận động chính trị liên tục.
Quan trọng hơn, người ta quên rằng lịch sử chưa bao giờ đổi hướng đột ngột. Bất kỳ thể chế tập trung cao độ nào cũng không thể xây xong trong một ngày, nó luôn bắt đầu từ một ý định tốt đẹp: tập trung quyền lực để tăng hiệu quả, thống nhất tư tưởng để giữ đoàn kết, tăng cường kiểm soát để bảo đảm ổn định, hạn chế tự do để bảo vệ an toàn. Thế rồi, ngoại lệ biến thành bình thường, biện pháp tạm thời biến thành chế độ lâu dài, quản lý cục bộ biến thành quản lý toàn diện; cuối cùng, người ta nhận ra cả xã hội đã đi vào một quỹ đạo vận hành mới.
Khi nhìn lại hàng loạt hiện tượng ở Trung Quốc những năm gần đây, ta sẽ thấy chúng không phải là những sự tồn tại cô lập: Hợp tác xã cung tiêu quay lại tầm nhìn công chúng, quản lý cấp cơ sở ngày càng lưới hóa (mô hình chia ô quản lý), phạm vi thẩm tra lý lịch chính trị của sinh viên được mở rộng, kiểm soát không gian mạng được siết chặt, camera giám sát phủ rộng khắp nơi, hành vi vượt tường lửa bị đưa vào tầm ngắm, tư pháp nhấn mạnh thuộc tính chính trị, sáng tác văn nghệ phải tăng cường gánh vác sứ mệnh ý thức hệ, doanh nghiệp và hộ gia đình đối mặt với sự bất định ngày càng lớn, không gian phát triển của các tổ chức xã hội thu hẹp...
Nếu nhìn riêng lẻ, người ta luôn tìm được lý do hợp lý: Hợp tác xã để bảo đảm an toàn và ổn định chuỗi cung ứng, quản lý lưới hóa để tăng hiệu quả quản trị, thẩm tra lý lịch để bảo vệ an ninh quốc gia, kiểm soát mạng để chống tội phạm và tin đồn, tăng cường ý thức hệ để tăng sức gắn kết xã hội, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng để nâng cao hiệu quả ra quyết định. Mỗi lý do khi đứng một mình đều có vẻ xuôi tai. Tuy nhiên, khi tất cả sự thay đổi đều diễn ra theo cùng một hướng, chúng ta buộc phải đặt câu hỏi: Tất cả những điều này rốt cuộc có ý nghĩa gì?
Nó có nghĩa là quyền lực nhà nước không ngừng mở rộng, không gian xã hội không ngừng thu hẹp; logic hành chính tăng cường, logic thị trường thoái lùi; tư tưởng hướng về một mối, không gian biểu đạt bị nén lại; cá nhân liên tục bị tổ chức hấp thu, còn tổ chức liên tục bị quyền lực thâu tóm. Thế là, chúng ta thấy ngày càng nhiều người học cách im lặng, né tránh bày tỏ, chủ động tự kiểm duyệt, và tin rằng an toàn quan trọng hơn tự do, phục tùng quan trọng hơn bị nghi vấn, nhất trí quan trọng hơn đa dạng, ổn định đè bẹp tất cả. Và đó chính là thời khắc nguy hiểm nhất của lịch sử.
Mối nguy lớn nhất của một xã hội chưa bao giờ là việc người ta tranh luận gay gắt, mà là khi người ta ngừng tranh luận; không phải là sự tồn tại của các âm thanh khác nhau, mà là chỉ cho phép tồn tại một loại âm thanh; không phải là quyền lực mạnh mẽ, mà là quyền lực không còn bị ràng buộc. Trong lịch sử, nhiều quốc gia từng tin rằng chỉ cần tập trung sức mạnh là tạo ra kỳ tích, thống nhất tư tưởng là tránh được hỗn loạn, tăng cường kiểm soát là đổi lấy bình yên lâu dài. Nhưng kết quả thường là quyền lực ngày càng phình to, xã hội ngày càng mong manh; thể chế ngày càng chặt chẽ, sức sống ngày càng cạn kiệt; khẩu hiệu ngày càng hô to, thực tại lại ngày càng nặng nề.
Triều Tiên đã đi qua con đường như thế. Điều đáng cảnh giác hơn là người Trung Quốc vốn không nên xa lạ với điều này, vì chính họ đã từng trải qua. Họ từng thấy sự sùng bái cá nhân thay thế sự ràng buộc thể chế ra sao, vận động chính trị nuốt chửng cuộc sống bình thường thế nào, huy động quần chúng biến thành đấu tranh quần chúng ra sao, thống nhất tư tưởng dẫn đến cảnh "muôn ngựa đều im tiếng" thế nào, và cũng từng thấy quyền lực khi mất đi ranh giới thì người dân sẽ trả giá đắt ra sao. Chính vì từng trải qua nên càng không nên quên; chính vì từng trả giá nên càng không được lặp lại.
Hôm nay, Trung Quốc dĩ nhiên không phải là Triều Tiên. Trung Quốc có hệ thống công nghiệp khổng lồ, mạng lưới thị trường phức tạp, kinh tế tư nhân năng động và liên kết quốc tế rộng lớn. Điều người ta thực sự lo lắng chưa bao giờ là Trung Quốc hôm nay đã biến thành Triều Tiên; điều người ta lo lắng là liệu chúng ta có đang chậm rãi đi ngược lại con đường mà mình từng đi qua và từng nỗ lực thoát khỏi hay không.
Nơi tàn nhẫn nhất của lịch sử là nó không phải lúc nào cũng xuất hiện với diện mạo mới tinh. Nó thường đeo chiếc mặt nạ quen thuộc, nhân danh an toàn, ổn định, phát triển, trật tự, đoàn kết để một lần nữa gõ cửa... Đến khi người ta nhận ra thì nó đã trở nên to đùng và ngồi chễm chệ trong nhà.
"Trung Quốc còn cách Triều Tiên bao xa" có lẽ không phải là câu hỏi về khoảng cách không gian. Sông Áp Lục không quá rộng, vấn đề thực sự là chúng ta còn cách lịch sử của chính mình bao xa. Nếu một dân tộc quên đi ngày hôm qua của mình, thì ngày hôm qua sẽ một lần nữa biến thành ngày mai!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét