Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

Nhật Bản đã trở thành quốc gia không có tương lai ?

Nhật Bản đã trở thành quốc gia không có tương lai ?
Nhìn lại lịch sử gần 30 năm qua của Nhật Bản, một số nhà khoa học phát hiện ra hiện tượng rất kỳ lạ: Từ khi bước vào những năm 1990, quốc gia này dường như đã mất toàn bộ may mắn tích lũy suốt hàng trăm năm. Họ liên tiếp 6 lần chọn sai "nhánh cây công nghệ" trong các lĩnh vực Internet, công nghệ truyền thông, điện toán đám mây, điện thoại thông minh, máy quang khắc và xe năng lượng mới. Điều này dẫn đến một cục diện kỳ lạ tại Nhật Bản: thế giới thay đổi chấn động, còn Nhật Bản thì bất động như núi.
Chúng ta đều biết giai đoạn 1980–1990 là thời kỳ hoàng kim của Nhật Bản. Các ngành thép, đóng tàu, cơ điện, điện tử tiêu dùng của họ chiếm giữ vị thế chi phối tuyệt đối trên phạm vi toàn cầu. Vào thời đó, nếu một gia đình nào đó trên thế giới sở hữu một chiếc đài Sony hay tivi Panasonic thì nhất định sẽ trở thành đối tượng khiến cả làng ngưỡng mộ.

Ngay cả bá chủ thế giới là Mỹ cũng bị ngành sản xuất Nhật Bản đánh cho tan tác. Ngành sản xuất ô tô vốn là chủ lực của Mỹ cũng bị Toyota và Honda của Nhật Bản chọc thủng và lấn át.

Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế, Nhật Bản thời kỳ đỉnh cao vô cùng hào nhoáng; khoảng giữa thập niên 1990, GDP bình quân đầu người của Nhật cao hơn Mỹ khoảng 1,6 lần và cao gấp khoảng 70 lần Trung Quốc (Nhật Bản đạt đỉnh vào khoảng năm 1995; GDP bình quân đầu người của Nhật khoảng 44.000–45.000 USD, Mỹ khoảng 28.000–29.000 USD và Trung Quốc chỉ khoảng 600–700 USD).

Số tiền một lao động công sở Nhật Bản chi cho một chuyến taxi thậm chí đủ cho một nông dân các nước nghèo như Việt Nam sống trong một năm. Cụ thể một nhân viên Nhật năm 1995 lương khoảng 5–6 triệu yên/năm; với tỷ giá 80 JPY/USD thì tương đương khoảng 62.000–75.000 USD/năm. Giá một chuyến taxi trong nội đô Tokyo khoảng 10.000–15.000 yên; chuyến ra sân bay khoảng 20.000–30.000 yên, và đi càng xa thì càng đắt hơn. Nếu tính trung bình giá một chuyến taxi ở Nhật 20.000 yên, thì với tỷ giá 80 JPY/USD, chi phí tới 250 USD, trong khi GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 1994 chỉ khoảng 150-200 USD. Như vậy, nếu lấy một chuyến taxi đúng vào thời kỳ đồng yên mạnh nhất, thì giá trị quy đổi sang USD cao hơn nhiều GDP bình quân đầu người của Việt Nam tính cho cả một năm. Lúc đó, thế giới thèm khát nhìn người Nhật đi du lịch nước ngoài và mua tài sản khắp nơi trên thế giới, từ Mỹ đến Australia.

Chính trong tình thế ưu thế tuyệt đối như vậy, Nhật Bản trong 30 năm gần đây đã liên tiếp 6 lần chọn sai hướng đi, đến mức GDP dậm chân tại chỗ, môi trường trong nước như một đầm lầy nước đọng.

Lần chọn sai nhánh công nghệ đầu tiên là không bắt kịp làn sóng thời đại Internet. Về công cụ tìm kiếm, Mỹ có Google, Trung Quốc có Baidu; về mạng xã hội, Mỹ có Twitter, Facebook, Trung Quốc có Tencent, Weibo; về thương mại điện tử, Mỹ có Amazon, Trung Quốc có Taobao, JD. Các nước EU cũng có những công cụ của riêng minh. Còn Nhật Bản có gì?

Không chỉ vậy, trong các lĩnh vực gọi xe, giao đồ ăn, thanh toán trực tuyến, sự phát triển của Nhật Bản cũng rất kém, có lẽ là do tỷ lệ già hóa dân số quá cao. Trong thời đại thanh toán trực tuyến đã phổ biến, người Nhật vẫn kiên trì dùng tiền mặt trả từng tờ một. Rất nhiều người Nhật chuyển khoản bằng ứng dụng vẫn phải nhờ hỗ trợ từ dịch vụ khách hàng. Một quốc gia phát triển có tỷ lệ đô thị hóa lên tới 90%, lại có 80-90% số người thậm chí không biết đặt đồ ăn qua ứng dụng. Vì bỏ lỡ làn sóng Internet, người Nhật đã bị tụt hậu nghiêm trọng so với Mỹ, EU, Trung Quốc và nhiều nước khác trên mọi khía cạnh ăn, ở, mặc, đi lại.

Ngoài việc không bắt kịp làn sóng Internet, Nhật Bản còn bỏ lỡ cơ hội phát triển công nghệ truyền thông. Các mạng 3G, 4G, 5G không chỉ là tốc độ nhanh hơn, mà còn là sự thay đổi toàn diện của đời sống xã hội. Ai đặt ra tiêu chuẩn, kẻ đó có thể định nghĩa lại quy trình làm việc và tái lập quy tắc cạnh tranh của nền kinh tế thế giới. Vì vậy, Trung Quốc và Mỹ đang cạnh tranh đến mức "sứt đầu sứt trán" trong cuộc chiến tiêu chuẩn 5G. Còn Nhật Bản từ lâu đã mất đi tư cách cạnh tranh, chỉ có thể đi sau Trung Quốc và Mỹ để chấp nhận dùng những tiêu chuẩn của người khác.

Tiếp theo là điện toán đám mây. Trung Quốc và Mỹ chiếm một nửa thị phần toàn cầu, Nhật Bản nỗ lực hàng chục năm nhưng thị phần chỉ là số lẻ của hai nước này. Điện toán đám mây quan trọng thế nào? Nói một cách bình dân nhất, nếu đường bộ và đường sắt là huyết mạch của thời kỳ công nghiệp hóa, thì năng lực tính toán chính là huyết mạch của thời kỳ số hóa, là hạ tầng của nền kinh tế số tương lai. Một khi Nhật Bản tụt hậu trong lĩnh vực này, cái họ mất đi e rằng không chỉ là 20 năm sắp tới.

Bên cạnh đó, trong lĩnh vực điện thoại thông minh, Nhật Bản cũng liên tục đi sai đường. Apple của Mỹ mở ra thời đại điện thoại thông minh, Xiaomi của Trung Quốc dùng tỷ lệ giá thành/hiệu năng để chiếm lĩnh thị trường thế giới. Hiện tại, thị phần điện thoại của Trung Quốc đã vượt Mỹ để vươn lên số một thế giới. Còn Nhật Bản thì sao? Giao diện thiết kế điện thoại vừa xấu vừa khó dùng, hệ điều hành hàng chục năm không nâng cấp, giá lại đắt cắt cổ.

Nhìn sang máy quang khắc và xe năng lượng mới lại càng kỳ quái hơn, hễ Nhật Bản chọn cái gì là cái đó sai. Máy quang khắc có hai hướng kỹ thuật là khắc ướt và khắc khô; Nikon và Canon của Nhật Bản hăng hái phát triển lĩnh vực này, kết quả họ đặt cược vào khắc khô và thất bại. Trên đua xe năng lượng mới, các hãng xe Nhật Bản đặt cược vào năng lượng hydro, kết quả lại thất bại tiếp.

Lý do Nhật Bản đã dùng hết may mắn tích lũy hàng trăm năm là vì họ liên tiếp 6 lần đưa ra quyết định sai lầm trong các lựa chọn cực kỳ quan trọng, khiến vận khí quốc gia hiện nay sụt giảm.

Tại sao Nhật Bản lại liên tục chọn sai nhánh cây công nghệ? Người Nhật đã rơi vào một cái bẫy tư duy: Họ mặc định công nghệ đang thịnh hành hiện tại là tối ưu nhất. Nhưng thực tế có phải như vậy không?

Lấy ví dụ về công nghệ xe năng lượng mới mà thế giới đang dốc lực đẩy mạnh hiện nay, chẳng lẽ xe năng lượng mới nhất định tiên tiến hơn xe chạy nhiên liệu truyền thống? Chưa chắc. Việc thế giới dốc sức ủng hộ giảm phát thải toàn cầu và phát triển xe năng lượng mới chủ yếu xuất phát từ hai lý do:

- Nhiều nước đã qua giai đoạn phụ thuộc vào tiêu thụ năng lượng cao. Trước đây để công nghiệp hóa (xây nhà xưởng, làm đường sá, luyện kim...), họ bắt buộc phải dùng rất nhiều năng lượng giá rẻ nhưng gây ô nhiễm như than đá, dầu mỏ. Tuy nhiên, bây giờ họ đã sở hữu hạ tầng khá tốt, công nghệ cao, ít phụ thuộc vào công nghiệp nặng gây ô nhiễm hơn. Nhưng một số quốc gia khác thì chưa đến giai đoạn này (ví dụ như Ấn Độ). Các nước khi đã giàu mạnh và nắm giữ thế mạnh về công nghệ xanh, nhất là Mỹ và Trung Quốc, đang ủng hộ các tiêu chuẩn về môi trường toàn cầu rất khắc nghiệt để "khóa cửa" không cho các đối thủ mới nổi (như Ấn Độ) lặp lại con đường phát triển giá rẻ đó nữa, nhằm duy trì ưu thế cạnh tranh của mình.

- Trong lĩnh vực động cơ truyền thống, Đức và Nhật Bản đã tích lũy kinh nghiệm hàng trăm năm, đây tuyệt đối không phải là thứ các nước đi sau có thể vượt qua trong ngắn hạn. Đã không chơi lại các bạn trên đường đua cũ, vậy thì đơn giản là đổi sang một đường đua mới mà chúng ta giỏi hơn, ví dụ như Trung Quốc đã chọn xe năng lượng mới, nhất là xe điện.

Chính vì vậy, không thể mặc định công nghệ đang thịnh hành hiện tại là tối ưu nhất. Suy cho cùng cái để so sánh vẫn là sức mạnh tổng hợp của quốc gia.

Lấy việc Nhật Bản chọn năng lượng hydro trong lĩnh vực ô tô làm ví dụ, chẳng lẽ lựa chọn của họ nhất định là sai? Không phải. Trung Quốc và Mỹ sở dĩ không đi theo con đường năng lượng hydro là vì hai nước tính toán lại và phát hiện Nhật Bản đã độc quyền 83% bằng sáng chế năng lượng hydro toàn cầu. Nếu Trung Quốc và Mỹ cũng chọn lĩnh vực này thì chỉ có nước đi làm thuê cho Nhật Bản. Nước đứng thứ nhất và thứ hai thế giới, có một thị trường quy mô hàng chục nghìn tỷ đô la, lại cùng nhau đi làm thuê cho nước đứng thứ ba, bạn có thấy buồn cười không?

Cho nên Trung Quốc và Mỹ đã quyết định xe năng lượng chạy điện mới là đường chính. Nhật chơi cùng thì chúng ta cùng chơi, Nhật không muốn chơi cùng cũng không sao. Trung Quốc, Mỹ và Châu Âu cộng lại có hơn 2 tỷ dân, chiếm hơn 60% GDP toàn cầu. Thị trường này, với những tiêu chuẩn được họ đặt ra không cho Nhật bước vào, thì xe chạy bằng hydro của Nhật dù có làm ra hoa ra ngọc, xin hỏi có thể bán cho ai? Cho mấy người anh em Châu Phi hay Ấn Độ?

Bất kỳ một công nghệ nào muốn được phổ biến trên phạm vi toàn cầu thì bắt buộc phải thỏa mãn ba điều kiện: Quy mô thị trường bán lẻ, Quy mô đội ngũ nghiên cứu khoa học và Quy mô kinh phí nghiên cứu và phát triển (R&D).

Điều kiện thứ nhất là điều kiện cốt lõi, bởi vì chỉ khi thị trường đủ lớn, sản phẩm sản xuất ra mới tạo ra số lợi nhuận khổng lồ, từ đó mới tăng được số lượng nhân sự nghiên cứu, nâng cao kinh phí R&D và chống đỡ cho sự phát triển lành mạnh của ngành.

Vấn đề lớn nhất của Nhật Bản không phải là năng lực sáng tạo không đủ, mà là dân số chỉ có 120 triệu người, thị trường trong nước quá nhỏ. Cho dù họ có nghiên cứu ra hướng đi kỹ thuật đúng đắn, nếu Trung Quốc và Mỹ không cho công nghệ và sản phẩm của họ xâm vào hai thị trường này thì Nhật hoàn toàn không có đất dụng võ.

Những năm 80 của thế kỷ trước, Nhật Bản dốc lực phát triển ngành bán dẫn, mưu toan thách thức vị thế của Mỹ. Kết quả thế nào? Mỹ ép Nhật Bản ký "Hiệp định Bán dẫn Mỹ - Nhật", hạn chế xuất khẩu sản phẩm bán dẫn của Nhật. Thị trường nội địa Nhật quá nhỏ nên nhanh chóng mất đi sức sống để phát triển, vì thế từ những năm 90 Mỹ lại trở thành bá chủ của ngành bán dẫn.

Hay như sự cố Toyota năm 2009, vừa thấy Toyota của Nhật vượt qua General Motors của Mỹ để trở thành số một thế giới trong ngành ô tô, Mỹ liền tiến hành điều tra an toàn đối với Toyota. Cuối cùng, Toyota phải thu hồi 9 triệu xe và đến năm 2014 phải nhẫn nhục trả 1,2 tỷ USD tiền hòa giải cho Bộ Tư pháp Mỹ.

Nhìn lại Trung Quốc, nhờ thị trường trong nước đủ lớn nên mới có tư cách tự chơi. Năm đó phương Tây hạn chế sự phát triển của ngành quang điện Trung Quốc, không cho sản phẩm quang điện Trung Quốc tự do xuất khẩu. Theo lý mà nói, mất đi thị trường nước ngoài là đường chết, kết quả thế nào? Trung Quốc ỷ vào dân số đông đúc, lãnh thổ bao la, trực tiếp tung ra hai chiêu lớn:

- Đặt khối lượng lớn sản phẩm quang điện ở các sa mạc phía Tây để tiêu thụ năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp quang điện.

- Đưa thiết bị điện về nông thôn, đem trợ cấp xuất khẩu trước đây trực tiếp đưa cho nông dân để nông dân mua.

Cứ như vậy, chỉ bằng sức mạnh của một quốc gia, Trung Quốc đã cứu sống ngành quang điện của mình. Ngày nay, Trung Quốc trở thành quốc gia xuất khẩu sản phẩm quang điện lớn nhất thế giới, đồng thời cũng là thị trường quang điện lớn nhất toàn cầu. Phương Tây nhìn thấy cảnh này thì hầu như không tin nổi vào mắt mình.

Tại sao Trung Quốc và Mỹ lần nào cũng chọn đúng hướng phát triển, còn Nhật Bản thì không? Ngoài việc thị trường Trung - Mỹ đủ lớn để định nghĩa lại tiêu chuẩn đúng đắn, còn có một nguyên nhân quan trọng khác: đó là Trung - Mỹ có gia sản kế xù. Nếu một ngành nghề có 10 hướng phát triển, với quốc lực của Ấn Độ chỉ có thể chọn 1 hướng, với quốc lực của Nhật Bản có thể chọn 2 hướng, nhưng Trung Quốc và Mỹ có thể đồng thời đặt cược cả 10 hướng. Cuối cùng cho dù hướng nào đi thông, Trung - Mỹ cũng sẽ không bị bỏ lại. Đừng nhìn bây giờ Trung - Mỹ đang dốc lực phát triển xe năng lượng mới, nhưng ở đằng sau, nhất định hai nước này vẫn tiếp tục nghiên cứu động cơ truyền thống và xe năng lượng hydro để nhỡ có ngày cần dùng đến công nghệ đó, họ cũng không đến mức bị nước khác khống chế.

Cho nên, suy cho cùng không phải Nhật Bản luôn luôn chọn sai nhánh cây công nghệ, mà là sức mạnh tổng hợp quốc gia của Nhật Bản không đủ, không đủ nên không có tư cách tham gia vào việc định ra quy tắc. Theo cục diện hiện tại, dưới sự gặt hái tài chính của Mỹ và sự siết chặt công nghiệp của Trung - Mỹ, Nhật Bản với cơ sở hạ tầng ngày càng xuống cấp, e rằng sắp sửa trở thành nước đang phát triển!
Bài học cho Việt Nam

Sự thăng trầm của Nhật Bản cho thấy trong kỷ nguyên công nghệ, đi trước chưa chắc sẽ thắng, nhưng đứng yên chắc chắn sẽ tụt lại. Một quốc gia muốn duy trì vị thế không chỉ cần những doanh nghiệp giỏi hay những nhà khoa học xuất sắc, mà còn phải sở hữu một hệ sinh thái đổi mới đủ lớn để liên tục tạo ra các ngành công nghiệp mới.

Đối với Việt Nam, bài học đầu tiên là không nên đặt cược toàn bộ tương lai vào một công nghệ hay một ngành nghề duy nhất. Công nghệ luôn thay đổi rất nhanh. Điều cần xây dựng không phải là niềm tin rằng mình đã chọn đúng, mà là năng lực thử nghiệm nhiều hướng khác nhau và sẵn sàng điều chỉnh khi bối cảnh thay đổi.

Bài học thứ hai là phải mở rộng quy mô thị trường và nâng cao sức mua trong nước. Một thị trường nội địa đủ lớn không chỉ giúp doanh nghiệp vượt qua những cú sốc từ bên ngoài, mà còn tạo môi trường để công nghệ mới được thử nghiệm, hoàn thiện và thương mại hóa trước khi cạnh tranh trên thị trường quốc tế. Trung Quốc thành công một phần vì họ có thể nuôi dưỡng cả một ngành công nghiệp ngay trong thị trường nội địa của mình.

Bài học thứ ba là đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển (R&D). Những công nghệ cốt lõi như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới hay công nghệ sinh học đều cần chu kỳ đầu tư rất dài và nguồn lực lớn. Nếu chỉ nhập khẩu công nghệ hoặc gia công sản xuất, Việt Nam sẽ rất khó tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững.

Quan trọng hơn cả, Việt Nam cần tránh rơi vào tư duy "chạy theo phong trào". Không phải công nghệ nào đang thịnh hành trên thế giới cũng là lựa chọn tối ưu đối với điều kiện của Việt Nam. Việc lựa chọn ưu tiên phải dựa trên sức mạnh tổng hợp và lợi thế so sánh của đất nước, năng lực doanh nghiệp, quy mô thị trường và xu hướng dài hạn của kinh tế thế giới, thay vì chỉ chạy theo các xu hướng nhất thời.

Cuối cùng, bài học lớn nhất từ Nhật Bản có lẽ không phải là "chọn sai công nghệ", mà là không đủ sức mạnh để định hình luật chơi toàn cầu. Đối với một quốc gia quy mô trung bình như Việt Nam, mục tiêu thực tế không phải là cạnh tranh để đặt ra mọi tiêu chuẩn quốc tế, mà là từng bước tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu, làm chủ một số công nghệ lõi có thế mạnh, xây dựng doanh nghiệp đủ sức cạnh tranh quốc tế và duy trì khả năng thích ứng nhanh trước những thay đổi của công nghệ và địa chính trị. Chỉ khi đó, tăng trưởng mới dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ dựa vào lao động giá rẻ hay vốn đầu tư nước ngoài.

https://www.imf.org/external/datamapper/profile/JPN/WEO

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét