Tại sao Mỹ phải ra tay cứu đồng Yên ?
Ngày 31 tháng 7, Tổng thống Mỹ Trump đã tổ chức cuộc họp nội các tại Trại David. Ống kính truyền thông bắt gặp trang sổ tay đặt trên bàn của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Bessent có ghi một mục cần làm: "Buy Japanese Yen $5-10 bil" (Mua vào 5 tỷ đến 10 tỷ USD đồng Yên Nhật).1. Đồng Yên suy thoái trầm trọng
Thực ra trước đó một ngày, thị trường đã đánh hơi thấy mùi vị Mỹ - Nhật bắt tay vào cuộc giải cứu đồng Yên. Việc cuốn sổ tay bị rò rỉ càng khiến lực mua đồng Yên gia tăng thêm.
Mấy ngày sau, đáp án đã được hé lộ.
Bộ Tài chính Mỹ xác nhận, hai nước Mỹ và Nhật Bản đã phối hợp can thiệp thị trường ngoại hối, thông qua việc mua vào đồng Yên và bán ra ngoại tệ, nhằm nỗ lực ngăn chặn đồng Yên tiếp tục mất giá. Ông Trump sau đó xác nhận Mỹ tham gia vào hành động lần này là vì Nhật Bản thỉnh cầu trợ giúp, đồng thời nói rằng đây là biểu hiện cho "tình hữu nghị" giữa hai nước.
Ngay sau khi thông tin được công bố, đồng Yên, vốn có lúc áp sát mốc 1 USD đổi 164 Yên, chạm mức thấp nhất trong gần 40 năm, đã nhanh chóng bật tăng trở lại. Qua ba phiên giao dịch, đồng Yên đã tăng giá tổng cộng khoảng 5%, có lúc phục hồi về quanh mốc 155.
Chiến dịch này thu hút sự chú ý không chỉ vì đồng Yên rơi xuống mức thấp nhất trong 40 năm, mà còn vì Mỹ đã tự mình can thiệp vào xu hướng tiền tệ của đồng minh sau nhiều năm rời xa.
Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1998, Mỹ và Nhật Bản bắt tay mua vào đồng Yên nhằm ngăn chặn đồng tiền này mất giá. Lần phối hợp can thiệp thị trường hối đoái gần đây nhất của hai nước phải ngược dòng thời gian về thời điểm sau thảm họa Nhật Bản năm 2011, khi đó Nhóm 7 nước phát triển (G7) đã phối hợp bán ra đồng Yên để tránh việc đồng Yên tăng giá quá nhanh gây sốc cho nền kinh tế Nhật Bản.
Một lần là bắt tay dập lửa dưới tác động của khủng hoảng tài chính châu Á; một lần là hạ nhiệt khẩn cấp khi đồng Yên vọt tăng sau thiên tai. Lần này, thứ Mỹ phải đối mặt là việc đồng Yên liên tục sụt giảm, có khả năng kích hoạt một cuộc khủng hoảng lan rộng đến chính bản thân mình.
Thực ra trước đó một ngày, thị trường đã đánh hơi thấy mùi vị Mỹ - Nhật bắt tay vào cuộc giải cứu đồng Yên. Việc cuốn sổ tay bị rò rỉ càng khiến lực mua đồng Yên gia tăng thêm.
Mấy ngày sau, đáp án đã được hé lộ.
Bộ Tài chính Mỹ xác nhận, hai nước Mỹ và Nhật Bản đã phối hợp can thiệp thị trường ngoại hối, thông qua việc mua vào đồng Yên và bán ra ngoại tệ, nhằm nỗ lực ngăn chặn đồng Yên tiếp tục mất giá. Ông Trump sau đó xác nhận Mỹ tham gia vào hành động lần này là vì Nhật Bản thỉnh cầu trợ giúp, đồng thời nói rằng đây là biểu hiện cho "tình hữu nghị" giữa hai nước.
Ngay sau khi thông tin được công bố, đồng Yên, vốn có lúc áp sát mốc 1 USD đổi 164 Yên, chạm mức thấp nhất trong gần 40 năm, đã nhanh chóng bật tăng trở lại. Qua ba phiên giao dịch, đồng Yên đã tăng giá tổng cộng khoảng 5%, có lúc phục hồi về quanh mốc 155.
Chiến dịch này thu hút sự chú ý không chỉ vì đồng Yên rơi xuống mức thấp nhất trong 40 năm, mà còn vì Mỹ đã tự mình can thiệp vào xu hướng tiền tệ của đồng minh sau nhiều năm rời xa.
Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1998, Mỹ và Nhật Bản bắt tay mua vào đồng Yên nhằm ngăn chặn đồng tiền này mất giá. Lần phối hợp can thiệp thị trường hối đoái gần đây nhất của hai nước phải ngược dòng thời gian về thời điểm sau thảm họa Nhật Bản năm 2011, khi đó Nhóm 7 nước phát triển (G7) đã phối hợp bán ra đồng Yên để tránh việc đồng Yên tăng giá quá nhanh gây sốc cho nền kinh tế Nhật Bản.
Một lần là bắt tay dập lửa dưới tác động của khủng hoảng tài chính châu Á; một lần là hạ nhiệt khẩn cấp khi đồng Yên vọt tăng sau thiên tai. Lần này, thứ Mỹ phải đối mặt là việc đồng Yên liên tục sụt giảm, có khả năng kích hoạt một cuộc khủng hoảng lan rộng đến chính bản thân mình.
2. Nhật bất lực trong việc đảo đà suy thoái của đồng Yên
Không phải lần đầu tiên Nhật Bản tìm cách ngăn chặn đồng Yên lao dốc.
Năm 2022, Nhật Bản chấm dứt chính sách lâu nay là tránh can thiệp thị trường hối đoái, quay lại áp dụng phương thức mua Yên bán USD để ổn định tỷ giá. Sau đó, cùng với việc đồng Yên liên tục suy yếu, chính quyền Nhật Bản đã nhiều lần vào cuộc.
Từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5 năm nay, Nhật Bản liên tục tăng cường can thiệp, tính dồn đã bán tới khoảng 74 tỷ USD, lập kỷ lục lịch sử về quy mô can thiệp trong một tháng.
Nhưng thị trường nhanh chóng chứng minh rằng, chỉ dựa vào sức của riêng Nhật Bản thì rất khó đảo ngược xu thế. Sau đợt can thiệp tháng 4, đồng Yên phục hồi ngắn hạn rồi tiếp tục chịu áp lực, đến cuối tháng 7 lại một lần nữa áp sát mốc 1 USD đổi 164 Yên.
Tỷ giá đồng Yên so với USD từng có lúc thủng mốc 164, thị trường lo ngại nếu không giữ được mốc 165, tỷ giá sẽ lao về phía 170. Lúc này thị trường rất dễ xuất hiện hiệu ứng đám đông, các nhà đầu tư hùa theo bán khống đồng Yên, tạo thành các giao dịch thuận chu kỳ. Kỳ vọng giảm giá của đồng Yên liên tục được củng cố, giá giảm lại càng làm gia tăng tâm lý tiêu cực, tạo thành vòng xoáy đi xuống.
Can thiệp tỷ giá có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng thị trường trong ngắn hạn, nhưng khó thay đổi được xu hướng dài hạn. Động lực thúc đẩy căn bản nhất vẫn là chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật.
Mặc dù Ngân hàng Trung ương Nhật Bản vào tháng 6 đã nâng lãi suất chính sách lên mức 1%, mức cao nhất trong 31 năm, nhưng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn duy trì lập trường thắt chặt. Chênh lệch lãi suất giữa hai nước rất lớn, các giao dịch kinh doanh chênh lệch lãi suất (carry trade), vay đồng Yên lãi suất thấp để đầu tư vào tài sản sinh lời cao, tiếp tục tồn tại, tạo thành nền tảng cơ bản để bán khống đồng Yên.
3. Giá dầu ở mức cao càng làm gia tăng áp lực tỷ giá lên Nhật Bản.
Năng lượng của Nhật Bản phụ thuộc cao vào nhập khẩu, giá dầu tăng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần chi trả nhiều USD hơn để mua năng lượng. Các doanh nghiệp nhập khẩu liên tục bán Yên mua USD, điều kiện thương mại xấu đi càng gây áp lực tới giá đồng Yên.
Hiệu quả can thiệp của Nhật Bản ngày càng hạn chế, một nguyên nhân là thị trường đã dần nắm thóp được ranh giới năng lực hành động của Nhật Bản. Can thiệp càng thường xuyên, thị trường càng 'thích nghi', cuối cùng dẫn đến hiệu quả biên của việc can thiệp giảm dần.
Chính vì vậy, thứ Nhật Bản cần lần này không chỉ là nhiều tiền hơn, mà là một lực lượng bên ngoài đủ để làm đảo lộn kỳ vọng của thị trường.
Không phải lần đầu tiên Nhật Bản tìm cách ngăn chặn đồng Yên lao dốc.
Năm 2022, Nhật Bản chấm dứt chính sách lâu nay là tránh can thiệp thị trường hối đoái, quay lại áp dụng phương thức mua Yên bán USD để ổn định tỷ giá. Sau đó, cùng với việc đồng Yên liên tục suy yếu, chính quyền Nhật Bản đã nhiều lần vào cuộc.
Từ cuối tháng 4 đến cuối tháng 5 năm nay, Nhật Bản liên tục tăng cường can thiệp, tính dồn đã bán tới khoảng 74 tỷ USD, lập kỷ lục lịch sử về quy mô can thiệp trong một tháng.
Nhưng thị trường nhanh chóng chứng minh rằng, chỉ dựa vào sức của riêng Nhật Bản thì rất khó đảo ngược xu thế. Sau đợt can thiệp tháng 4, đồng Yên phục hồi ngắn hạn rồi tiếp tục chịu áp lực, đến cuối tháng 7 lại một lần nữa áp sát mốc 1 USD đổi 164 Yên.
Tỷ giá đồng Yên so với USD từng có lúc thủng mốc 164, thị trường lo ngại nếu không giữ được mốc 165, tỷ giá sẽ lao về phía 170. Lúc này thị trường rất dễ xuất hiện hiệu ứng đám đông, các nhà đầu tư hùa theo bán khống đồng Yên, tạo thành các giao dịch thuận chu kỳ. Kỳ vọng giảm giá của đồng Yên liên tục được củng cố, giá giảm lại càng làm gia tăng tâm lý tiêu cực, tạo thành vòng xoáy đi xuống.
Can thiệp tỷ giá có thể ảnh hưởng đến kỳ vọng thị trường trong ngắn hạn, nhưng khó thay đổi được xu hướng dài hạn. Động lực thúc đẩy căn bản nhất vẫn là chênh lệch lãi suất Mỹ - Nhật.
Mặc dù Ngân hàng Trung ương Nhật Bản vào tháng 6 đã nâng lãi suất chính sách lên mức 1%, mức cao nhất trong 31 năm, nhưng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) vẫn duy trì lập trường thắt chặt. Chênh lệch lãi suất giữa hai nước rất lớn, các giao dịch kinh doanh chênh lệch lãi suất (carry trade), vay đồng Yên lãi suất thấp để đầu tư vào tài sản sinh lời cao, tiếp tục tồn tại, tạo thành nền tảng cơ bản để bán khống đồng Yên.
3. Giá dầu ở mức cao càng làm gia tăng áp lực tỷ giá lên Nhật Bản.
Năng lượng của Nhật Bản phụ thuộc cao vào nhập khẩu, giá dầu tăng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp cần chi trả nhiều USD hơn để mua năng lượng. Các doanh nghiệp nhập khẩu liên tục bán Yên mua USD, điều kiện thương mại xấu đi càng gây áp lực tới giá đồng Yên.
Hiệu quả can thiệp của Nhật Bản ngày càng hạn chế, một nguyên nhân là thị trường đã dần nắm thóp được ranh giới năng lực hành động của Nhật Bản. Can thiệp càng thường xuyên, thị trường càng 'thích nghi', cuối cùng dẫn đến hiệu quả biên của việc can thiệp giảm dần.
Chính vì vậy, thứ Nhật Bản cần lần này không chỉ là nhiều tiền hơn, mà là một lực lượng bên ngoài đủ để làm đảo lộn kỳ vọng của thị trường.
4. Can thiệp của Mỹ
Sự gia nhập của Mỹ vừa vặn cung cấp tín hiệu này. Trong quá khứ, việc phối hợp can thiệp thường là để dập tắt những ngọn lửa đã bùng lên; còn lần này, thứ Mỹ và Nhật Bản tìm cách ngăn chặn là việc thị trường biến đà sụt giảm của đồng Yên thành một cuộc giẫm đạp mất kiểm soát.
Ông Trump giải thích việc Mỹ tham gia can thiệp là "tình hữu nghị" đối với Nhật Bản, nhưng trên thị trường tiền tệ, "tình hữu nghị" thường từ lâu đã được định giá sẵn.
Về thời điểm nhảy vào cuộc, Mỹ đã tính toán không ít.
Thứ nhất, đồng Yên đã giảm xuống mức cực đoan chưa từng thấy trong 40 năm qua, kỳ vọng mất giá một chiều đạt độ thống nhất rất cao, các vị thế bán khống dồn nén đông đúc, thị trường cực kỳ nhạy cảm với hành động của giới chức. Mỹ nhập cuộc lúc này sẽ đạt hiệu quả biên tốt nhất; việc phối hợp can thiệp đánh trúng vào cấu trúc vị thế yếu ớt nhất, không cần động thái quá lớn cũng có thể kích hoạt làn sóng đóng vị thế tập trung của bên bán khống, thu được hiệu quả "bỏ một công thu mười lời".
Thứ hai, việc Nhật Bản đơn phương can thiệp đã nhiều lần chứng minh hiệu quả hạn chế, năng lực hành động của họ đã tiến sát ranh giới, Mỹ ra tay lúc này mới tối đa hóa được hiệu ứng đe dọa của sự phối hợp.
Thứ ba, một tầng tính toán khác là tranh thủ chủ động quản trị rủi ro trước khi các giao dịch chênh lệch lãi suất có thể xảy ra chuỗi phản ứng ngược, tránh cho cổ phiếu Mỹ và trái phiếu Mỹ bị thụ động chịu áp lực, đồng thời tranh thủ cửa sổ thời gian cho việc bình thường hóa chính sách tiền tệ của Nhật Bản.
Về động cơ, cái gọi là "có lợi ích kinh tế" như lời ông Trump nói vừa có lợi ích tài chính, vừa có lợi ích thương mại.
Về mặt lợi ích tài chính, Nhật Bản là quốc gia nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ lớn nhất ở nước ngoài. Nếu đồng Yên mất giá ép Nhật Bản phải bán tháo trái phiếu Mỹ để huy động vốn can thiệp, điều đó sẽ đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ lên cao, đe dọa trực tiếp đến chi phí vốn của chính bản thân Mỹ.
Nhật Bản lại vừa hay là một trong những chủ nợ nước ngoài quan trọng nhất của Mỹ, quy mô nắm giữ trái phiếu Mỹ từ lâu luôn duy trì quanh mốc 1.000 tỷ USD.
Gần đây, lo ngại của thị trường về việc dòng vốn Nhật Bản rút về nước và giảm tỷ trọng nắm giữ trái phiếu Mỹ liên tục leo thang.
Tờ Tờ báo Kinh tế Nhật Bản (Nihon Keizai Shimbun) viết một động lực quan trọng khiến phía Mỹ lựa chọn can thiệp là lo ngại việc "bán tháo Nhật Bản" cuối cùng sẽ biến thành "bán tháo Nước Mỹ". Lãi suất Nhật Bản tăng lên làm trầm trọng thêm lo ngại của thị trường về việc dòng vốn quay về nước, cùng thời kỳ đó lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn dài cũng tăng lên rõ rệt.
Nếu Nhật Bản tiếp tục đơn phương can thiệp thì cần sử dụng lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ, thậm chí bán tháo hàng trăm tỷ đô la trái phiếu Mỹ để chuẩn bị nguồn vốn USD. Việc Mỹ tham gia vào quá trình này có một tính toán quan trọng là tránh việc Nhật Bản bán trái phiếu Mỹ gây thêm áp lực cho thị trường trái phiếu Mỹ.
Nói một cách trắng ra, Mỹ giúp Nhật Bản đỡ giá đồng Yên thực chất là đang tìm cách bảo vệ nhu cầu đối với trái phiếu Mỹ.
Ngoài áp lực thị trường trái phiếu, Mỹ còn có nỗi lo tài chính thứ hai: Một khi các giao dịch chênh lệch lãi suất bằng đồng Yên đồng loạt đóng vị thế tập trung, nó có thể gây sốc cho các tài sản rủi ro toàn cầu.
Hãng tin Reuters cho rằng trong nhiều năm qua, đồng Yên lãi suất thấp đã cung cấp một lượng lớn nguồn vốn giá rẻ cho thị trường toàn cầu. Dòng vốn sau khi vay đồng Yên đã chảy vào cổ phiếu công nghệ Mỹ, trái phiếu doanh nghiệp, tài sản thị trường mới nổi và các loại giao dịch sinh lời cao khác.
Sự đảo ngược của loại giao dịch chênh lệch lãi suất này không phải là sự biến động ngoại hối thông thường. Đồng Yên tăng giá nhanh chóng có thể ép một lượng lớn nhà đầu tư phải tập trung đóng vị thế, từ đó làm gia tăng sự biến động trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản rủi ro khác của Mỹ.
Vì vậy, Mỹ đối mặt với một sự cân bằng mỏng manh: Vừa không thể ngồi nhìn đồng Yên mất giá vô hạn, lại vừa không thể để đồng Yên tăng giá mất trật tự trong thời gian ngắn.
Thứ Mỹ thực sự cần không phải là một đồng Yên liên tục suy yếu hay liên tục mạnh lên, mà là một đồng Yên duy trì được sự ổn định để cho chính nền kinh tế Mỹ cũng ổn định.
5. Tác động đối với Việt Nam
Một động thái quy mô lớn từ hai nền kinh tế hàng đầu thế giới luôn tạo ra sóng chấn động tới các thị trường nổi như Việt Nam.
- Tác động tích cực (ngắn và trung hạn)
Giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND: Việc Mỹ bắt tay ghìm đà tăng giá quá đà của USD và nâng đỡ đồng Yên giúp chỉ số sức mạnh đồng USD (DXY) hạ nhiệt. Điều này giảm bớt áp lực mất giá lên đồng Việt Nam (VND), giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dễ thở hơn trong điều hành chính sách tiền tệ mà không nhất thiết phải chịu áp lực tăng lãi suất hay can thiệp bán ngoại tệ mạnh tay.
Doanh nghiệp đang vay nợ bằng đồng Yên (JPY): Các doanh nghiệp Việt Nam có khoản vay lớn bằng JPY (như nhiệt điện, hạ tầng, năng lượng) bớt lo ngại về nguy cơ đồng Yên sụt giảm vô đáy gây xáo trộn lỗ/lãi tỷ giá hoặc biến động giật cục đột ngột.
Thương mại và Dòng vốn FDI từ Nhật Bản: Đồng Yên ổn định và phục hồi giúp tăng sức mua của người tiêu dùng Nhật Bản đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam (nông sản, dệt may, linh kiện). Đồng thời, sức mạnh tài chính của các tập đoàn Nhật Bản được củng cố, thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và dòng tiền gửi về từ người lao động Việt Nam tại Nhật.
- Rủi ro và thách thức cần theo dõi
Biến động ngắn hạn trên thị trường chứng khoán: Nếu các can thiệp tiền tệ kích hoạt làn sóng hủy giao dịch chênh lệch lãi suất (Carry Trade) nhanh hơn dự kiến trên toàn cầu, dòng vốn ngoại rút khỏi các tài sản rủi ro có thể tạo đợt rung lắc ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cạnh tranh thương mại: Khi đồng Yên phục hồi giá trị, sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất tại Nhật Bản nhích nhẹ lên, nhưng đồng thời chi phí nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ từ Nhật Bản về Việt Nam cũng sẽ đắt hơn tương đối so với giai đoạn Yên giá rẻ.
Hành động can thiệp này mang lại hiệu ứng giải tỏa tâm lý và hạ nhiệt rủi ro tỷ giá cho khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam hưởng lợi gián tiếp từ sự ổn định trở lại của cặp tỷ giá USD/JPY.
Bessent's secret yen note leaked? Trump confirms Japan currency intervention
Sự gia nhập của Mỹ vừa vặn cung cấp tín hiệu này. Trong quá khứ, việc phối hợp can thiệp thường là để dập tắt những ngọn lửa đã bùng lên; còn lần này, thứ Mỹ và Nhật Bản tìm cách ngăn chặn là việc thị trường biến đà sụt giảm của đồng Yên thành một cuộc giẫm đạp mất kiểm soát.
Ông Trump giải thích việc Mỹ tham gia can thiệp là "tình hữu nghị" đối với Nhật Bản, nhưng trên thị trường tiền tệ, "tình hữu nghị" thường từ lâu đã được định giá sẵn.
Về thời điểm nhảy vào cuộc, Mỹ đã tính toán không ít.
Thứ nhất, đồng Yên đã giảm xuống mức cực đoan chưa từng thấy trong 40 năm qua, kỳ vọng mất giá một chiều đạt độ thống nhất rất cao, các vị thế bán khống dồn nén đông đúc, thị trường cực kỳ nhạy cảm với hành động của giới chức. Mỹ nhập cuộc lúc này sẽ đạt hiệu quả biên tốt nhất; việc phối hợp can thiệp đánh trúng vào cấu trúc vị thế yếu ớt nhất, không cần động thái quá lớn cũng có thể kích hoạt làn sóng đóng vị thế tập trung của bên bán khống, thu được hiệu quả "bỏ một công thu mười lời".
Thứ hai, việc Nhật Bản đơn phương can thiệp đã nhiều lần chứng minh hiệu quả hạn chế, năng lực hành động của họ đã tiến sát ranh giới, Mỹ ra tay lúc này mới tối đa hóa được hiệu ứng đe dọa của sự phối hợp.
Thứ ba, một tầng tính toán khác là tranh thủ chủ động quản trị rủi ro trước khi các giao dịch chênh lệch lãi suất có thể xảy ra chuỗi phản ứng ngược, tránh cho cổ phiếu Mỹ và trái phiếu Mỹ bị thụ động chịu áp lực, đồng thời tranh thủ cửa sổ thời gian cho việc bình thường hóa chính sách tiền tệ của Nhật Bản.
Về động cơ, cái gọi là "có lợi ích kinh tế" như lời ông Trump nói vừa có lợi ích tài chính, vừa có lợi ích thương mại.
Về mặt lợi ích tài chính, Nhật Bản là quốc gia nắm giữ trái phiếu chính phủ Mỹ lớn nhất ở nước ngoài. Nếu đồng Yên mất giá ép Nhật Bản phải bán tháo trái phiếu Mỹ để huy động vốn can thiệp, điều đó sẽ đẩy lợi suất trái phiếu Mỹ lên cao, đe dọa trực tiếp đến chi phí vốn của chính bản thân Mỹ.
Nhật Bản lại vừa hay là một trong những chủ nợ nước ngoài quan trọng nhất của Mỹ, quy mô nắm giữ trái phiếu Mỹ từ lâu luôn duy trì quanh mốc 1.000 tỷ USD.
Gần đây, lo ngại của thị trường về việc dòng vốn Nhật Bản rút về nước và giảm tỷ trọng nắm giữ trái phiếu Mỹ liên tục leo thang.
Tờ Tờ báo Kinh tế Nhật Bản (Nihon Keizai Shimbun) viết một động lực quan trọng khiến phía Mỹ lựa chọn can thiệp là lo ngại việc "bán tháo Nhật Bản" cuối cùng sẽ biến thành "bán tháo Nước Mỹ". Lãi suất Nhật Bản tăng lên làm trầm trọng thêm lo ngại của thị trường về việc dòng vốn quay về nước, cùng thời kỳ đó lợi suất trái phiếu chính phủ Mỹ kỳ hạn dài cũng tăng lên rõ rệt.
Nếu Nhật Bản tiếp tục đơn phương can thiệp thì cần sử dụng lượng dự trữ ngoại hối khổng lồ, thậm chí bán tháo hàng trăm tỷ đô la trái phiếu Mỹ để chuẩn bị nguồn vốn USD. Việc Mỹ tham gia vào quá trình này có một tính toán quan trọng là tránh việc Nhật Bản bán trái phiếu Mỹ gây thêm áp lực cho thị trường trái phiếu Mỹ.
Nói một cách trắng ra, Mỹ giúp Nhật Bản đỡ giá đồng Yên thực chất là đang tìm cách bảo vệ nhu cầu đối với trái phiếu Mỹ.
Ngoài áp lực thị trường trái phiếu, Mỹ còn có nỗi lo tài chính thứ hai: Một khi các giao dịch chênh lệch lãi suất bằng đồng Yên đồng loạt đóng vị thế tập trung, nó có thể gây sốc cho các tài sản rủi ro toàn cầu.
Hãng tin Reuters cho rằng trong nhiều năm qua, đồng Yên lãi suất thấp đã cung cấp một lượng lớn nguồn vốn giá rẻ cho thị trường toàn cầu. Dòng vốn sau khi vay đồng Yên đã chảy vào cổ phiếu công nghệ Mỹ, trái phiếu doanh nghiệp, tài sản thị trường mới nổi và các loại giao dịch sinh lời cao khác.
Sự đảo ngược của loại giao dịch chênh lệch lãi suất này không phải là sự biến động ngoại hối thông thường. Đồng Yên tăng giá nhanh chóng có thể ép một lượng lớn nhà đầu tư phải tập trung đóng vị thế, từ đó làm gia tăng sự biến động trên thị trường cổ phiếu, trái phiếu và các tài sản rủi ro khác của Mỹ.
Vì vậy, Mỹ đối mặt với một sự cân bằng mỏng manh: Vừa không thể ngồi nhìn đồng Yên mất giá vô hạn, lại vừa không thể để đồng Yên tăng giá mất trật tự trong thời gian ngắn.
Thứ Mỹ thực sự cần không phải là một đồng Yên liên tục suy yếu hay liên tục mạnh lên, mà là một đồng Yên duy trì được sự ổn định để cho chính nền kinh tế Mỹ cũng ổn định.
5. Tác động đối với Việt Nam
Một động thái quy mô lớn từ hai nền kinh tế hàng đầu thế giới luôn tạo ra sóng chấn động tới các thị trường nổi như Việt Nam.
- Tác động tích cực (ngắn và trung hạn)
Giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND: Việc Mỹ bắt tay ghìm đà tăng giá quá đà của USD và nâng đỡ đồng Yên giúp chỉ số sức mạnh đồng USD (DXY) hạ nhiệt. Điều này giảm bớt áp lực mất giá lên đồng Việt Nam (VND), giúp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam dễ thở hơn trong điều hành chính sách tiền tệ mà không nhất thiết phải chịu áp lực tăng lãi suất hay can thiệp bán ngoại tệ mạnh tay.
Doanh nghiệp đang vay nợ bằng đồng Yên (JPY): Các doanh nghiệp Việt Nam có khoản vay lớn bằng JPY (như nhiệt điện, hạ tầng, năng lượng) bớt lo ngại về nguy cơ đồng Yên sụt giảm vô đáy gây xáo trộn lỗ/lãi tỷ giá hoặc biến động giật cục đột ngột.
Thương mại và Dòng vốn FDI từ Nhật Bản: Đồng Yên ổn định và phục hồi giúp tăng sức mua của người tiêu dùng Nhật Bản đối với hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam (nông sản, dệt may, linh kiện). Đồng thời, sức mạnh tài chính của các tập đoàn Nhật Bản được củng cố, thúc đẩy dòng vốn đầu tư trực tiếp (FDI) và dòng tiền gửi về từ người lao động Việt Nam tại Nhật.
- Rủi ro và thách thức cần theo dõi
Biến động ngắn hạn trên thị trường chứng khoán: Nếu các can thiệp tiền tệ kích hoạt làn sóng hủy giao dịch chênh lệch lãi suất (Carry Trade) nhanh hơn dự kiến trên toàn cầu, dòng vốn ngoại rút khỏi các tài sản rủi ro có thể tạo đợt rung lắc ngắn hạn trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Cạnh tranh thương mại: Khi đồng Yên phục hồi giá trị, sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất tại Nhật Bản nhích nhẹ lên, nhưng đồng thời chi phí nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ từ Nhật Bản về Việt Nam cũng sẽ đắt hơn tương đối so với giai đoạn Yên giá rẻ.
Hành động can thiệp này mang lại hiệu ứng giải tỏa tâm lý và hạ nhiệt rủi ro tỷ giá cho khu vực Đông Nam Á, trong đó Việt Nam hưởng lợi gián tiếp từ sự ổn định trở lại của cặp tỷ giá USD/JPY.
Bessent's secret yen note leaked? Trump confirms Japan currency intervention
https://www.youtube.com/watch?v=yLh1W6aQSm0&t=1s
Video này cung cấp hình ảnh và phân tích chi tiết về sự cố lộ ghi chú của Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent tại Trại David, giúp các bạn hình dung rõ hơn bối cảnh dẫn đến quyết định can thiệp tiền tệ lịch sử này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét