Các thành phố Trung Quốc đang tranh nhau mời đại học trên toàn cầu
Báo Trung Quốc đang loan tin năm 2026, các trường đại học nước ngoài đang đồng loạt tiến vào Trung Quốc. Từ Anh, Pháp, Singapore, Nga và nhiều quốc gia khác, một loạt trường đại học đang thông qua các chương trình hợp tác đào tạo để hiện diện tại nhiều thành phố khác nhau của Trung Quốc.
1. Bùng nổ hợp tác
Tháng 5 năm nay, Bộ Giáo dục Trung Quốc cập nhật danh sách các cơ sở và chương trình hợp tác đào tạo Trung Quốc với nước ngoài được phê duyệt mới trong năm 2026. Chỉ trong một lần đã phê duyệt 219 đơn vị hợp tác, gồm 86 cơ sở mới và 133 chương trình mới. Đây là số lượng được phê duyệt trong một đợt cao nhất trong những năm gần đây, gần gấp đôi cùng kỳ năm trước.
Điểm nổi bật nhất là đội ngũ các trường đại học nước ngoài tiến vào Trung Quốc đã mở rộng rõ rệt. Các trường đại học Anh là nhóm tham gia lớn nhất. Trong số các đơn vị mới được phê duyệt lần này, khoảng 50 đơn vị có sự tham gia của các trường đại học Anh, liên quan tới khoảng 30 trường đại học Anh. Trong đó có Đại học Leeds, Đại học Liverpool, Đại học Lancaster, Đại học Queen Mary University of London...
Đồng thời, ngoài những đối tác truyền thống như Anh và Mỹ, các trường đại học của Pháp, Singapore, Nga, Tây Ban Nha, Hungary, Cuba... cũng tham gia. Phạm vi đối tác tiếp tục mở rộng sang Trung và Đông Âu, Đông Nam Á, Mỹ Latinh và các khu vực khác.
Mức độ tham gia của các trường đại học Trung Quốc trong nước cũng được nâng lên. Trước đây, hợp tác đào tạo Trung Quốc - nước ngoài chủ yếu tập trung vào một số chương trình quốc tế của một bộ phận trường đại học. Nhưng hiện nay, các trường thuộc nhóm 985 đang ồ ạt tham gia.
Ví dụ, Đại học Công nghệ Bắc Kinh hợp tác với Đại học Bách khoa Turin của Italy thành lập Học viện Công nghệ Bắc Lý – Turin; Đại học Tứ Xuyên hợp tác với Đại học Auckland của New Zealand thành lập Học viện Auckland; Đại học Công nghiệp Cáp Nhĩ Tân hợp tác với Trường Kinh doanh Lyon của Pháp thành lập Học viện Khoa học dữ liệu Lyon... Trong 133 chương trình mới được bổ sung, có 15 chương trình có sự tham gia của các trường thuộc nhóm 985, trong đó có Đại học Chiết Giang, Đại học Nhân dân Trung Quốc, Đại học Trùng Khánh, Đại học Đồng Tế...
2. Thay đổi rõ rệt hơn nữa nằm ở hướng hợp tác.
Trước đây, các chương trình kinh doanh và quản lý chiếm vị trí khá lớn trong hợp tác đào tạo Trung Quốc – nước ngoài. Nhưng trong đợt mở rộng này, trọng tâm ngày càng chuyển sang các ngành kỹ thuật mới và công nghệ tiên tiến.
Theo thống kê từ danh sách công khai, khoảng hai phần ba số chương trình mới thuộc nhóm khoa học – kỹ thuật, trong đó trí tuệ nhân tạo, khoa học dữ liệu, chế tạo thông minh, y sinh và những lĩnh vực công nghệ cao khác trở thành trọng điểm.
Nhiều cơ sở mới trực tiếp đưa những từ như “thông minh”, “công nghệ tương lai” vào tên gọi. Ví dụ như Học viện Khoa học và Kỹ thuật Thông minh Grodno thuộc Đại học Sư phạm Qilu; Học viện Kỹ thuật Thông minh Tương lai Trung – Italy thuộc Đại học Công nghệ Sơn Đông; Học viện Công nghệ Tương lai Thâm Quyến do Đại học Thiên Tân và Đại học Bách khoa Hong Kong cùng xây dựng...
Đồng thời, không ít cơ sở và chương trình đào tạo đại học áp dụng mô hình “4+0” song bằng. Sinh viên có thể hoàn thành toàn bộ chương trình học tại Trung Quốc, sau khi đáp ứng yêu cầu của cả hai bên sẽ nhận bằng của cả trường Trung Quốc và trường nước ngoài. Mô hình “quốc tế hóa ngay tại chỗ” này làm giảm đáng kể rào cản địa lý đối với việc tiếp nhận giáo dục quốc tế.
3. Một thay đổi khác trong đợt mở rộng này là phạm vi hợp tác đang được mở rộng.
Các cơ sở và chương trình mới lần này trải rộng trên hơn 20 tỉnh, vừa tiếp tục hiện diện tại những trung tâm giáo dục đại học truyền thống như Bắc Kinh, Thượng Hải, vừa mở rộng sang các thành phố công nghiệp như Thâm Quyến, Tô Châu, Phật Sơn... Đáng chú ý, Sơn Đông có thêm 27 cơ sở và chương trình, Hồ Bắc thêm 21, trở thành hai tỉnh có số lượng tăng thêm lớn nhất.
Từ việc các trường đại học nước ngoài tiến vào Trung Quốc, đến việc các trường 985 tham gia, rồi các ngành công nghệ cao trở thành chủ đạo, hợp tác đào tạo Trung Quốc – nước ngoài đang từ những chương trình giáo dục quốc tế trước đây trở thành một công cụ mới để các thành phố tranh giành nhân tài và năng lực cạnh tranh công nghiệp.
Trong vài chục năm qua, quy tắc cạnh tranh giữa các thành phố Trung Quốc khá đơn giản: thu hút đầu tư, tranh doanh nghiệp, cạnh tranh GDP. Thành phố nào thu hút được nhiều nhà máy và trụ sở doanh nghiệp hơn thì thành phố đó có thể chạy lên phía trước.
Nhưng khi bước vào giai đoạn nâng cấp công nghiệp, các thành phố phát hiện ra một vấn đề: Doanh nghiệp có thể thu hút về, nhưng nhân tài thì rất khó “sao chép”. Ví dụ Thâm Quyến có Huawei, Tencent, DJI và nhiều doanh nghiệp công nghệ khác. Số lượng đơn đăng ký bằng sáng chế quốc tế PCT của thành phố liên tục đứng đầu Trung Quốc trong nhiều năm, nhưng nguồn lực đại học lại là điểm yếu lâu nay.
Cuối năm 2025, các trường đại học phổ thông ở Thâm Quyến có 187.700 sinh viên đang theo học. Trong khi đó, cùng năm, riêng số sinh viên đại học và cao đẳng nghề tại Quảng Châu đã lên tới 1,5867 triệu người, ngoài ra còn có 191.200 nghiên cứu sinh. Không chỉ Thâm Quyến, sự mất cân đối giữa năng lực công nghiệp và nguồn lực đại học cũng tồn tại ở những thành phố công nghiệp mạnh như Đông Hoản, Phật Sơn, Nam Thông...
Lấy Phật Sơn làm ví dụ. Đây là một trung tâm sản xuất lớn có GDP vượt 1.000 tỷ nhân dân tệ, với hơn 10.000 doanh nghiệp công nghiệp quy mô lớn và 2 cụm công nghiệp quy mô trên 1.000 tỷ nhân dân tệ, cùng 10 cụm công nghiệp quy mô trên 100 tỷ nhân dân tệ. Năm 2025, sản lượng robot công nghiệp của Phật Sơn vượt 46.000 bộ, tăng 29,6%.
Phật Sơn tuy đã thu hút các cơ sở của Đại học Sư phạm Nam Trung Quốc, Đại học Y khoa Nam Phương và một số trường khác, nhưng trong số các trường đại học bản địa của Phật Sơn không có trường 985, 211 hoặc “Song Nhất Lưu”. Vì vậy, nguồn lực giáo dục đại học chất lượng cao vẫn phụ thuộc khá nhiều vào các cơ sở do những trường bên ngoài mở tại đây.
Theo thống kê của ShanghaiRanking vào tháng 6/2025, trong 27 thành phố có GDP trên 1.000 tỷ nhân dân tệ của Trung Quốc khi đó, có 13 thành phố không có một trường 985 độc lập. Bảy thành phố gồm Tuyền Châu, Yên Đài, Đường Sơn, Đông Hoản, Thường Châu, Nam Thông và Phật Sơn thậm chí không có một trường “Song Nhất Lưu” độc lập.
Những năm qua, biện pháp chủ yếu của các thành phố để giải quyết vấn đề nhân tài là “tranh người”. Cấp hộ khẩu, trợ cấp, ưu đãi nhà ở... Các thành phố như Vũ Hán, Tây An, Thành Đô đều tham gia cuộc cạnh tranh này. Nhưng xét trên phạm vi toàn quốc, đây chủ yếu là cuộc cạnh tranh giành lại nguồn nhân lực hiện có, rất khó hình thành một nguồn cung nhân tài ổn định và bền vững.
Những nhân tài mà quá trình nâng cấp công nghiệp cần đến cũng rất khó giải quyết chỉ bằng cách tuyển dụng rời rạc. Một cụm công nghiệp robot phía sau nó liên quan tới nhiều ngành như thuật toán, cơ khí, điều khiển, vật liệu..., cần liên tục bổ sung nhân lực ở nhiều trình độ khác nhau. Dùng trợ cấp để “cướp” về vài kỹ sư chỉ có thể giải quyết tình trạng cấp bách nhất thời. Nhưng xây dựng một trường đại học chất lượng cao cũng không thể nóng vội. Có thể xây xong khuôn viên trong vài năm, nhưng ngành học, đội ngũ giảng viên và nền tảng nghiên cứu khoa học phải tích lũy trong thời gian dài.
Đại học Khoa học và Công nghệ Nam Phương có thể được xem là khá nhanh theo “tốc độ Thâm Quyến”. Nhưng Thâm Quyến quyết định xây dựng trường vào năm 2007, đến năm 2012 mới được chính thức thành lập, và mãi đến năm 2022 mới được đưa vào danh sách “Song Nhất Lưu”. Tính từ đầu đến cuối vẫn mất 15 năm.
Đối với nhiều thành phố không thể chờ đợi lâu như vậy, thu hút các nguồn lực đại học quốc tế đã trưởng thành rõ ràng là một con đường nhanh hơn. Từ Đại học Nottingham Ninh Ba, Đại học Liverpool Tây Giao, đến Đại học New York Thượng Hải và Đại học Duke Côn Sơn, hợp tác giữa các thành phố Trung Quốc với các trường đại học quốc tế đã kéo dài hơn 20 năm và bước đầu chứng minh giá trị của con đường này.
4. Hiện nay, mô hình hợp tác này đang bước vào một giai đoạn mới.
Các thành phố mời đại học nước ngoài đến không còn chỉ quan tâm tới giáo dục, mà bắt đầu hướng tới cung cấp nhân tài, đổi mới nghiên cứu khoa học và nâng cấp công nghiệp. Khi đặt đại học vào hệ tọa độ của nâng cấp công nghiệp, vai trò của đại học trong thành phố cũng thay đổi.
Thứ nhất, đại học bắt đầu trở thành đối tác cùng xây dựng ngành công nghiệp.
Trước đây, trường đại học đào tạo nhân lực, doanh nghiệp đến tuyển dụng vào mùa tốt nghiệp. Ngày nay, doanh nghiệp đang tham gia vào trường đại học từ sớm hơn nhiều: từ xây dựng ngành học, thiết kế chương trình đào tạo cho tới thực tập và việc làm, tham gia vào toàn bộ quá trình đào tạo nhân lực.
Học viện Dược Huệ Hồ thuộc Đại học Liverpool Tây Giao là một ví dụ điển hình. Học viện do Đại học Liverpool Tây Giao và Khu công nghiệp Tô Châu cùng xây dựng vào năm 2020, đào tạo xoay quanh ngành công nghiệp dược – sinh học của khu công nghiệp. Các đại diện doanh nghiệp như Ascentage Pharma, Innovent Biologics... tham gia Hội đồng Tư vấn Phát triển Công nghiệp, cùng tham gia thiết kế ngành học và nội dung chương trình.
Đến năm 2025, nhân dịp kỷ niệm 5 năm thành lập, học viện đã hợp tác với hơn 60 doanh nghiệp. Trong ba khóa học viên cao học đã tốt nghiệp, gần 50% ở lại Tô Châu, 70% làm việc cho ngành dược – sinh học tại khu vực Giang Tô – Chiết Giang – Thượng Hải. Học viện đang dần trở thành cửa ngõ cung cấp nhân tài cho ngành dược – sinh học địa phương.
Một sự thay đổi tương tự cũng xuất hiện tại Ninh Ba. Tháng 6/2026, Đại học Nghề nghiệp Ninh Ba phối hợp với Đại học Salamanca của Tây Ban Nha và doanh nghiệp robot hình người “Zhuji Dongli” thành lập Học viện Kỹ thuật Thông minh Salamanca và Học viện Công nghiệp Zhuji Dongli. Doanh nghiệp dự kiến đưa robot hình người kích thước đầy đủ Oli vào làm phương tiện giảng dạy cốt lõi trong chương trình đào tạo, đưa công nghệ, thiết bị và các dự án thực tế của doanh nghiệp vào quá trình giảng dạy và thực hành.
Thứ hai, đại học từ một nền tảng giảng dạy trở thành một nền tảng đổi mới sáng tạo.
Năm 2019, chính quyền thành phố Ninh Ba và Đại học Nottingham của Anh ký thỏa thuận khung hợp tác chiến lược, cùng xây dựng Viện Nghiên cứu Đổi mới “Lighthouse Excellence Program – Ningbo”. Năm sau, dự án chính thức ký thỏa thuận triển khai. Theo kế hoạch được công bố khi đó, tổng vốn đầu tư dự án vượt 2,5 tỷ nhân dân tệ, quy hoạch xây dựng hơn 130.000 m² cơ sở nghiên cứu và các công trình phụ trợ.
Dự án tập trung vào ba lĩnh vực: chế tạo thông minh, hóa học xanh và năng lượng, sức khỏe và khoa học sự sống, đồng thời bố trí các phòng thí nghiệm, nền tảng công nghệ dùng chung và nền tảng nghiên cứu – phát triển chung giữa trường đại học và doanh nghiệp.
Đối với Ninh Ba, nơi có số lượng lớn doanh nghiệp sản xuất, những viện nghiên cứu như vậy tương đương với một nền tảng R&D mở cho các ngành công nghiệp địa phương.
Đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, tự xây dựng một đội ngũ nghiên cứu hoàn chỉnh có chi phí rất cao. Nhưng họ có thể dựa vào nền tảng của trường đại học để tiến hành nghiên cứu công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nhờ vậy, đại học bước ra khỏi lớp học và trở thành một bộ phận của hệ thống đổi mới sáng tạo của thành phố.
Dự án tập trung vào ba lĩnh vực: chế tạo thông minh, hóa học xanh và năng lượng, sức khỏe và khoa học sự sống, đồng thời bố trí các phòng thí nghiệm, nền tảng công nghệ dùng chung và nền tảng nghiên cứu – phát triển chung giữa trường đại học và doanh nghiệp.
Đối với Ninh Ba, nơi có số lượng lớn doanh nghiệp sản xuất, những viện nghiên cứu như vậy tương đương với một nền tảng R&D mở cho các ngành công nghiệp địa phương.
Đối với nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ, tự xây dựng một đội ngũ nghiên cứu hoàn chỉnh có chi phí rất cao. Nhưng họ có thể dựa vào nền tảng của trường đại học để tiến hành nghiên cứu công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Nhờ vậy, đại học bước ra khỏi lớp học và trở thành một bộ phận của hệ thống đổi mới sáng tạo của thành phố.
5. Một điểm rất quan trọng: đại học đang trở thành “giao diện” kết nối thành phố với thế giới.
Đại học Duke Côn Sơn do Đại học Duke, Đại học Vũ Hán và chính quyền thành phố Côn Sơn cùng thành lập. Đến cuối năm 2024, Văn phòng Phát triển Nghề nghiệp của trường đã liên hệ với gần 500 nhà tuyển dụng và duy trì quan hệ hợp tác lâu dài với hơn 80 nhà tuyển dụng. Google, Microsoft, Tesla... đều từng tổ chức các buổi giới thiệu tuyển dụng trực tuyến hoặc trực tiếp tại trường.
Dựa vào nguồn lực nghiên cứu khoa học của Đại học Duke và Đại học Vũ Hán, Đại học Duke Côn Sơn liên tục thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế đến Côn Sơn, đồng thời giúp thành phố cấp huyện này có được một kênh kết nối lâu dài với các trường đại học, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp trên toàn thế giới. Giá trị này rất khó đo lường trong ngắn hạn bằng số lượng tuyển sinh.
Sinh viên quốc tế đến thành phố, giáo sư nước ngoài tiến hành nghiên cứu tại địa phương, sinh viên tốt nghiệp đi vào các trường đại học và doanh nghiệp trong và ngoài nước... tất cả đều không ngừng nâng cao sự hiện diện của thành phố trong mạng lưới nhân tài và đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Doanh nghiệp đến thường mang theo nhà máy, sản lượng và thuế. Đại học bén rễ thì sẽ liên tục tích lũy nhân tài, thành quả nghiên cứu và nguồn lực công nghiệp, đồng thời trong chu kỳ dài hơn sẽ làm thay đổi năng lực đổi mới sáng tạo của cả thành phố. Vì vậy, cuộc tranh nhau mời đại học từ khắp thế giới của các thành phố Trung Quốc lần này thực chất là cuộc tranh giành quyền chủ động phát triển trong vài chục năm tới. Nhưng phía sau cuộc cạnh tranh này, bản thân các trường đại học trên thế giới cũng đang trải qua một cuộc sàng lọc sâu sắc.
Một lý do quan trọng khiến các trường đại học nước ngoài tích cực tiến vào Trung Quốc là nhiều trường đại học phương Tây đang chịu áp lực tài chính ngày càng lớn, thậm chí có trường không thể tiếp tục tồn tại.
Mỹ là nơi xuất hiện làn sóng đóng cửa trường đại học sớm nhất. Năm 2024, Cabrini University và Philadelphia University of the Arts lần lượt đóng cửa. Số sinh viên của trường thứ hai giảm từ 2.038 người năm 2013 xuống còn 1.149 người năm 2023, giảm khoảng 44% trong 10 năm.
Sau đó, làn sóng đóng cửa vẫn tiếp tục. Trong năm 2025, ít nhất 16 trường đại học phi lợi nhuận của Mỹ tuyên bố đóng cửa. Tháng 4/2026, Hampshire College, thành lập từ năm 1965, cũng tuyên bố sẽ đóng cửa vĩnh viễn sau khi kết thúc học kỳ mùa thu.
Các trường đại học Anh cũng chịu áp lực. Theo số liệu được Cơ quan Sinh viên Anh công bố năm 2026, trong năm học 2024–2025, hơn một phần ba các trường đại học tại Anh rơi vào tình trạng thâm hụt tài chính. Đến năm học 2025–2026, tỷ lệ này dự kiến tăng lên 42,7%, tức cứ 10 trường thì có hơn 4 trường bị thâm hụt.
Đằng sau những áp lực này đều không thể bỏ qua vấn đề nguồn sinh viên. Tại Canada, tính đến cuối tháng 9/2025, số người có giấy phép học tập khoảng 725.000, giảm hơn 200.000 so với cuối năm 2024. Tại Australia, trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng số sinh viên quốc tế giảm 6,9% so với cùng kỳ.
Đối với những cơ sở giáo dục phụ thuộc rất lớn vào học phí của sinh viên quốc tế, những thay đổi trên thị trường du học toàn cầu đang tạo ra những thách thức mới. Khi ngày càng nhiều sinh viên không còn đi du học nước ngoài, các trường đại học nước ngoài buộc phải tìm một cách khác để tìm nguồn sinh viên thông qua hợp tác đào tạo, đưa chương trình học, giảng viên và các chương trình cấp bằng trực tiếp tới Trung Quốc.
Cách làm này vừa giúp họ có thêm sinh viên và nguồn thu, vừa giúp họ tiếp cận nền tảng nghiên cứu khoa học, các dự án công nghiệp và nguồn lực địa phương của Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này cũng làm gia tăng cạnh tranh giữa các trường đại học Trung Quốc.
Năm 2024, Trung Quốc có 136.300 trường tiểu học phổ thông; năm 2025 giảm xuống còn 128.300 trường. Số học sinh nhập học tiểu học cũng giảm từ 16,1663 triệu xuống còn 14,6174 triệu, tức chỉ trong một năm giảm 1,55 triệu người. Những học sinh nhập học năm 2025 dự kiến sẽ tham gia kỳ thi đại học vào khoảng năm 2037. Vì vậy, sự thu hẹp nguồn sinh viên sẽ tiếp tục truyền dẫn lên hệ thống đại học.
Áp lực đối với các trường đại học đã bắt đầu xuất hiện. Năm 2025, số người đăng ký thi đại học trên toàn quốc giảm xuống còn 13,35 triệu, thấp hơn năm trước 70.000 người, chấm dứt chuỗi nhiều năm liên tục tăng. Năm 2026, số người đăng ký tiếp tục giảm xuống còn 12,9 triệu, giảm 450.000 người so với năm trước, mức giảm rõ rệt hơn.
Áp lực tuyển sinh đang nhanh chóng tập trung vào một số trường đại học tư thục. Năm 2026, tại Quảng Đông có 6 trường đại học tư thục trong đợt xét tuyển đầu tiên ngành vật lý hệ phổ thông xuất hiện tình trạng không đủ thí sinh, tổng số chỉ tiêu còn thiếu hơn 6.800. Tại Bắc Kinh, sau đợt tuyển sinh chính thức và đợt bổ sung đầu tiên, khối đại học vẫn còn 1.701 chỉ tiêu trống, trong đó gần 98% tập trung ở 4 trường đại học tư thục.
Một báo cáo nghiên cứu của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc cũng chỉ ra rằng từ khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 14, tình trạng tuyển sinh khó khăn của các trường đại học tư thục ngày càng nghiêm trọng, một số trường phải đối mặt với nguy cơ thiếu nguồn sinh viên. Đối với các trường tư thục phụ thuộc cao vào nguồn thu học phí, nếu trong thời gian dài không tuyển đủ sinh viên, áp lực tuyển sinh rất có thể sẽ chuyển thành áp lực sinh tồn.
Thực ra, dân số giảm chỉ là một trong những nguyên nhân. Mức học phí, cơ cấu ngành học, chất lượng đào tạo và triển vọng việc làm cũng đang ảnh hưởng đến lựa chọn của thí sinh và phụ huynh. Những trường thiếu ngành đào tạo đặc sắc, thiếu kết nối với công nghiệp và thiếu đầu ra việc làm sẽ là những trường chịu tác động đầu tiên.Một bên là các trường đại học nước ngoài tăng tốc tiến vào Trung Quốc; một bên là nguồn sinh viên trong nước tiếp tục thu hẹp.
Các trường đại học Trung Quốc đang bước vào quá trình phân hóa nhanh chóng. Đối với các thành phố, mời được trường đại học về mới chỉ là bước đầu. Có thể khiến trường hình thành ngành đào tạo đặc sắc hay không, gắn được với ngành công nghiệp địa phương hay không, giữ được nhân tài hay không và chuyển hóa được kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tế hay không – đó mới là những yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng của cuộc cạnh tranh này.
6. Bình luận của tôi về Trung Quốc
Đọc tin trên, tự nhiên tôi nghĩ ngay tới câu hỏi “Tại sao Trung Quốc không sợ cách mạng màu khi mở cửa cho các đại học phương Tây xâm nhập vào như ở Việt Nam ?”.
Sau đó tôi nghĩ không nên hiểu đơn giản rằng Trung Quốc “không sợ”. Trung Quốc chắc chắn có ý thức rất rõ về vấn đề tư tưởng, ảnh hưởng nước ngoài và an ninh chính trị. Điều đáng nói hơn là họ đã tách được hai vấn đề mà nhiều người thường gộp làm một: Mở cửa tri thức ≠ mở cửa chính trị.
Đây chính là điểm tôi cho rằng Việt Nam có thể học được rất nhiều.
6.1. Trung Quốc không mở cửa đại học phương Tây theo kiểu “để phương Tây tự do hoạt động”
Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Bài báo nói về hợp tác đào tạo Trung Quốc – nước ngoài, chứ không phải cứ trường đại học phương Tây muốn vào Trung Quốc là được tự do mở trường. Đây là một mô hình được nhà nước cấp phép, lựa chọn và quản lý.
Trung Quốc có thể nói: “Các anh có thể mang chương trình đào tạo, giáo sư, phương pháp nghiên cứu và mạng lưới quốc tế vào đây.” Nhưng đồng thời: “Việc tổ chức, ngành đào tạo, chương trình, cơ chế cấp bằng và hoạt động của các anh vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật Trung Quốc.”. Đây là khác biệt rất quan trọng giữa quốc tế hóa giáo dục và tự do hóa hoàn toàn giáo dục.
6.2. Điều tôi thấy đáng học nhất ở Trung Quốc là họ nhìn đại học trước hết như một nguồn lực phát triển. Đây mới là cái lõi của vấn đề và là cái giỏi của Trung Quốc.
Trung Quốc đã đi qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tranh vốn, gồm ưu đãi đầu tư, phát triển khu công nghiệp và thu hút FDI.
Giai đoạn 2: Tranh doanh nghiệp, như Huawei, Foxconn, BYD, CATL..., tranh nhà máy, tranh trụ sở.
Giai đoạn 3: Tranh nhân tài và năng lực sáng tạo, gồm tranh nhà khoa học, tranh kỹ sư, tranh đại học, tranh phòng thí nghiệm, tranh công nghệ.
Vì thế, một thành phố như Thâm Quyến cuối cùng nhận ra Có Huawei, Tencent, DJI vẫn chưa đủ. Phải có trường đại học và hệ thống nghiên cứu của riêng mình. Đây là tư duy rất quan trọng.
6.3. Trung Quốc cũng phát hiện ra một điều mà Việt Nam cũng đang gặp phải: Nhân tài không thể chỉ “mua” bằng tiền.
Một tỉnh có thể trả 500 triệu, 1 tỷ, thậm chí vài tỷ đồng để mời một giáo sư. Nhưng nếu không có nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm; sinh viên giỏi; đồng nghiệp; doanh nghiệp; dự án, hệ sinh thái nghiên cứu... thì giáo sư đó rất khó tạo ra một trung tâm tri thức.
Do đó, cách tốt hơn được Trung Quốc chọn làm là xây dựng nơi sản sinh nhân tài thay vì chỉ đi săn nhân tài. Đại học chính là “nhà máy sản xuất nhân lực chất lượng cao”.
6.4. Nhưng câu hỏi về “cách mạng màu” mới thực sự thú vị
Theo tôi, câu trả lời của Trung Quốc có thể được diễn đạt bằng một nghịch lý: Một quốc gia càng tự tin về năng lực quản trị và sức mạnh thể chế thì càng có khả năng mở cửa có kiểm soát.
Trung Quốc không cho rằng sinh viên tiếp xúc với tư tưởng phương Tây = sẽ chống chính quyền.
Họ phân biệt tiếp nhận tri thức với chấp nhận một hệ tư tưởng chính trị. Sinh viên Trung Quốc có thể học kinh tế học phương Tây; quản trị phương Tây; AI; vật lý; sinh học; luật; tài chính; triết học; phương pháp nghiên cứu;... mà không nhất thiết vì thế trở thành một lực lượng chính trị chống nhà nước.
Thậm chí có một logic sâu hơn: Nếu không cho sinh viên tiếp xúc với thế giới bên ngoài, họ vẫn có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua Internet, du học, doanh nghiệp và mạng xã hội. Như vậy, đóng cửa đại học không giải quyết được vấn đề. Trong khi đó, nếu đưa tri thức quốc tế vào trong một khuôn khổ mà nhà nước có thể quản lý, thì nhà nước vừa lấy được tri thức vừa kiểm soát được rủi ro.
6.5. Trung Quốc đang chơi một “canh bạc” rất lớn
Họ chấp nhận một phần rủi ro tư tưởng để đổi lấy: nhân tài + công nghệ + nghiên cứu + quốc tế hóa + năng lực cạnh tranh. Điều đáng chú ý là họ không chỉ mở cửa với Mỹ và Anh. Đối tác đã mở rộng sang Pháp, Singapore, Nga, Tây Ban Nha, Hungary, Cuba, Trung và Đông Âu, Đông Nam Á và Mỹ Latinh.
Điều đó cho thấy đây không đơn thuần là: “Nhập khẩu tư tưởng phương Tây.”, mà là Nhập khẩu mạng lưới tri thức toàn cầu. Đây là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
7. Bình luận của tôi về Việt Nam
7.1. Việt Nam hiện nay thực ra cũng đang đi theo hướng này, nhưng quy mô và tư duy chưa giống Trung Quốc
Điểm này rất đáng chú ý vì khung pháp lý Việt Nam năm 2026 đã có bước mở cửa đáng kể. Luật Giáo dục đại học 2025 của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã quy định rõ về chi nhánh của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam; các chi nhánh này được thành lập và hoạt động theo quy định áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục có vốn đầu tư nước ngoài. Luật cũng quy định đầu tư giáo dục đại học có yếu tố nước ngoài phải bảo đảm lợi ích quốc gia, quốc phòng – an ninh, văn hóa, tư tưởng, chất lượng đào tạo và phát triển bền vững.
Đặc biệt, từ tháng 4/2026, Việt Nam đã phân cấp thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt việc thành lập chi nhánh đại học nước ngoài, thay vì trước đây chỉ Thủ tướng có thẩm quyền. Hiện Việt Nam có 5 chi nhánh/cơ sở đại học nước ngoài được Chính phủ liệt kê là đang hoạt động.
Điều đó cho thấy Việt Nam không phải đóng cửa. Nhưng vấn đề là Việt Nam đang mở cửa đại học chủ yếu như một hoạt động giáo dục – đào tạo; còn Trung Quốc đang ngày càng coi nó là một bộ phận của chiến lược phát triển công nghiệp và cạnh tranh thành phố. Đây là khác biệt rất lớn.
7.2. Và đây là điều tôi nghĩ Việt Nam nên học Trung Quốc
Không phải học Trung Quốc ở chỗ “cho nhiều trường phương Tây vào”, mà phải học ở cách sử dụng trường đại học nước ngoài.
Ví dụ Việt Nam có: Bình Dương – TP.HCM mong muốn trở thành trung tâm điện tử, bán dẫn, AI, logistics và công nghiệp chế tạo. Tại sao không mời một trường kỹ thuật hàng đầu của Anh, Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc vào lập college/graduate school chuyên về bán dẫn và tự động hóa, gắn trực tiếp với doanh nghiệp?
Hải Phòng – Quảng Ninh muốn phát triển cơ khí, ô tô, điện tử, logistics, cảng biển... Có thể hình thành một trung tâm đại học quốc tế chuyên về công nghiệp 4.0 + logistics + hàng hải.
Đà Nẵng nhằm vào AI, phần mềm, bán dẫn, du lịch. Vậy có thể biến một trường đại học quốc tế thành hạt nhân AI và bán dẫn miền Trung.
Hà Nội tập trung vào tài chính, công nghệ, chính sách công, AI, khoa học cơ bản... Có thể thu hút những đại học quốc tế có thế mạnh nghiên cứu, chứ không chỉ mở chương trình MBA hay liên kết đào tạo.
Đó mới là “nhập khẩu đại học”.
8. Việt Nam còn thiếu: “4+0”
Mô hình 4+0 trong bài báo rất đáng chú ý. Sinh viên không cần ra nước ngoài nhưng vẫn học chương trình quốc tế và lấy bằng quốc tế. Đây là một cách rất thông minh để giảm chi phí.
Việt Nam hiện có khá nhiều chương trình liên kết 2+2, 3+1, 4+0..., nhưng tôi nghĩ có thể phát triển mạnh hơn nữa, đặc biệt trong các ngành: AI; bán dẫn; robot; tự động hóa; khoa học dữ liệu; công nghệ sinh học; vật liệu mới... Nếu làm tốt, Việt Nam có thể biến một thành phố thành “campus quốc tế”.
9. Nhưng “Mời được đại học về mới chỉ là bước đầu.”
Đây là câu cực kỳ quan trọng. Việt Nam có một căn bệnh là rất thích thành lập trường, viện, trung tâm, khu công nghệ cao... rồi đếm số lượng. Nhưng điều quan trọng phải là: trường có nghiên cứu gì? giáo sư nào? bằng sáng chế nào? doanh nghiệp nào sử dụng kết quả? sinh viên tốt nghiệp đi đâu? bao nhiêu startup được tạo ra? bao nhiêu công nghệ được thương mại hóa?
Nếu không trả lời được những câu đó thì việc “mời đại học nước ngoài” dễ biến thành kinh doanh giáo dục, chứ chưa phải chính sách phát triển.
10. Điểm khác biệt căn bản giữa Trung Quốc và Việt Nam
Mô hình cũ: Thu hút FDI → nhà máy → việc làm → GDP.
Trung Quốc đang chuyển sang: Đại học → nhân tài → nghiên cứu → công nghệ → doanh nghiệp → công nghiệp → đổi mới → tăng trưởng.
Việt Nam hiện nay vẫn khá nặng về: FDI → nhà máy → xuất khẩu → tăng trưởng.
Trong khi đó, nếu muốn thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và FDI, Việt Nam cuối cùng cũng phải chuyển sang:
Đại học → nhân tài → R&D → công nghệ → doanh nghiệp Việt Nam → năng suất → TFP → tăng trưởng.
Đây chính là chỗ bài báo Trung Quốc liên quan rất sâu tới vấn đề “chất lượng tăng trưởng” mà anh vẫn quan tâm.
Trở lại câu hỏi ban đầu: “Trung Quốc không sợ cách mạng màu hay sao?”
Tôi sẽ trả lời ngắn gọn thế này: Có thể họ có sợ, nhưng họ đánh giá rằng lợi ích của việc tiếp nhận tri thức toàn cầu lớn hơn rủi ro, và họ tin rằng rủi ro ấy có thể quản lý bằng thể chế.
Quan trọng hơn, Trung Quốc dường như không nhìn sinh viên được tiếp xúc với tư tưởng phương Tây theo logic: “Tiếp xúc = bị biến đổi = nguy hiểm”.
Mà ngày càng nhìn theo logic: “Có thể tiếp nhận tri thức, công nghệ và nhân tài từ bên ngoài, đồng thời vẫn duy trì khuôn khổ chính trị – thể chế của mình.”
Đó là một cách tiếp cận thực dụng hơn rất nhiều. Tôi nghĩ đây mới là điều Việt Nam đáng suy nghĩ.
Không phải “có nên sợ tư tưởng phương Tây hay không?”, mà là “chúng ta có đủ tự tin và đủ năng lực thể chế để mở cửa tri thức mà vẫn quản lý được những rủi ro đi kèm hay không?”
Nếu câu trả lời là có, thì việc mời những trường đại học tốt nhất thế giới vào Việt Nam không phải là “nhập khẩu tư tưởng”; nó có thể là nhập khẩu năng lực khoa học, phương pháp nghiên cứu, mạng lưới nhân tài và công nghệ. Về phát triển kinh tế dài hạn, đó có thể là một trong những khoản “FDI” có giá trị nhất mà Việt Nam có thể thu hút.
Một điểm rất đáng chú ý nữa là Ấn Độ hiện cũng đang đi theo hướng mở cửa mạnh cho đại học nước ngoài: Đại học Southampton đã mở cơ sở tại Gurgaon năm 2025 theo cơ chế mới của Ấn Độ, và Chính phủ Ấn Độ đã phê duyệt 17 trường đại học nước ngoài mở cơ sở. Điều này cho thấy cuộc cạnh tranh “nhập khẩu đại học” thực ra đang trở thành một cuộc cạnh tranh quốc tế để giành tri thức và nhân tài, chứ không chỉ là câu chuyện riêng của Trung Quốc.
Và Việt Nam vừa có một cơ hội mới: Luật Giáo dục đại học 2025 đã tạo cơ sở pháp lý rõ hơn cho chi nhánh đại học nước ngoài, trong khi năm 2026 việc phê duyệt cũng đã được phân cấp mạnh hơn.
Nếu Việt Nam chỉ dùng cơ chế này để có thêm vài trường quốc tế thu học phí thì rất đáng tiếc. Nếu dùng nó để xây các “cụm đại học – công nghệ – doanh nghiệp” tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương..., thì ý nghĩa kinh tế sẽ hoàn toàn khác.
Đại học Duke Côn Sơn do Đại học Duke, Đại học Vũ Hán và chính quyền thành phố Côn Sơn cùng thành lập. Đến cuối năm 2024, Văn phòng Phát triển Nghề nghiệp của trường đã liên hệ với gần 500 nhà tuyển dụng và duy trì quan hệ hợp tác lâu dài với hơn 80 nhà tuyển dụng. Google, Microsoft, Tesla... đều từng tổ chức các buổi giới thiệu tuyển dụng trực tuyến hoặc trực tiếp tại trường.
Dựa vào nguồn lực nghiên cứu khoa học của Đại học Duke và Đại học Vũ Hán, Đại học Duke Côn Sơn liên tục thu hút sinh viên và giảng viên quốc tế đến Côn Sơn, đồng thời giúp thành phố cấp huyện này có được một kênh kết nối lâu dài với các trường đại học, tổ chức nghiên cứu và doanh nghiệp trên toàn thế giới. Giá trị này rất khó đo lường trong ngắn hạn bằng số lượng tuyển sinh.
Sinh viên quốc tế đến thành phố, giáo sư nước ngoài tiến hành nghiên cứu tại địa phương, sinh viên tốt nghiệp đi vào các trường đại học và doanh nghiệp trong và ngoài nước... tất cả đều không ngừng nâng cao sự hiện diện của thành phố trong mạng lưới nhân tài và đổi mới sáng tạo toàn cầu.
Doanh nghiệp đến thường mang theo nhà máy, sản lượng và thuế. Đại học bén rễ thì sẽ liên tục tích lũy nhân tài, thành quả nghiên cứu và nguồn lực công nghiệp, đồng thời trong chu kỳ dài hơn sẽ làm thay đổi năng lực đổi mới sáng tạo của cả thành phố. Vì vậy, cuộc tranh nhau mời đại học từ khắp thế giới của các thành phố Trung Quốc lần này thực chất là cuộc tranh giành quyền chủ động phát triển trong vài chục năm tới. Nhưng phía sau cuộc cạnh tranh này, bản thân các trường đại học trên thế giới cũng đang trải qua một cuộc sàng lọc sâu sắc.
Một lý do quan trọng khiến các trường đại học nước ngoài tích cực tiến vào Trung Quốc là nhiều trường đại học phương Tây đang chịu áp lực tài chính ngày càng lớn, thậm chí có trường không thể tiếp tục tồn tại.
Mỹ là nơi xuất hiện làn sóng đóng cửa trường đại học sớm nhất. Năm 2024, Cabrini University và Philadelphia University of the Arts lần lượt đóng cửa. Số sinh viên của trường thứ hai giảm từ 2.038 người năm 2013 xuống còn 1.149 người năm 2023, giảm khoảng 44% trong 10 năm.
Sau đó, làn sóng đóng cửa vẫn tiếp tục. Trong năm 2025, ít nhất 16 trường đại học phi lợi nhuận của Mỹ tuyên bố đóng cửa. Tháng 4/2026, Hampshire College, thành lập từ năm 1965, cũng tuyên bố sẽ đóng cửa vĩnh viễn sau khi kết thúc học kỳ mùa thu.
Các trường đại học Anh cũng chịu áp lực. Theo số liệu được Cơ quan Sinh viên Anh công bố năm 2026, trong năm học 2024–2025, hơn một phần ba các trường đại học tại Anh rơi vào tình trạng thâm hụt tài chính. Đến năm học 2025–2026, tỷ lệ này dự kiến tăng lên 42,7%, tức cứ 10 trường thì có hơn 4 trường bị thâm hụt.
Đằng sau những áp lực này đều không thể bỏ qua vấn đề nguồn sinh viên. Tại Canada, tính đến cuối tháng 9/2025, số người có giấy phép học tập khoảng 725.000, giảm hơn 200.000 so với cuối năm 2024. Tại Australia, trong 5 tháng đầu năm 2026, tổng số sinh viên quốc tế giảm 6,9% so với cùng kỳ.
Đối với những cơ sở giáo dục phụ thuộc rất lớn vào học phí của sinh viên quốc tế, những thay đổi trên thị trường du học toàn cầu đang tạo ra những thách thức mới. Khi ngày càng nhiều sinh viên không còn đi du học nước ngoài, các trường đại học nước ngoài buộc phải tìm một cách khác để tìm nguồn sinh viên thông qua hợp tác đào tạo, đưa chương trình học, giảng viên và các chương trình cấp bằng trực tiếp tới Trung Quốc.
Cách làm này vừa giúp họ có thêm sinh viên và nguồn thu, vừa giúp họ tiếp cận nền tảng nghiên cứu khoa học, các dự án công nghiệp và nguồn lực địa phương của Trung Quốc. Tuy nhiên, điều này cũng làm gia tăng cạnh tranh giữa các trường đại học Trung Quốc.
Năm 2024, Trung Quốc có 136.300 trường tiểu học phổ thông; năm 2025 giảm xuống còn 128.300 trường. Số học sinh nhập học tiểu học cũng giảm từ 16,1663 triệu xuống còn 14,6174 triệu, tức chỉ trong một năm giảm 1,55 triệu người. Những học sinh nhập học năm 2025 dự kiến sẽ tham gia kỳ thi đại học vào khoảng năm 2037. Vì vậy, sự thu hẹp nguồn sinh viên sẽ tiếp tục truyền dẫn lên hệ thống đại học.
Áp lực đối với các trường đại học đã bắt đầu xuất hiện. Năm 2025, số người đăng ký thi đại học trên toàn quốc giảm xuống còn 13,35 triệu, thấp hơn năm trước 70.000 người, chấm dứt chuỗi nhiều năm liên tục tăng. Năm 2026, số người đăng ký tiếp tục giảm xuống còn 12,9 triệu, giảm 450.000 người so với năm trước, mức giảm rõ rệt hơn.
Áp lực tuyển sinh đang nhanh chóng tập trung vào một số trường đại học tư thục. Năm 2026, tại Quảng Đông có 6 trường đại học tư thục trong đợt xét tuyển đầu tiên ngành vật lý hệ phổ thông xuất hiện tình trạng không đủ thí sinh, tổng số chỉ tiêu còn thiếu hơn 6.800. Tại Bắc Kinh, sau đợt tuyển sinh chính thức và đợt bổ sung đầu tiên, khối đại học vẫn còn 1.701 chỉ tiêu trống, trong đó gần 98% tập trung ở 4 trường đại học tư thục.
Một báo cáo nghiên cứu của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc cũng chỉ ra rằng từ khi thực hiện Kế hoạch 5 năm lần thứ 14, tình trạng tuyển sinh khó khăn của các trường đại học tư thục ngày càng nghiêm trọng, một số trường phải đối mặt với nguy cơ thiếu nguồn sinh viên. Đối với các trường tư thục phụ thuộc cao vào nguồn thu học phí, nếu trong thời gian dài không tuyển đủ sinh viên, áp lực tuyển sinh rất có thể sẽ chuyển thành áp lực sinh tồn.
Thực ra, dân số giảm chỉ là một trong những nguyên nhân. Mức học phí, cơ cấu ngành học, chất lượng đào tạo và triển vọng việc làm cũng đang ảnh hưởng đến lựa chọn của thí sinh và phụ huynh. Những trường thiếu ngành đào tạo đặc sắc, thiếu kết nối với công nghiệp và thiếu đầu ra việc làm sẽ là những trường chịu tác động đầu tiên.Một bên là các trường đại học nước ngoài tăng tốc tiến vào Trung Quốc; một bên là nguồn sinh viên trong nước tiếp tục thu hẹp.
Các trường đại học Trung Quốc đang bước vào quá trình phân hóa nhanh chóng. Đối với các thành phố, mời được trường đại học về mới chỉ là bước đầu. Có thể khiến trường hình thành ngành đào tạo đặc sắc hay không, gắn được với ngành công nghiệp địa phương hay không, giữ được nhân tài hay không và chuyển hóa được kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tế hay không – đó mới là những yếu tố cuối cùng quyết định chất lượng của cuộc cạnh tranh này.
6. Bình luận của tôi về Trung Quốc
Đọc tin trên, tự nhiên tôi nghĩ ngay tới câu hỏi “Tại sao Trung Quốc không sợ cách mạng màu khi mở cửa cho các đại học phương Tây xâm nhập vào như ở Việt Nam ?”.
Sau đó tôi nghĩ không nên hiểu đơn giản rằng Trung Quốc “không sợ”. Trung Quốc chắc chắn có ý thức rất rõ về vấn đề tư tưởng, ảnh hưởng nước ngoài và an ninh chính trị. Điều đáng nói hơn là họ đã tách được hai vấn đề mà nhiều người thường gộp làm một: Mở cửa tri thức ≠ mở cửa chính trị.
Đây chính là điểm tôi cho rằng Việt Nam có thể học được rất nhiều.
6.1. Trung Quốc không mở cửa đại học phương Tây theo kiểu “để phương Tây tự do hoạt động”
Đây là điểm cực kỳ quan trọng. Bài báo nói về hợp tác đào tạo Trung Quốc – nước ngoài, chứ không phải cứ trường đại học phương Tây muốn vào Trung Quốc là được tự do mở trường. Đây là một mô hình được nhà nước cấp phép, lựa chọn và quản lý.
Trung Quốc có thể nói: “Các anh có thể mang chương trình đào tạo, giáo sư, phương pháp nghiên cứu và mạng lưới quốc tế vào đây.” Nhưng đồng thời: “Việc tổ chức, ngành đào tạo, chương trình, cơ chế cấp bằng và hoạt động của các anh vẫn nằm trong khuôn khổ pháp luật Trung Quốc.”. Đây là khác biệt rất quan trọng giữa quốc tế hóa giáo dục và tự do hóa hoàn toàn giáo dục.
6.2. Điều tôi thấy đáng học nhất ở Trung Quốc là họ nhìn đại học trước hết như một nguồn lực phát triển. Đây mới là cái lõi của vấn đề và là cái giỏi của Trung Quốc.
Trung Quốc đã đi qua ba giai đoạn:
Giai đoạn 1: Tranh vốn, gồm ưu đãi đầu tư, phát triển khu công nghiệp và thu hút FDI.
Giai đoạn 2: Tranh doanh nghiệp, như Huawei, Foxconn, BYD, CATL..., tranh nhà máy, tranh trụ sở.
Giai đoạn 3: Tranh nhân tài và năng lực sáng tạo, gồm tranh nhà khoa học, tranh kỹ sư, tranh đại học, tranh phòng thí nghiệm, tranh công nghệ.
Vì thế, một thành phố như Thâm Quyến cuối cùng nhận ra Có Huawei, Tencent, DJI vẫn chưa đủ. Phải có trường đại học và hệ thống nghiên cứu của riêng mình. Đây là tư duy rất quan trọng.
6.3. Trung Quốc cũng phát hiện ra một điều mà Việt Nam cũng đang gặp phải: Nhân tài không thể chỉ “mua” bằng tiền.
Một tỉnh có thể trả 500 triệu, 1 tỷ, thậm chí vài tỷ đồng để mời một giáo sư. Nhưng nếu không có nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm; sinh viên giỏi; đồng nghiệp; doanh nghiệp; dự án, hệ sinh thái nghiên cứu... thì giáo sư đó rất khó tạo ra một trung tâm tri thức.
Do đó, cách tốt hơn được Trung Quốc chọn làm là xây dựng nơi sản sinh nhân tài thay vì chỉ đi săn nhân tài. Đại học chính là “nhà máy sản xuất nhân lực chất lượng cao”.
6.4. Nhưng câu hỏi về “cách mạng màu” mới thực sự thú vị
Theo tôi, câu trả lời của Trung Quốc có thể được diễn đạt bằng một nghịch lý: Một quốc gia càng tự tin về năng lực quản trị và sức mạnh thể chế thì càng có khả năng mở cửa có kiểm soát.
Trung Quốc không cho rằng sinh viên tiếp xúc với tư tưởng phương Tây = sẽ chống chính quyền.
Họ phân biệt tiếp nhận tri thức với chấp nhận một hệ tư tưởng chính trị. Sinh viên Trung Quốc có thể học kinh tế học phương Tây; quản trị phương Tây; AI; vật lý; sinh học; luật; tài chính; triết học; phương pháp nghiên cứu;... mà không nhất thiết vì thế trở thành một lực lượng chính trị chống nhà nước.
Thậm chí có một logic sâu hơn: Nếu không cho sinh viên tiếp xúc với thế giới bên ngoài, họ vẫn có thể tiếp xúc với thế giới bên ngoài qua Internet, du học, doanh nghiệp và mạng xã hội. Như vậy, đóng cửa đại học không giải quyết được vấn đề. Trong khi đó, nếu đưa tri thức quốc tế vào trong một khuôn khổ mà nhà nước có thể quản lý, thì nhà nước vừa lấy được tri thức vừa kiểm soát được rủi ro.
6.5. Trung Quốc đang chơi một “canh bạc” rất lớn
Họ chấp nhận một phần rủi ro tư tưởng để đổi lấy: nhân tài + công nghệ + nghiên cứu + quốc tế hóa + năng lực cạnh tranh. Điều đáng chú ý là họ không chỉ mở cửa với Mỹ và Anh. Đối tác đã mở rộng sang Pháp, Singapore, Nga, Tây Ban Nha, Hungary, Cuba, Trung và Đông Âu, Đông Nam Á và Mỹ Latinh.
Điều đó cho thấy đây không đơn thuần là: “Nhập khẩu tư tưởng phương Tây.”, mà là Nhập khẩu mạng lưới tri thức toàn cầu. Đây là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
7. Bình luận của tôi về Việt Nam
7.1. Việt Nam hiện nay thực ra cũng đang đi theo hướng này, nhưng quy mô và tư duy chưa giống Trung Quốc
Điểm này rất đáng chú ý vì khung pháp lý Việt Nam năm 2026 đã có bước mở cửa đáng kể. Luật Giáo dục đại học 2025 của Việt Nam, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, đã quy định rõ về chi nhánh của cơ sở giáo dục đại học nước ngoài tại Việt Nam; các chi nhánh này được thành lập và hoạt động theo quy định áp dụng đối với cơ sở giáo dục đại học tư thục có vốn đầu tư nước ngoài. Luật cũng quy định đầu tư giáo dục đại học có yếu tố nước ngoài phải bảo đảm lợi ích quốc gia, quốc phòng – an ninh, văn hóa, tư tưởng, chất lượng đào tạo và phát triển bền vững.
Đặc biệt, từ tháng 4/2026, Việt Nam đã phân cấp thẩm quyền cho Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo phê duyệt việc thành lập chi nhánh đại học nước ngoài, thay vì trước đây chỉ Thủ tướng có thẩm quyền. Hiện Việt Nam có 5 chi nhánh/cơ sở đại học nước ngoài được Chính phủ liệt kê là đang hoạt động.
Điều đó cho thấy Việt Nam không phải đóng cửa. Nhưng vấn đề là Việt Nam đang mở cửa đại học chủ yếu như một hoạt động giáo dục – đào tạo; còn Trung Quốc đang ngày càng coi nó là một bộ phận của chiến lược phát triển công nghiệp và cạnh tranh thành phố. Đây là khác biệt rất lớn.
7.2. Và đây là điều tôi nghĩ Việt Nam nên học Trung Quốc
Không phải học Trung Quốc ở chỗ “cho nhiều trường phương Tây vào”, mà phải học ở cách sử dụng trường đại học nước ngoài.
Ví dụ Việt Nam có: Bình Dương – TP.HCM mong muốn trở thành trung tâm điện tử, bán dẫn, AI, logistics và công nghiệp chế tạo. Tại sao không mời một trường kỹ thuật hàng đầu của Anh, Đức, Pháp, Nhật, Hàn Quốc vào lập college/graduate school chuyên về bán dẫn và tự động hóa, gắn trực tiếp với doanh nghiệp?
Hải Phòng – Quảng Ninh muốn phát triển cơ khí, ô tô, điện tử, logistics, cảng biển... Có thể hình thành một trung tâm đại học quốc tế chuyên về công nghiệp 4.0 + logistics + hàng hải.
Đà Nẵng nhằm vào AI, phần mềm, bán dẫn, du lịch. Vậy có thể biến một trường đại học quốc tế thành hạt nhân AI và bán dẫn miền Trung.
Hà Nội tập trung vào tài chính, công nghệ, chính sách công, AI, khoa học cơ bản... Có thể thu hút những đại học quốc tế có thế mạnh nghiên cứu, chứ không chỉ mở chương trình MBA hay liên kết đào tạo.
Đó mới là “nhập khẩu đại học”.
8. Việt Nam còn thiếu: “4+0”
Mô hình 4+0 trong bài báo rất đáng chú ý. Sinh viên không cần ra nước ngoài nhưng vẫn học chương trình quốc tế và lấy bằng quốc tế. Đây là một cách rất thông minh để giảm chi phí.
Việt Nam hiện có khá nhiều chương trình liên kết 2+2, 3+1, 4+0..., nhưng tôi nghĩ có thể phát triển mạnh hơn nữa, đặc biệt trong các ngành: AI; bán dẫn; robot; tự động hóa; khoa học dữ liệu; công nghệ sinh học; vật liệu mới... Nếu làm tốt, Việt Nam có thể biến một thành phố thành “campus quốc tế”.
9. Nhưng “Mời được đại học về mới chỉ là bước đầu.”
Đây là câu cực kỳ quan trọng. Việt Nam có một căn bệnh là rất thích thành lập trường, viện, trung tâm, khu công nghệ cao... rồi đếm số lượng. Nhưng điều quan trọng phải là: trường có nghiên cứu gì? giáo sư nào? bằng sáng chế nào? doanh nghiệp nào sử dụng kết quả? sinh viên tốt nghiệp đi đâu? bao nhiêu startup được tạo ra? bao nhiêu công nghệ được thương mại hóa?
Nếu không trả lời được những câu đó thì việc “mời đại học nước ngoài” dễ biến thành kinh doanh giáo dục, chứ chưa phải chính sách phát triển.
10. Điểm khác biệt căn bản giữa Trung Quốc và Việt Nam
Mô hình cũ: Thu hút FDI → nhà máy → việc làm → GDP.
Trung Quốc đang chuyển sang: Đại học → nhân tài → nghiên cứu → công nghệ → doanh nghiệp → công nghiệp → đổi mới → tăng trưởng.
Việt Nam hiện nay vẫn khá nặng về: FDI → nhà máy → xuất khẩu → tăng trưởng.
Trong khi đó, nếu muốn thoát khỏi mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào vốn, lao động giá rẻ và FDI, Việt Nam cuối cùng cũng phải chuyển sang:
Đại học → nhân tài → R&D → công nghệ → doanh nghiệp Việt Nam → năng suất → TFP → tăng trưởng.
Đây chính là chỗ bài báo Trung Quốc liên quan rất sâu tới vấn đề “chất lượng tăng trưởng” mà anh vẫn quan tâm.
Trở lại câu hỏi ban đầu: “Trung Quốc không sợ cách mạng màu hay sao?”
Tôi sẽ trả lời ngắn gọn thế này: Có thể họ có sợ, nhưng họ đánh giá rằng lợi ích của việc tiếp nhận tri thức toàn cầu lớn hơn rủi ro, và họ tin rằng rủi ro ấy có thể quản lý bằng thể chế.
Quan trọng hơn, Trung Quốc dường như không nhìn sinh viên được tiếp xúc với tư tưởng phương Tây theo logic: “Tiếp xúc = bị biến đổi = nguy hiểm”.
Mà ngày càng nhìn theo logic: “Có thể tiếp nhận tri thức, công nghệ và nhân tài từ bên ngoài, đồng thời vẫn duy trì khuôn khổ chính trị – thể chế của mình.”
Đó là một cách tiếp cận thực dụng hơn rất nhiều. Tôi nghĩ đây mới là điều Việt Nam đáng suy nghĩ.
Không phải “có nên sợ tư tưởng phương Tây hay không?”, mà là “chúng ta có đủ tự tin và đủ năng lực thể chế để mở cửa tri thức mà vẫn quản lý được những rủi ro đi kèm hay không?”
Nếu câu trả lời là có, thì việc mời những trường đại học tốt nhất thế giới vào Việt Nam không phải là “nhập khẩu tư tưởng”; nó có thể là nhập khẩu năng lực khoa học, phương pháp nghiên cứu, mạng lưới nhân tài và công nghệ. Về phát triển kinh tế dài hạn, đó có thể là một trong những khoản “FDI” có giá trị nhất mà Việt Nam có thể thu hút.
Một điểm rất đáng chú ý nữa là Ấn Độ hiện cũng đang đi theo hướng mở cửa mạnh cho đại học nước ngoài: Đại học Southampton đã mở cơ sở tại Gurgaon năm 2025 theo cơ chế mới của Ấn Độ, và Chính phủ Ấn Độ đã phê duyệt 17 trường đại học nước ngoài mở cơ sở. Điều này cho thấy cuộc cạnh tranh “nhập khẩu đại học” thực ra đang trở thành một cuộc cạnh tranh quốc tế để giành tri thức và nhân tài, chứ không chỉ là câu chuyện riêng của Trung Quốc.
Và Việt Nam vừa có một cơ hội mới: Luật Giáo dục đại học 2025 đã tạo cơ sở pháp lý rõ hơn cho chi nhánh đại học nước ngoài, trong khi năm 2026 việc phê duyệt cũng đã được phân cấp mạnh hơn.
Nếu Việt Nam chỉ dùng cơ chế này để có thêm vài trường quốc tế thu học phí thì rất đáng tiếc. Nếu dùng nó để xây các “cụm đại học – công nghệ – doanh nghiệp” tại Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Bình Dương..., thì ý nghĩa kinh tế sẽ hoàn toàn khác.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét