Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

Chỉ cách 1 cm đã tránh được một trận đại hồng thủy toàn lưu vực Thái Hồ

Chỉ cách 1 cm đã tránh được một trận đại hồng thủy toàn lưu vực Thái Hồ
Mình nhiều lần đi Trung quốc và đã hai lần đến hồ Thái Hồ và thành phố Vô Tích. Nhiều cảnh đẹp vô cùng. Bây giờ đọc được tin lũ lụt xảy ra ở đây mình rất lo lắng cho Hà Nội, nhất là khi so sánh với dự án Đại lộ cảnh quan sông Hồng đang được triển khai mà chúng ta đã bàn cách đây vài tháng. Đọc những tin này còn thấy kinh sợ vì rất nhiều thứ ở Trung Quốc rất giống ở Việt Nam, nhưng trình độ quản trị của họ cao hơn chúng ta rất nhiều
Ảnh 1: Kênh thoát nước và xả lũ hồ Thái Hồ

Hồ Thái Hồ nằm ở vùng đồng bằng châu thổ sông Dương Tử, giữa Giang Tô và Chiết Giang. Diện tích mặt nước khoảng 2.250 km², tức lớn hơn rất nhiều so với Hồ Tây Hà Nội. Thể tích nước khoảng 27,2 km³, độ sâu tối đa tới 48 m. Điều đáng chú ý nhất là Thái Hồ nằm trong một mạng lưới sông hồ chứ không phải một cái hồ biệt lập. Nó là một bộ phận của cả một hệ thống sông – hồ – kênh – cống – trạm bơm – cửa thoát nước của vùng đồng bằng Dương Tử.

Vì vậy, khi Trung Quốc nói rằng năm nay họ tránh được đại hồng thủy Thái Hồ chỉ với khoảng cách 1 cm, điều đó không có nghĩa là bản thân hồ tự nhiên có thể “nuốt” một lượng nước khổng lồ. Điều quyết định là toàn bộ hệ thống đã chủ động hạ mực nước ở hạ lưu, dành dung tích cho hồ, giữ nước trong hồ rồi xả ra ngoài vào thời điểm thích hợp. Đó là một bài học rất quan trọng đối với Hà Nội.

Thái Hồ cực kỳ quan trọng đối với vùng kinh tế giàu nhất Trung Quốc. Vì thế câu chuyện chống lũ ở Thái Hồ có ý nghĩa đặc biệt. Hồ nằm ngay giữa vùng đồng bằng Dương Tử, gần các trung tâm kinh tế lớn như Tô Châu và Vô Tích, đồng thời gắn với một vùng nông nghiệp, công nghiệp và đô thị hóa rất cao. Wikipedia cho biết khu vực xung quanh nổi tiếng về sản xuất ngũ cốc; hồ cũng có giá trị thủy sản, cảnh quan và du lịch.

Do đó, một trận lũ lớn ở đây không chỉ là vấn đề “ngập vài thành phố”. Nó có khả năng tác động đồng thời đến dân cư, giao thông, công nghiệp, nông nghiệp, logistics và chuỗi cung ứng.

Bài học lớn nhất đối với Việt Nam không phải là câu chuyện Trung Quốc “đã chống lũ thành công”, mà là nhận định của họ rất chính xác rằng "khí hậu cực đoan đang thay đổi hình thái thiên tai, trong khi đô thị ngày càng tập trung nhiều tài sản và hạ tầng", nên để đại hồng thủy xảy ra thì thiệt hại người và của không biết lớn tới mức nào.

Mình cho rằng chúng ta không nên xem kinh nghiệm Trung Quốc được mình tổng hợp dưới đây là một bài tuyên truyền thành tích phòng chống lũ của họ, mà cần nhìn nhận để suy nghĩ, phân tích thêm những rủi ro đối với quy hoạch đô thị Hà Nội. Cũng vì nguyên nhân này mà mình mới đề xuất nên xây dựng Hà Nội mới ở Hòa Bình.

Báo chí Trung Quốc cho biết ngày 17 tháng 8 vừa qua, lúc 19 giờ 40 phút, mực nước Thái Hồ dừng lại ở mức 4,49 mét. Theo “Quy định về phân loại lũ trên các lưu vực sông trên toàn quốc”, khi mực nước đỉnh lũ đạt 4,50 mét, Thái Hồ sẽ được xác định là bắt đầu xảy ra một trận đại hồng thủy toàn lưu vực. Chỉ cách ngưỡng đó đúng 1 cm, trận đại hồng thủy vừa chuẩn bị xảy ra đã dừng lại. Rất may là không có chuyện gì xảy ra.

1. Vì sao “không có chuyện gì xảy ra” lại đáng được quan tâm?

Mối đe dọa của trận lũ này vốn không hề nhỏ. Mưa lớn do bão “Bạch Hải Đồn” và hoàn lưu sau bão gây ra đã đẩy mực nước Thái Hồ lên mức cảnh giới 3,80 mét vào ngày 11 tháng 8, hình thành trận lũ số 1 của Thái Hồ năm 2026. Đến ngày 14 tháng 8, mực nước tăng lên 4,20 mét, đạt cấp lũ lớn tương đối trên toàn lưu vực. Vô Tích xuất hiện mưa lớn trên diện rộng, nhiều tuyến đường bị ngập, mực nước trên đoạn Đại Vận Hà qua Vô Tích lập kỷ lục cao nhất kể từ khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thành lập.

Đằng sau kết quả tưởng như bình ổn ấy là một hệ thống phòng chống đã được kích hoạt từ rất sớm. Bộ Thủy lợi tổ chức hội ý hằng ngày, sớm kích hoạt cơ chế ứng phó phòng chống lũ đối với Chiết Giang, Thượng Hải và Giang Tô, đồng thời cử các tổ công tác xuống tuyến đầu. Cơ quan Quản lý lưu vực Thái Hồ chủ động điều tiết các cống và trạm bơm ven sông, ven biển để hạ thấp mực nước, dành thêm dung tích điều tiết cho Thái Hồ. Từ ngày 6 đến ngày 13 tháng 8, Thái Hồ đã giữ lại 1,95 tỷ mét khối nước lũ, trong khi các cửa thoát nước ra sông Trường Giang, vùng ven biển và vịnh Hàng Châu đã tiêu thoát 2,04 tỷ mét khối. Sau khi mực nước của mạng lưới sông phía hạ lưu giảm xuống, nước lũ từ Thái Hồ mới được xả ra theo từng đợt, tránh để đỉnh lũ chồng lên nhau. Đến ngày 19 tháng 8, nhờ điều tiết khoa học và tinh vi, Thái Hồ đã thành công tránh được một trận đại hồng thủy toàn lưu vực.

Tin tức này gần như không gây ra tiếng vang nào. Không có đại hồng thủy thì cũng không có tin tức lớn.

Trong cùng một mùa bão, thành phố Ngọc Hoàn của tỉnh Chiết Giang đã bị hai cơn bão trực tiếp đổ bộ vào cùng một khu phố chỉ trong vòng một tháng. Ngày 11 tháng 7, bão “Ba Vì” đổ bộ với sức gió cấp 13; ngày 9 tháng 8, bão “Bạch Hải Đồn” đổ bộ với cấp 14. Từ năm 1949 đến nay, tổng cộng chỉ có bảy cơn bão trực tiếp đổ bộ vào Ngọc Hoàn, mà lần gần nhất trước đó đã cách đây 21 năm. Trước khi bão đổ bộ, Chiết Giang đã kích hoạt ứng phó cấp I, Đài Châu tổ chức sơ tán theo từng đợt 46.800 người. Lúc 0 giờ 30 phút, cán bộ thị trấn Sở Môn mặc áo mưa gõ cửa từng nhà để vận động người dân sơ tán. Xuồng cao su tiến vào những khu vực bị nước bao vây như những “hòn đảo cô lập”, đưa hơn 80 người già sống một mình và trẻ em ra khỏi vùng nguy hiểm.

Nhìn lại thời gian trước đó, vào giữa tháng 5, tại huyện Thạch Môn, tỉnh Hồ Nam, mưa lớn xảy ra. Bí thư Đảng ủy xã Sở Giới là Đường Hải trong khi kiểm tra tình hình đã phát hiện móng cầu Trương Gia Độ bị sụt. Ông lập tức quyết định phong tỏa cầu và ngăn hơn 100 phương tiện đang đi qua. Hai giờ sau, 160 mét vuông mặt cầu sụp xuống, nhưng toàn bộ sự cố không gây thương vong.

Tháng 6 năm 2025, tại Tín Nghi, Quảng Đông, lúc 0 giờ 42 phút, một nhân viên thông tin thiên tai phát hiện nước bùn màu vàng trào lên từ cống thoát nước. Người này lập tức dùng chuông báo động bằng tay và đánh chiêng đồng, sơ tán 25 hộ với 57 người trong bóng tối. Một giờ sau, khoảng 5.000 mét khối đất đá sạt xuống, nhưng không có ai bị thương.

Điểm chung của tất cả những câu chuyện này là điều tồi tệ nhất đã không xảy ra. Thiên tai và tin tức đều liên quan đến những sự kiện bất thường; nhưng mục tiêu của quản trị lại chính là loại bỏ sự bất thường. Một bản tin thiên tai gây chấn động thường tương ứng với việc một mắt xích nào đó trong công tác quản trị đã xuất hiện sơ suất. Ngược lại, một lần hóa giải nguy cơ đúng lúc và hoàn hảo lại thường chỉ kết thúc trong im lặng.

Vậy “không có chuyện gì xảy ra” được thực hiện như thế nào? Và liệu nó có xứng đáng xuất hiện trên trang nhất hay không?

2. Những điều sách “Xuân Thu” không ghi chép

Trên thực tế, cách kể chuyện chỉ ghi lại những hiện tượng bất thường này đã được các sử quan Trung Hoa xác lập từ hơn hai nghìn năm trước.

Sách “Xuân Thu” có một nguyên tắc ghi chép gọi là “việc thường không ghi”. Nhật thực, động đất, lũ lớn, hạn hán, nạn đói và những biến cố bất thường đều nhất định được ghi vào sử sách. Còn khi mưa thuận gió hòa, sông biển yên bình thì thông thường không được ghi vào sách. Bộ “Xuân Thu” bao quát 242 năm lịch sử, nhưng chỉ có hai lần ngoại lệ ghi chép về mùa màng bội thu. Năm thứ ba đời Lỗ Hoàn Công ghi “được mùa”, năm thứ 16 đời Lỗ Tuyên Công ghi “được mùa lớn”. Các sử gia đời sau đều coi đây là những trường hợp đặc biệt hiếm hoi.

Nói cách khác, từ những bộ sử cổ xưa cho đến những trang tin tức ngày nay, phần lớn đều tuân theo một logic: không có chuyện gì xảy ra thì không ghi.

Nhưng sông nước yên bình vốn không phải trạng thái tự nhiên. Trong bối cảnh khí hậu ngày càng biến động, để đạt được trạng thái sông yên biển lặng cần cả một hệ thống chủ động giành lấy. Vì thế, sự “bình an vô sự” ấy ngày càng có giá trị để ghi nhận.

3. Cực đoan đang dần trở thành trạng thái thường ngày

Có một sự thay đổi thực tế không thể né tránh: các hiện tượng cực đoan và bất thường đang dần trở thành bối cảnh của thời đại.

Từ năm 1961 đến năm 2025, nhiệt độ trung bình năm của Trung Quốc tăng 0,31°C mỗi thập kỷ. Cứ nhiệt độ tăng 1°C, lượng hơi nước mà không khí có thể chứa tăng khoảng 7%. Bầu khí quyển giống như một hồ chứa nước không ngừng được bơm thêm. Dải mưa đang dịch chuyển về phía Bắc. Trong 5 năm gần đây, số đợt mưa lớn trong mùa lũ ở các khu vực phía Bắc nhiều hơn khoảng 50% so với thập niên 1990, trong khi cường độ tổng hợp trung bình cũng cao hơn khoảng 50% so với cùng kỳ thông thường. Ở một số nơi, lượng mưa từng được coi là “trăm năm mới gặp một lần” nay đã rút ngắn chu kỳ tái diễn xuống còn 15 năm, thậm chí ngắn hơn. Năm 2025, số ngày nhiệt độ cao trung bình trên toàn quốc là 16,5 ngày, cao nhất kể từ năm 1961.

Năm 2026, mùa mưa trước lũ ở miền Nam Trung Quốc bắt đầu sớm hơn 6 ngày, còn mùa mưa ở miền Bắc đến sớm hơn bình thường 8 ngày.

Điều khó xử lý hơn là hình thái thiên tai cũng đang thay đổi. Cơn bão số 10 “Mỹ Sát Khắc” năm nay khi đổ bộ Hải Nam chỉ là một cơn bão nhiệt đới, thuộc loại “nhỏ” trong các loại bão. Nhưng sau lần đổ bộ thứ hai, nó lưu lại gần bốn giờ ở khu vực biên giới Trung Quốc - Việt Nam, sau đó duy trì cường độ từ bão nhiệt đới trở lên và tồn tại ở Quảng Tây trong suốt 26 giờ. Lượng mưa tích lũy tại một số địa phương ở Khâm Châu vượt 800 mm, lượng mưa lớn nhất trong một giờ đạt 186,2 mm, có 61 trạm đo vượt kỷ lục lịch sử. Nhiều hồ chứa vừa và nhỏ bị tràn hoặc vỡ. Thảm họa lần này khiến 159 người thiệt mạng, 10 người mất tích và còn gây ra 10 trận lốc xoáy. Kinh nghiệm trước đây về việc căn cứ vào cấp độ của bão để phân bổ nguồn lực phòng chống thiên tai đã không còn phù hợp.

Ngày càng có nhiều loại rủi ro trước đây hiếm gặp xuất hiện. Ngày 7 tháng 7 năm 2025, tại cửa khẩu Gyirong ở biên giới Trung Quốc - Nepal, trong suốt 24 giờ ở cả hai bên đều không có mưa đáng kể, nhưng nước sông đột nhiên dâng cao hơn 3,5 mét vào rạng sáng. Nguyên nhân là một hồ băng ở thượng nguồn bị vỡ. Cầu Hữu nghị lập tức bị cuốn sập, nước lũ tràn qua biên giới vào Nepal và phá hủy nhiều nhà máy thủy điện.

“Vỡ hồ băng”, “nước biển dâng ngược” và những thuật ngữ về rủi ro từng tưởng như xa xôi nay đã bước vào tầm nhìn của các cơ quan hoạch định chính sách cấp cao.

4. Trung Quốc ngày nay “sợ” thiên tai hơn bất kỳ thời kỳ nào

Sự thay đổi thứ hai nằm ở đối tượng chịu thiên tai.

Hơn 70% thành phố và hơn 50% dân số Trung Quốc phân bố tại những khu vực có nguy cơ cao về khí tượng, động đất, địa chất và biển. 21 vùng đô thị cấp quốc gia và 29 thành phố có GDP trên 1.000 tỷ nhân dân tệ đã tập trung một khối lượng tài sản và cơ sở hạ tầng có giá trị rất lớn vào cùng một không gian. Một thảm họa lớn có thể gây thiệt hại trực tiếp hàng trăm tỷ, thậm chí hàng nghìn tỷ nhân dân tệ, thậm chí có thể khiến thành quả phát triển nhiều năm bị “xóa sạch chỉ trong một lần”.

Đô thị càng hiện đại thì mạng lưới xã hội càng đan xen chằng chịt. Tàu điện ngầm chạy dưới lòng đất, hệ thống đường ống nằm sâu dưới mặt đất, dữ liệu lưu chuyển trên mạng. Một trận mưa lớn vừa có thể làm ngập đường hầm, gây sạt lở, vừa có thể vượt qua đê điều. Một khu công nghiệp liên hoàn chỉ cần một trận lũ cũng có thể khiến toàn bộ chuỗi sản xuất phải ngừng hoạt động. Thiên tai theo các hệ thống đường ống, chuỗi công nghiệp và chuỗi dân sinh truyền dẫn rồi khuếch đại, từ đó lan sang an ninh kinh tế, an ninh năng lượng và tài nguyên, an ninh lương thực và an ninh xã hội.

Đó chính là lý do phòng chống thiên tai được đưa vào hệ thống an ninh quốc gia. Quyết định của Hội nghị Trung ương 3 khóa XX của Đảng CSTQ đã đưa “nâng cao năng lực phòng chống, giảm nhẹ và cứu trợ thiên tai” vào phần “thúc đẩy hiện đại hóa hệ thống và năng lực an ninh quốc gia”. Một trận lũ lớn cuốn đổ không chỉ là đê điều mà còn có thể làm sụp đổ hệ thống điện, kho lương thực và niềm tin của người dân.

5. Bài kiểm tra này đã kéo dài hàng nghìn năm

Thiên tai luôn là một câu hỏi đặt ra trước năng lực quản trị. Đây không phải một vấn đề mới mà là một thực tế đã kéo dài hàng nghìn năm.

Điều kiện tự nhiên cơ bản của Trung Quốc đã định hình sẵn mức độ rủi ro. Địa hình cao ở phía Tây và thấp ở phía Đông, bảy hệ thống sông lớn chảy qua phần lớn lãnh thổ, hơn một nửa diện tích đất nước đứng trước nguy cơ lũ lụt. Trung Quốc nằm giữa vành đai động đất Thái Bình Dương và vành đai động đất Âu - Á, các đới đứt gãy phân bố rộng. Đất nước cũng hướng ra Tây Bắc Thái Bình Dương, nơi hoạt động bão mạnh nhất thế giới. Các khu vực trọng điểm và thứ cấp về phòng chống thiên tai địa chất chiếm hơn hai phần ba diện tích đất liền.

Xã hội truyền thống từng hình thành một vòng logic khắc nghiệt: thiên tai gắn với lòng dân oán giận. Khi thiên tai xảy ra, người dân thường quy cho triều đình thất đức, coi đó là sự trừng phạt của trời đất, rồi đứng lên chống lại chính quyền. Trong thời bình, dân chúng giống như cát rời, bị hệ thống quan liêu tầng tầng lớp lớp quản lý. Nhưng trong những năm xảy ra thảm họa thiên tai quy mô lớn, nếu cứu trợ không đầy đủ, đời sống suy kiệt, bản năng sinh tồn kết hợp với sự phẫn nộ lan rộng có thể khiến người dân tự phát tổ chức lại, chiến đấu với chính quyền. Trong lịch sử, phía sau những cảnh đất đai đỏ cháy, sản xuất đình đốn và thậm chí thay đổi triều đại, thường có bóng dáng của những thảm họa lớn.

Ngày nay, chính quyền Trung Quốc vẫn sử dụng hình ảnh “kỳ thi lớn” để mô tả các thiên tai, nhưng cách diễn đạt trực tiếp hơn. Phòng chống, giảm nhẹ và cứu trợ thiên tai được coi là “một phương diện quan trọng để đo lường năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền, kiểm nghiệm năng lực thực thi của chính phủ, đánh giá năng lực huy động của quốc gia và thể hiện sức mạnh đoàn kết dân tộc”. Ngày 28 tháng 4 năm 2026, tại buổi học tập tập thể lần thứ 25 của Bộ Chính trị Trung ương khóa XX, lãnh đạo Trung Quốc nhấn mạnh rằng Trung Quốc là một nước xã hội chủ nghĩa và “nhất định phải đưa ra một bài làm xuất sắc trong mỗi cuộc đại kiểm tra trước thiên tai, qua đó thể hiện đầy đủ ưu thế của chế độ xã hội chủ nghĩa”.

Nhưng phương thức làm bài đã hoàn toàn khác trước. Các triều đại cổ đại thường chỉ có thể chờ đến khi lòng dân oán giận tích tụ và bùng phát mới bị động xử lý. Cách tiếp cận ngày nay là chủ động xây dựng một mạng lưới phòng vệ dày đặc từ trước. Trung Quốc hiện có một lực lượng thông tin viên thiên tai cơ sở quy mô khoảng một triệu người. Ở nhiều làng quê, những người dân bình thường cầm chiêng gõ báo động chính là tuyến phòng thủ đầu tiên.

6. Từ “chữa cháy” sang “phòng cháy”

Trong một thời gian dài, ứng phó thiên tai thiên về mô hình “chữa cháy”: khi thiên tai ập đến thì dốc toàn lực cứu hộ, sau khi thiên tai qua đi mới thở phào. Cứu trợ thiên tai là thành tích có thể nhìn thấy, dễ được đưa lên truyền thông; phòng ngừa thiên tai lại là thành tích chìm, làm tốt đến đâu thì biểu hiện cuối cùng cũng chỉ là “không có chuyện gì xảy ra”, nên ít người quan tâm.

Một số bài viết gần đây đăng trên các tạp chí đã chỉ ra tâm lý phổ biến này: có nơi cho rằng phòng ngừa trước thiên tai “không có hiệu quả kinh tế cao”; có nơi cho rằng đó là “thành tích chìm”, lãnh đạo không nhìn thấy, người dân không hiểu, “chắc sẽ không có chuyện gì”. Có những người dân đã được sơ tán an toàn nhưng vì không nỡ bỏ lại tài sản nên tự ý quay trở về, cuối cùng xảy ra bi kịch. Kết luận của những bài viết có điểm chung nằm ở việc coi nhẹ phòng ngừa, mà nguyên nhân sâu xa là sự tê liệt và tâm lý may rủi.

Sự thay đổi về quan niệm có một mốc thời gian rõ ràng. Năm 2016, khi thị sát Đường Sơn, tỉnh Hà Bắc, ông Tập Cận Bình đưa ra phương châm “hai kiên trì, ba chuyển biến”, thúc đẩy trọng tâm công tác chuyển từ cứu trợ sau thiên tai sang phòng ngừa trước thiên tai, từ ứng phó với từng loại thiên tai riêng biệt sang giảm nhẹ thiên tai tổng hợp, từ giảm thiệt hại do thiên tai sang giảm rủi ro thiên tai. Đến năm 2026, tư tưởng này được nâng cấp thành “bảy kiên trì”, nhưng cốt lõi vẫn nằm ở chữ “phòng”. Năm 2018, Bộ Quản lý Khẩn cấp được thành lập, chấm dứt tình trạng trước đây nhiều cơ quan cùng quản lý nhưng phân tán theo từng loại thiên tai. Từ Trung ương đến cấp huyện, hệ thống quản lý khẩn cấp từng bước được xây dựng, hình thành một chuỗi hoàn chỉnh gồm nhận diện rủi ro, kiểm tra nguy cơ tiềm ẩn, giám sát cảnh báo, ứng phó khẩn cấp, cứu hộ và tái thiết sau thiên tai.

Bài toán này thực ra không khó tính. Theo báo cáo của Văn phòng Liên hợp quốc về Giảm nhẹ rủi ro thiên tai, cứ đầu tư 1 USD cho giảm nhẹ thiên tai thì trung bình có thể giảm 15 USD chi phí khôi phục sau thiên tai. Đạo lý này ai cũng hiểu, nhưng khi chuyển thành khoản chi ngân sách cụ thể thì người ta lại dễ do dự. “Thấy thỏ mới thả chó, mất dê mới sửa chuồng là hạ sách; tích lương phòng đói, chuyển bếp tránh hỏa hoạn mới là thượng sách”; đấy mới là điều quyết định.

7. Đưa “không xảy ra chuyện gì” vào bảng thành tích

Thay đổi thứ ba, cũng là thay đổi mới nhất, nằm ở việc tiêu chuẩn đánh giá thành tích đang được điều chỉnh.

Trước đây, “không có thiên tai” thường được coi là may mắn và khó có thể tính thành công trạng quản trị. Hiện nay, nhà nước Trung Quốc bắt đầu trao giá trị cho trạng thái “không có sự cố” này.

Một mặt, những trường hợp tránh được thảm họa thành công được công khai khen thưởng. Tháng 8 năm 2026, Bộ Quản lý Khẩn cấp công bố 10 trường hợp điển hình trên toàn quốc về tránh hiểm họa thành công trong năm 2025. Mặt khác, “thiên tai không xảy ra” cũng bắt đầu được chuyển thành những chỉ tiêu có thể định lượng. Quy hoạch “Xây dựng hệ thống ứng phó khẩn cấp hiện đại trong Kế hoạch 5 năm lần thứ 15” lần đầu tiên đưa ra các chỉ tiêu dự kiến về phòng chống và giảm nhẹ thiên tai, trong đó quy định số người chết do thiên tai bình quân hằng năm không quá 0,9 người trên một triệu dân, số người chịu ảnh hưởng thiên tai không quá 13.000 người trên 100.000 dân và thiệt hại kinh tế trực tiếp bình quân hằng năm do thiên tai không vượt quá 0,8% GDP.

“Bhông có chuyện gì xảy ra” hay “Bình an vô sự” lần đầu tiên có những con số cụ thể để đánh giá.

Quan niệm về thành tích cũng được điều chỉnh theo đó. Ông Tập Cận Bình nhấn mạnh tại buổi học tập tập thể lần thứ 25 của Bộ Chính trị Trung ương khóa XX rằng phải “kiên quyết sửa chữa khuynh hướng coi trọng phát triển mà xem nhẹ an toàn, coi trọng cứu trợ mà xem nhẹ phòng ngừa”.

Logic phía sau điều đó đáng suy ngẫm: “không có chuyện gì xảy ra” không còn được coi là phó mặc cho số phận mà đã trở thành một mục tiêu quản trị có thể chủ động giành lấy, có thể kiểm tra và có thể khen thưởng. Trong bối cảnh thời tiết cực đoan ngày càng thường xuyên, việc gần như bình an vượt qua một hiểm họa không còn đơn thuần là may mắn mà là kết quả của cả một hệ thống.

8. Ba tầng bảo hiểm: Không để nó xảy ra, xảy ra thì không để lớn, lớn rồi vẫn phải chống chịu được

Phép màu ấy dựa vào một hệ thống phòng vệ nhiều tầng được xây dựng từ Cơ sở lên Trung ương, bao phủ cả trước, trong và sau thiên tai.

Tầng thứ nhất là phòng ngừa, cố gắng giữ vững giới hạn “không xảy ra chuyện”. Yêu cầu về an toàn và khả năng chống chịu được đưa vào quy hoạch không gian lãnh thổ và các loại quy hoạch xây dựng, kiểm soát rủi ro ngay từ nguồn. Tiêu chuẩn thiết kế của các công trình hạ tầng quan trọng tại những thành phố lớn và khu vực thường xuyên xảy ra thiên tai được nâng lên hợp lý. Trung Quốc đang đẩy nhanh việc khắc phục những điểm yếu về chống lũ và thoát nước ở khu vực phía Bắc, đồng thời phát triển các công trình hạ tầng vừa sử dụng trong thời bình vừa có thể chuyển sang ứng phó khẩn cấp.

Cải tạo đô thị cũng được triển khai theo hướng này. Quy hoạch cải tạo đô thị giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 15” dự kiến xây dựng và cải tạo khoảng 770.000 km đường ống ngầm trong thành phố. Năm 2026, trái phiếu chính phủ đặc biệt siêu dài hạn bố trí 160 tỷ nhân dân tệ để hỗ trợ hệ thống đường ống ngầm. Các dự án bảo đảm an toàn cho “mạch máu” đô thị yêu cầu các thành phố từ cấp địa khu trở lên lắp đặt thiết bị cảm biến Internet vạn vật cho hệ thống khí đốt, cấp nước, thoát nước, cầu và đường hầm. Lần đầu tiên Trung Quốc tiến hành điều tra toàn diện rủi ro thiên tai trên phạm vi cả nước và vẽ ra một “bản đồ rủi ro” tương đối chính xác. Kết quả đang được tích hợp vào “một bản đồ” thống nhất của quy hoạch không gian lãnh thổ.

Những điểm yếu khách quan vẫn tồn tại. Khoảng 80% hồ chứa hiện nay được xây dựng trong những năm 1950–1970, phần lớn là đập đất đá. Không ít thành phố “coi trọng hình thức mà xem nhẹ phần bên trong, coi trọng mặt đất mà xem nhẹ dưới mặt đất”, tiêu chuẩn thiết kế của các công trình hạ tầng thiết yếu còn thấp. Tất cả đều là những phương hướng cần cải thiện trong thời gian tới.

Tầng thứ hai là giảm thiểu. Ngay cả khi thiên tai xảy ra, vẫn phải ngăn không cho tình hình xấu đi. Cảnh báo phải chạy trước thiên tai và phải “gọi đúng người”, tức là thông tin cảnh báo phải thực sự đến được với người chịu trách nhiệm ở cơ sở. Năm 2024, Trung ương Trung Quốc yêu cầu thực hiện cơ chế cảnh báo trực tiếp đến người chịu trách nhiệm tại các đơn vị cơ sở. Tại Hồ Nam, nhờ radar đo mưa băng X kết hợp với điện thoại AI, trước trận mưa kỷ lục 447 mm trong 12 giờ, địa phương đã sơ tán 3.500 người thuộc 1.350 hộ mà không có người chết. Tại Thiểm Tây, một bí thư thôn gọi điện trực tiếp cho đơn vị thi công đường sắt cao tốc, chỉ trong 15 phút đã sơ tán 80 công nhân, đồng thời chuyển 52 người dễ bị tổn thương trong thôn đến nơi an toàn.

Những bài học ngược lại cũng rất đau lòng. Tháng 7 năm 2025, tại khu cắm trại “Thung lũng Bắc Kinh” ở Hưng Long, Hà Bắc, mặc dù cảnh báo mưa bão cấp đỏ liên tục được phát đi, hoạt động kinh doanh vẫn diễn ra bình thường. Hơn 50 người được bố trí ngủ qua đêm tại khu cắm trại ngay cạnh đường thoát lũ. Trong đêm, nước lũ bất ngờ ập đến, khiến 3 người chết và 4 người mất tích. Cũng trong tháng đó, trận mưa lớn “7.28” tại Bắc Kinh khiến 32 người tại một cơ sở chăm sóc người cao tuổi ở thị trấn Thái Sư Đồn, Mật Vân thiệt mạng. Báo cáo điều tra và đánh giá xác định đây là một thảm họa tự nhiên đặc biệt nghiêm trọng, đồng thời chỉ ra những thiếu sót trong công tác phòng ngừa và ứng phó tại địa phương. Cùng một hệ thống cảnh báo, nhưng việc các mắt xích có thực sự thông suốt hay không lại trực tiếp quyết định sự sống và cái chết. “Kilômét cuối cùng” của cảnh báo, việc sơ tán và bố trí người dễ bị tổn thương chính là phần khó khăn nhất của tầng phòng thủ này.

Tầng thứ ba là cứu hộ. Khi hiểm họa thực sự xảy ra, phải có đủ năng lực xử lý và chống chịu cú sốc. Trung tâm chỉ huy khẩn cấp quốc gia được kết nối âm thanh và hình ảnh 24 giờ với các trung tâm chỉ huy cấp tỉnh, thành phố và huyện. Sáu trung tâm cứu hộ khẩn cấp cấp khu vực quốc gia đã được xây dựng hoàn chỉnh. Lực lượng cứu hỏa và cứu hộ có gần 220.000 người, cùng hơn 3.500 đội chuyên nghiệp về cứu hộ đường thủy, núi, động đất và các lĩnh vực khác. Năm 2023, ngân sách Trung ương phát hành bổ sung 1.000 tỷ nhân dân tệ trái phiếu đặc biệt, phần lớn dành cho tái thiết sau thiên tai và nâng cao năng lực phòng chống thiên tai. Sau trận động đất mạnh 6,8 độ xảy ra tại Định Nhật vào tháng 1 năm 2025, chỉ trong 295 ngày các căn nhà tái thiết đã được bàn giao, thực hiện mục tiêu “năm đó bị thiên tai, năm đó có nhà ở”, với nhà mới được thiết kế theo tiêu chuẩn chống động đất cấp 8.

Hiệu quả có thể kiểm chứng bằng số liệu. Trong giai đoạn “Kế hoạch 5 năm lần thứ 14”, số người chịu ảnh hưởng thiên tai bình quân mỗi năm và số người chết hoặc mất tích do thiên tai bình quân mỗi năm lần lượt giảm 36,0% và 22,9% so với “Kế hoạch 5 năm lần thứ 13”.

Ba tầng phòng thủ chồng lên nhau mới giải thích đầy đủ ý nghĩa thực tế của cái gọi là ưu thế thể chế: trước những thành phố có mật độ cao và thiên tai ngày càng dữ dội, cần dựa vào công nghệ, thực hiện phòng ngừa từ sớm, hoàn thiện hệ thống kế hoạch ứng phó từ thôn làng đến trung tâm chỉ huy quốc gia, làm được việc chuẩn bị trước để có thể ứng phó bình tĩnh khi thiên tai xảy ra. Ưu thế của thể chế không chỉ thể hiện ở những cuộc cứu hộ hào hùng trước đại thiên tai, mà còn thể hiện ở việc biến từng cuộc “đại kiểm tra” thành những lần vượt qua càng ít sóng gió càng tốt.

9. "Kỳ thi" vẫn đang tiếp diễn

Thiên tai vẫn đang tiếp diễn. Trên vùng Tây Bắc Thái Bình Dương và Biển Đông đang diễn ra một hiện tượng hiếm gặp với bốn cơn bão cùng hoạt động. Sáng ngày 24 tháng 8, cơn bão số 21 “Aisha Ni” hình thành, cùng lúc với “Sa Đặc Nhĩ”, “Tử Đàn” và “Giản La Duy” hoạt động trên biển.

Trong đó, khó xử lý nhất là cơn bão số 19 “Tử Đàn”. Sau khi đi vào Vịnh Bắc Bộ dưới dạng áp thấp nhiệt đới, nó quay vòng trên biển trong ba, bốn ngày, gần như đứng yên tại chỗ nhưng cường độ lại tăng lên. Khoảng 18 giờ 40 phút ngày 25, bão đổ bộ vào khu vực ven biển thị trấn Xương Hóa, huyện tự trị Xương Giang, tỉnh Hải Nam; đến 3 giờ 25 phút sáng nay ngày 26/8 lại đổ bộ lần thứ hai vào khu vực ven biển huyện Từ Văn, tỉnh Quảng Đông. Theo ông Mã Học Khoản, chuyên gia dự báo trưởng của Trung tâm Khí tượng Trung ương Trung Quốc, việc một cơn bão quay vòng lâu và di chuyển rất chậm đồng nghĩa với việc gió và mưa có thể bị “khóa” lâu dài tại cùng một khu vực, khiến nguy cơ gây thiên tai đặc biệt cao.

Khu vực bị “khóa” lần này là Quảng Tây. Ngày 23 tháng 8, Tả Giang xuất hiện trận lũ số 1 năm 2026. Lúc 14 giờ 25 phút ngày 24, mực nước tại trạm thủy văn Nam Ninh trên sông Ung Giang tăng lên 73 mét, vượt mức cảnh giới, hình thành trận lũ số 2 của Ung Giang năm 2026. Đến 7 giờ sáng hôm sau, mực nước đã vượt mức cảnh báo 1 mét, đoạn sông qua Nam Ninh phải đóng cửa hoàn toàn. Quảng Tây tiếp tục phát cảnh báo lũ đỏ. Mực nước tại đoạn sông qua huyện Ninh Minh trên sông Minh Giang được dự báo vượt mức cảnh báo khoảng 7,5 mét, còn đoạn sông qua huyện Long Châu trên Tả Giang được dự báo vượt khoảng 7,3 mét. Các mức ứng phó phòng chống lũ tại Sùng Tả, Nam Ninh và Phòng Thành Cảng lần lượt được nâng lên. Xuồng cứu hộ đã được đưa vào các làng ở Ninh Minh và Thượng Tư, trong khi các tổ công tác của Tổng chỉ huy phòng chống lũ quốc gia đã có mặt tại tuyến đầu Quảng Tây.

Ngoài khơi, cơn bão “Sa Đặc Nhĩ” từ cấp siêu bão suy yếu xuống cấp bão mạnh và đang dần tiến về khu vực ven biển Chiết Giang – Phúc Kiến, dự kiến đổ bộ khu vực ven biển từ Tượng Sơn, Chiết Giang đến Phúc Thanh, Phúc Kiến trong đêm 27 đến sáng 28 tháng 8.

Vây là "Kỳ thi" vẫn đang không ngừng không nghỉ và hoàn toàn không có tiếng chuông báo đến lúc phải nộp bài.

10. Bài học cho Việt Nam

- “1 cm” thực ra là một thông điệp rất đáng suy nghĩ. Thái Hồ đạt 4,49 m, trong khi 4,50 m là ngưỡng xác định đại hồng thủy toàn lưu vực. Đây là số liệu chính thức, không phải cách nói cường điệu của tác giả. Điều tôi đặc biệt chú ý là hệ thống đã phải điều tiết trước để tạo ra 10,2 tỷ m³ dung tích an toàn, sau đó kết hợp giữ nước và tiêu nước mới giữ được đỉnh lũ ở 4,49 m. Điều đó có nghĩa một hệ thống phòng chống lũ hiện đại không thể chỉ dựa vào “đê đủ cao”, mà nó phải có dung tích dự phòng + hồ chứa + cống + trạm bơm + không gian thoát lũ + dự báo + điều tiết theo thời gian thực. Đây chính là điểm khiến tôi nghĩ tới Hà Nội.

- Sông Hồng nguy hiểm hơn hồ Thái Hồ vì Hà Nội nằm trên một hệ thống đô thị cực kỳ dày đặc. Nếu xảy ra lũ lớn ở Hà Nội, thiệt hại không chỉ là nước vào nhà, mà có thể là toàn bộ hệ thống đường sá, giao thông, điện, nước, viễn thông, bệnh viện, trường học, khu công nghiệp, logistics , ngân hàng, chuỗi cung ứng... cũng chìm trong nước.

Đúng như kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy thiên tai hiện đại không còn là một hiện tượng thủy văn đơn thuần. Nó là rủi ro hệ thống. Đây mới là điều tôi nghĩ chúng ta phải đặc biệt chú ý khi nói về Đại lộ cảnh quan sông Hồng.

- Nếu Đại lộ cảnh quan sông Hồng làm giảm không gian thoát lũ, tôi sẽ rất lo. Một dự án cảnh quan ven sông có thể rất đẹp, nhưng đẹp không đồng nghĩa với an toàn thủy văn. Nếu quy hoạch làm thu hẹp bãi sông, xây dựng nền cao, đắp đường, san lấp để xây công trình và tăng mật độ đô thị, thì mỗi hạng mục riêng lẻ có thể tưởng như không đáng kể, nhưng cộng lại sẽ làm dòng chảy bị thu hẹp, mực nước dâng cao, vận tốc nước tăng và nước bị dồn sang khu vực khác, có nguy cơ dẫn tới mất kiểm soát. Đó mới là điều đáng sợ.

- Tôi đặc biệt chú ý tới hiện tượng thiên tai truyền dẫn qua hệ thống đường ống, chuỗi công nghiệp và chuỗi dân sinh rồi khuếch đại thành rủi ro lớn hơn. Đây chính là tư duy mà quy hoạch Hà Nội cần có. Không nên hỏi “Đại lộ cảnh quan có bị ngập không?” mà phải hỏi “Nếu lũ thiết kế X xảy ra, toàn bộ hệ thống Hà Nội sẽ hoạt động như thế nào?”

- Từ đây tôi nghĩ tới bài tôi mới viết (thực ra đã viết nhiều lần) về việc nên xây một Hà Nội mới về phía Tây Nam, là một nửa hình tròn lấy thành phố Hòa Bình làm tâm, sông Đà làm đường kính, dựa trên địa hình và sông Đà, thay vì cứ tiếp tục dồn đô thị vào vùng Hà Nội hiện hữu. Bây giờ đọc tin lũ lụt ở Trung Quốc và Nhật Bản (vùng Tokyo), tôi càng thấy ý tưởng đó có một ưu điểm rất lớn, đó là không đặt toàn bộ tương lai đô thị Hà Nội vào một vùng đồng bằng sông Hồng có mật độ ngày càng cao.

Không có nghĩa phải bỏ Hà Nội, mà là thiết kế song trùng: Hà Nội cũ là trung tâm lịch sử – kinh tế – chính trị, trong khi Hà Nội mới là các đô thị phân tán về những vùng có địa hình và thủy văn an toàn hơn, gồm các công trình bất động sản và rừng nhỏ xen kẽ nhau.

Khi đó sông Hồng có thể được trả lại vai trò là một hành lang thoát lũ + sinh thái + cảnh quan + giao thông thủy, thay vì biến hai bên bờ thành một dải bất động sản khổng lồ.

Ảnh 2: Vào tháng 8, các công nhân điện lực ở huyện Zhenba, thành phố Hanzhong, tỉnh Thiểm Tây đã kịp thời dự đoán nguy cơ sạt lở đất trong quá trình tuần tra và đưa ra cảnh báo trước 45 phút, nhờ đó ngăn ngừa được thương vong.
Ảnh 3: Dự án kiểm soát và thoát nước lũ sông Bạch Hoa ở Quảng Đông đã tạo ra một "lối thoát" mới cho nước lũ. (Southern Daily)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét