Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

Việt Nam và các nước khác khác biệt nhau như thế nào?

Tôi đã đi hơn 30 nước, vậy Việt Nam và các nước khác khác biệt nhau như thế nào?

Tôi xin đưa ra một đánh giá khách quan và trung lập để trả lời câu hỏi trên. Tôi đã đi công tác, học tập và du lịch một mình hay với gia đình đến hơn 30 quốc gia. Từ khi còn học tiểu học, tôi đã thích đọc các sách và bách khoa toàn thư về địa lý nên rất ngưỡng mộ các vùng đất trên thế giới với các nền văn hóa rất khác nhau của họ.

Tôi nhớ đã từng đọc một cuốn sách Pháp, trong đó có câu làm tôi nhớ mãi: "Nếu bạn không nhìn thấy thế giới khi còn trẻ, bạn sẽ không bao giờ có cơ hội nữa". Câu này đã gây ấn tượng sâu sắc với tôi; nó chạm đến trái tim tôi; nó làm tôi có suy nghĩ: "Đời người có số; nếu lúc trẻ mà không cố đi nước ngoài, thì sau này cả đời cũng sẽ không được đi nước ngoài"; hay "đời người hữu hạn, nên phải cố để được nhìn thế giới bằng chính đôi mắt mình".

Tôi nhớ hồi nhỏ gia đình tôi rất nghèo, dù ông bà nội ngoại của tôi đều là tư sản và địa chủ, nhưng mất hết tài sản trong các cuộc cải cách ruộng đất và cải tạo tư sản. Bố tôi từng là chủ nhiệm khoa Thống kê của Trường đại học Kinh tế quốc dân bây giờ, mẹ tôi vì con gia đình địa chủ nên bị đuổi khỏi trường đại học và bị cấm không được làm cho các nhà máy, xí nghiệp của nhà nước, phải đi làm cho hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Cả hai sống hoàn toàn bằng tiền lương thời bao cấp, nên không có tiền mua đồ chơi hay mua sách, truyện cho tôi.

Thời nhỏ tôi rất muốn mua các loại sách và truyện, tôi luôn luôn mơ ước có một tủ sách riêng ở nhà, nhưng không có tiền nên chỉ có thể đi thuê hoặc mượn. Rất may, tôi có ông anh họ là công nhân, có tiêu chuẩn làm thẻ ở Thư viện Hà Nội, nên tôi đã nhờ anh dùng thẻ của anh để được mượn sách truyện.

Từ năm cấp ba, rồi khi học đại học, tôi bắt đầu làm đủ loại việc để kiếm tiền, nhưng kiếm được bao nhiều đều đưa hết cho mẹ, nên cũng không có tiền mua sách truyện. Đến khi đi làm, dù tiền lương công chức ít ỏi, hàng tháng tôi đều dành một số tiền để mua sách truyện. Nhưng khi tủ sách bắt đều lên vài trăm cuốn, tôi chợt nhận ra mình thật ngớ ngẩn, bởi vì tôi không có nhiều thời gian để đọc và những mơ ước tuổi thơ đã dần dần biến mất, thay vào đó là những mục tiêu mới cho nhiều năm tới.

Nhà tôi ở nội thành Hà Nội, nhưng tôi đã đi sơ tán ở nhiều nơi trong hai đợt chiến tranh phá hoại của Mỹ ở miền Bắc. Những nơi tôi nhớ nhất là Phú Thọ, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Thái, Hà Bắc, Hà Tây. Ở đó tôi được theo người dân địa phương lên rừng, lên núi, và tôi rất thích cuộc sống ở đó. Vì thế rừng núi sau này luôn luôn là nơi tôi quan tâm đầu tiên mỗi khi đến một vùng đất mới.

Tuy nhiên tôi cũng muốn được ngắm cảnh khác. Đã lên rừng lên núi rồi thì phải xuống biển. Tôi nhiều lần bảo bố mẹ cho đi biển để xem biển như thế nào, tại sao mặt nước biển không phẳng như mặt nước hồ. Nhưng bố mẹ tôi luôn nói rằng đi biển chỉ phí tiền, ở đó toàn bùn lầy nước bẩn. Vì vậy, sau khi tiết kiệm được ít tiền, tôi quyết định thực hiện ước mơ đi biển của mình sau khi tốt nghiệp đại học. Dĩ nhiên, biển gần Hà Nội nhất là Đồ Sơn. Tôi đi tàu chợ xuống Hải Phòng rồi đi buýt ra Đồ Sơn năm 1982, chuyến đi đó thật thất vọng, cảnh biển không như tôi đọc trong sách, còn người thì rất tệ vì ở đó tôi đã bị lừa và mất hết tiền.

Cuối năm 1982 tôi bắt đầu đi làm. Rất may cho tôi là được làm ở cơ quan trung ương nên sớm có cơ hội được ra nước ngoài. Dĩ nhiên nước đầu tiên tôi tới là Liên Xô, cụ thể là thủ đô Mockba và một số thành phố khác ở Liên Xô. Tình yêu nước Nga của tôi bắt đầu từ đó, sau này mỗi lần trở lại nước Nga, tôi càng thêm yêu đất nước này.

Tiếp theo tôi đã được đi Thái Lan, Ấn Độ, Singapore, Pháp và nhiều nước châu Âu khác... Tôi cảm thấy hầu hết các quốc gia đều đáp ứng được kỳ vọng của mình, ở đâu tôi cũng thấy thích vì có quá nhiều điều mới lạ. Mỗi lần quay lại các nước đó, tôi đều thấy có những cái mới. Càng sang châu Âu, châu Mỹ, càng thấy thêm nhiều thành phố có những khu cổ kính và những khu sang trong với những tòa nhà chọc trời. Mỗi lần sang dù nhà cửa vẫn thế, nhưng phong cảnh tươi sáng hơn, rực rỡ hơn, nên vẫn cuốn hút.

Vì vậy, tôi muốn nói về một số nơi khá khác biệt so với Việt Nam. Nơi đầu tiên tôi đến là nước Nga, đúng là một thiên đường dành cho người lần đầu tiên ra nước ngoài. Dĩ nhiên thủ đô nước Nga hay thành phố Saint Peterbourg quá hiện đại, có khoảng cách một trời một vực so với Việt Nam đầu thập niên 1980. Nhưng điều làm tôi nhớ mãi là những món ăn của người Nga rất hợp với tôi và người Nga quá tốt bụng, quá nuông chiều chúng tôi. Những đêm trắng ở Saint Peterbourg, rồi thang máy rộng mênh mông có thể chứa tới cả trăm người lên xuống cùng một lúc ở trường điện ảnh Mockba... Đây đều là những thứ không thể nào quên vì chẳng ở đâu có.

Ở Phuket Thái Lan, tôi được chứng kiến ​​bầu trời xanh ngắt và những đám mây trắng, cùng với màu nước biển xanh ngọc bích tuyệt đẹp khiến tôi, một người sống ở Hà Nội đã quá mệt mỏi với những ao hồ và bãi bùn màu nâu vàng bẩn thỉu khắp nơi trong thành phố, cảm thấy thật khó tin. Hồi đó trừ quận Hoàn Kiếm chỉ có ít ao hồ, còn các quận khác khắp nơi đều là ao hồ. So sánh biển Phuket với biển Đồ Sơn, tôi lại nhớ tới câu " một trời một vực".

Ở Ấn Độ, tôi đã đi thăm New Delhi và Old Delhi, cùng là thủ đô của Ấn Độ nhưng phong cách trái ngược nhau. Chính từ đây, tôi mới nghĩ ra Việt Nam không nên cải tạo Hà Nội đang có mà nên giữ nguyên, tạo thành Old Hà Nội, tiền bạc đem xây một New Hà Nội nằm cạnh sông Đà tại Hòa Bình.

Sau này, tôi đã đưa bố mẹ đến Singapore, rồi Nice ở Pháp, rồi Venice ở Ý, và dĩ nhiên cả hồ Geneve ở Thụy Sĩ. Nước biển và những bãi cát trắng hay sỏi nhiều mầu sắc tuyệt đẹp khiến bố mẹ tôi không nói nên lời. Đến đó, họ mới nhận ra rằng mặc dù nước trên trái đất tương tự nhau, nhưng mỗi nơi vẫn có những khác biệt lớn.

Khi đến Nhật Bản, tôi đã rất sốc trước sự sạch sẽ và hiện đại đến kinh ngạc của nhà vệ sinh công cộng ở đó; châu Âu cũng không bằng. Tôi nhớ chỉ khoảng 15-20 năm nay, chúng ta mới chỉ bắt đầu "cuộc cách mạng nhà vệ sinh" ở các gia đình, nhưng nhà vệ sinh công cộng chỉ gần đây mới có. Có điều đến nay nhiều nhà vệ sinh công cộng ở Hà Nội hầu như không ai dám sử dụng được vì chúng quá bẩn. Thậm chí có những nhà vệ sinh công cộng nằm ngay 36 phố cổ bị tiểu thương chất hàng quây kín, không còn chỗ để đi vào. Đó là sự khác biệt một trời một vực.

Từ nhỏ, trải qua hai cuộc ném bom phá hoại miền Bắc của Mỹ, đọc sử sách về các cuộc chính tranh của Pháp và Mỹ gây ra ở Việt Nam, tôi đã là một người theo chủ nghĩa dân tộc cánh tả, không yêu thích chủ nghĩa xã hội, nhưng cũng không phải là người sùng bái phương Tây. Nhiều người trong tầng lớp trí thức, nhất là giới nhà văn, rất thích Mỹ, nhưng tôi lại có ác cảm mạnh mẽ với Mỹ. Vì vậy, tôi luôn tương đối chống Mỹ, nhưng thân thiện với Nga và bất kỳ nước đang phát triển nào không theo Mỹ. Cũng vì thế lúc đầu tôi không thích cũng không ghét Nhật Bản. Tuy nhiên, sau này đọc sách về thời kỳ Nhật Bản đô hộ Việt Nam, rồi đọc sách về những tội ác của người Nhật ở Trung Quốc, rồi nhìn những gì người Nhật làm ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, tôi càng ngày càng có tâm lý ghét Nhật, đặc biệt càng ghét Nhật khi Nhật hoàn toàn phụ thuộc vào Mỹ, ủng hộ Mỹ chống Nga và Trung Quốc, trong khi để mặc cho nền kinh tế và đất nước ngày càng suy thoái.

Sau đó tôi đến Pháp, Mỹ, Thụy Sĩ, Ý và nhiều nước Đông và Tây Âu khác. Tôi đã rất xúc động khi nhìn thấy những đồng cỏ và thảo nguyên bao la và những cánh đồng, khu rừng xanh tươi tuyệt đẹp cùng những ngôi nhà tranh duyên dáng ở khắp các vùng quê. Mặc dù trước đây chưa từng trượt tuyết, nhưng khi đưa các con đi trượt tuyết, tôi vẫn nhất quyết phải tập và thử trượt tuyết ở những khu trượt tuyết rất đẹp trên dãy Alps vì tôi biết nếu không làm bây giờ, cuối đời sẽ hối tiếc. Ngoài giá cả cao, tôi không thể nghĩ ra bất kỳ nhược điểm nào của đất nước Thụy Sĩ.

Tôi cảm thấy Thụy Sĩ gần như là một quốc gia hoàn hảo, dân chủ gần như tuyệt đối, cái gì cũng trưng cầu ý kiến của người dân, từ công việc ở phường xã tới tầm quốc gia. Điều làm tôi ấn tượng nhất không phải sự giàu có mà là niềm tin giữa người dân với nhau và giữa người dân với nhà nước. Một xã hội đoàn kết và có mức độ tin cậy cao sẽ tiết kiệm được vô số chi phí giám sát, kiểm tra và cưỡng chế.

Singapore và Pháp cũng tốt, nhưng chúng mang lại cảm giác hơi ngột ngạt và chật chội. Tôi không thích Mỹ vì chênh lệch giàu nghèo ở đây quá lớn, dịch vụ cũng không thân mật và chu đáo. Sau này, tôi quay lại Thụy Sĩ với gia đình. Thụy Sĩ vẫn rất tốt, nhưng dường như càng ngày càng không còn tốt như trước nữa. Cả châu Âu dường như cũng xuống dốc như vậy. Không chỉ văn minh xã hội xuống dốc mà dường như cả cơ sở hạ tầng cũng xuống dốc.

Nhìn lại Việt Nam, tôi thấy trong hai chục năm qua, cơ sở hạ tầng đã tiến bộ rất nhanh. Thực tế, điều tốt nhất của Việt Nam so với các nước khác là khả năng truy cập internet, vô cùng tiện lợi, dù đôi khi vẫn phải vượt tường lửa. Sân bay, viễn thông, thanh toán điện tử, dịch vụ công trực tuyến... đều tiến bộ rất rõ. Giao thông cũng thuận lợi hơn rất nhiều, dù đi đâu hơi xa một chút đều phải mất phí khá cao. Nếu quay lại Việt Nam của đầu những năm 2000, có lẽ chính tôi cũng không thể hình dung được ngày hôm nay.

Viết đến đây tôi lại mơ tới Thụy Sĩ, ở đó mỗi năm chỉ cần mua một con tem giá 40 CHF (khoảng 1,3 triệu đồng) dán lên kính xe (giống như dán tem đăng kiểm) là được quyền tự do lưu thông trên mọi tuyến đường cao tốc trong 14 tháng (từ tháng 12 năm nay, xuyên qua năm sau, tới hết tháng 1 năm sau nữa).

Tuy nhiên, văn hóa, văn minh của người Việt Nam đang còn quá thấp. Ra phố tôi sợ nhất khi đi ngang qua những người đang hút thuốc, khạc nhổ, đái bậy, nói tục chửi nhau, thậm chí đánh nhau. Họ làm công khai ngay cả ở nơi rất đông người như các điểm chờ xe buýt hay các quán ăn hè phố. Một số người thậm chí còn làm những điều đó ngay trong thang máy, thang bộ của các tòa chung cư. Tệ nữa là vứt rác thoải mái ngoài đường và ngay trong các nhà hàng; vừa ăn vừa vứt rác xuống ngay dưới chân ghế, chân bàn. Trong hơn 30 quốc gia tôi từng đến, tôi rất hiếm khi gặp những cảnh như vậy ở nơi công cộng. Tôi chỉ hy vọng nhà nước có các hình phạt nghiêm khắc đối với những người này.

Tóm lại, sau hơn bốn mươi năm đi học, đi làm và có cơ hội đặt chân tới hơn ba mươi quốc gia, điều tôi thu hoạch được không phải là số lượng những nơi đã đi qua, mà là cách nhìn về chính đất nước mình.

Mỗi quốc gia đều có điểm mạnh và điểm yếu. Không có thiên đường tuyệt đối, cũng không có nơi nào hoàn toàn đáng chê trách. Có những nước giàu nhưng đang xuống dốc; có những nước còn nghèo nhưng đang vươn lên rất nhanh. Điều quan trọng không phải là họ giàu hay nghèo, mà là họ đối xử với con người, với môi trường sống và với tương lai của đất nước như thế nào.

Việt Nam hôm nay đã khác rất xa Việt Nam nơi tôi đã lớn lên. Hạ tầng hiện đại hơn, giao thông thuận tiện hơn, Internet thuộc nhóm tốt của thế giới, đời sống vật chất của người dân cũng được cải thiện rõ rệt. Đó là những thành tựu không thể phủ nhận.

Nhưng nếu hỏi điều gì khiến tôi trăn trở nhất, thì đó không phải là GDP hay những tòa nhà cao tầng, mà là văn hóa công cộng và ý thức của một bộ phận người dân. Một đất nước chỉ thực sự văn minh khi người ta biết tôn trọng người khác, tôn trọng không gian chung, biết xếp hàng, không hút thuốc bừa bãi, không khạc nhổ, không xả rác, không gây ồn ào và không coi thường pháp luật. Những điều tưởng như rất nhỏ ấy lại chính là bộ mặt thật của một quốc gia.

Đi nhiều nơi trên thế giới giúp tôi nhận ra rằng khoảng cách lớn nhất giữa các quốc gia không nằm ở thu nhập bình quân đầu người, mà nằm ở chất lượng con người, chất lượng quản trị và ý thức công dân. Tiền bạc có thể xây được đường sá, cầu cống và những tòa nhà cao tầng trong vài năm, nhưng để xây dựng một xã hội văn minh thì phải mất nhiều thế hệ.

Nếu có ai hỏi tôi rằng sau khi đi hơn ba mươi quốc gia, tôi yêu đất nước nào nhất, thì câu trả lời vẫn là Việt Nam. Chính vì yêu Việt Nam nên tôi càng mong đất nước mình sẽ tiếp tục phát triển, không chỉ giàu hơn mà còn văn minh hơn, sạch hơn, tử tế hơn, đoàn kết hơn và đáng sống hơn. Đó mới là điều tôi hy vọng sẽ được nhìn thấy trong phần đời còn lại của mình.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét