Sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc bắt đầu từ đâu ?
Mình thich nhất đoạn này trong bài: "Trong thế giới đang phát triển, thứ thực sự làm tổn hại đến tinh thần doanh nhân và cơ chế thị trường là một chính phủ không làm gì và tham nhũng".
Ban nãy, mình đã trả lời một bình luận nội dung y như câu này: "Sự khác biệt của Trung Quốc nằm ở chỗ, hơn hai nghìn năm qua Trung Quốc trong thực tiễn quản trị lâu dài đã dần phát triển một bộ cơ chế khảo hạch và thăng chức quan chức lấy thành tích làm cốt lõi, cơ chế này thông qua quan hệ ủy thác - đại lý từ trên xuống dưới, truyền tải mục tiêu phát triển của trung ương đến chính quyền địa phương, từ đó hình thành một mô hình quản trị hướng tới hiệu suất".
Kể từ khi cải cách mở cửa, sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và việc đuổi kịp các nước công nghiệp về khoa học công nghệ có mối liên hệ mật thiết với nguồn gốc lịch sử và cấu trúc thể chế của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia đại nhất thống. Đặc biệt, sự ràng buộc về khan hiếm tài nguyên đã thúc đẩy Trung Quốc trong giai đoạn đầu cải cách mở cửa lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nước ngoài và đổi thị trường lấy công nghệ; hệ thống khuyến khích dựa trên khảo hạch thành tích đã phối hợp động lực xây dựng quốc gia với logic thị trường của phát triển kinh tế; năng lực quốc gia mạnh mẽ đã đảm bảo sự chỉ đạo chiến lược và cung cấp phổ cập cơ sở hạ tầng; thị trường nội địa siêu lớn được tích hợp cao độ đã thai nghén ra mô hình "đổi mới ngược" độc nhất vô nhị.
Nhà kinh tế học Trung Quốc nổi tiếng, Giáo sư Trương Quân, Viện trưởng Viện Kinh tế Đại học Phục Đán, trong cuốn sách mới xuất bản tháng 5/2026 "Kinh tế học phát triển của Quốc gia Đại nhất thống", đã bắt đầu nghiên cứu từ chiều sâu lịch sử của quốc gia đại nhất thống, suy nghĩ lại về logic phát triển kinh tế Trung Quốc, xây dựng khung phân tích về cơ chế tác động ba tầng "ràng buộc nguồn lực - hệ thống khuyến khích - năng lực quốc gia", nhằm giải thích tính độc đáo và bền vững của phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học công nghệ Trung Quốc, đồng thời cung cấp mô hình kiểu mẫu Trung Quốc cho kinh tế học phát triển.
Trong cuốn sách này, Giáo sư Trương Quân viết: "Tôi hy vọng trong cuốn sách nhỏ chỉ có 100 nghìn chữ này sẽ cung cấp cho độc giả một khung phân tích đơn giản để hiểu rõ hơn về logic sâu xa của sự phát triển kinh tế Trung Quốc, và khung này có thể giúp chúng ta hiểu được làm thế nào Trung Quốc tương thích hóa động lực xây dựng quốc gia với logic phát triển của kinh tế thị trường... Độc giả được cuốn sách hướng tới không chỉ là các học giả chuyên nghiệp, mà còn bao gồm cả những độc giả đại chúng quan tâm đến hiện tượng vĩ đại là sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc. Trong quá trình viết, tôi cố gắng không sử dụng các khái niệm và phương pháp xử lý quá chuyên nghiệp, mà sử dụng nhiều hơn những câu chuyện quen thuộc với độc giả đại chúng và các dữ liệu dễ hiểu."
Đoạn dưới đây được trích từ Chương 1 và Chương 6 của "Kinh tế học phát triển của Quốc gia Đại nhất thống" - Trương Quân biên soạn, Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải, Nhà xuất bản Cách Trí xuất bản tháng 5 năm 2026.
Kể từ khi cải cách mở cửa, sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế Trung Quốc và việc đuổi kịp các nước công nghiệp về khoa học công nghệ có mối liên hệ mật thiết với nguồn gốc lịch sử và cấu trúc thể chế của Trung Quốc với tư cách là một quốc gia đại nhất thống. Đặc biệt, sự ràng buộc về khan hiếm tài nguyên đã thúc đẩy Trung Quốc trong giai đoạn đầu cải cách mở cửa lựa chọn chiến lược công nghiệp hóa chủ yếu dựa vào vốn đầu tư nước ngoài và đổi thị trường lấy công nghệ; hệ thống khuyến khích dựa trên khảo hạch thành tích đã phối hợp động lực xây dựng quốc gia với logic thị trường của phát triển kinh tế; năng lực quốc gia mạnh mẽ đã đảm bảo sự chỉ đạo chiến lược và cung cấp phổ cập cơ sở hạ tầng; thị trường nội địa siêu lớn được tích hợp cao độ đã thai nghén ra mô hình "đổi mới ngược" độc nhất vô nhị.
Nhà kinh tế học Trung Quốc nổi tiếng, Giáo sư Trương Quân, Viện trưởng Viện Kinh tế Đại học Phục Đán, trong cuốn sách mới xuất bản tháng 5/2026 "Kinh tế học phát triển của Quốc gia Đại nhất thống", đã bắt đầu nghiên cứu từ chiều sâu lịch sử của quốc gia đại nhất thống, suy nghĩ lại về logic phát triển kinh tế Trung Quốc, xây dựng khung phân tích về cơ chế tác động ba tầng "ràng buộc nguồn lực - hệ thống khuyến khích - năng lực quốc gia", nhằm giải thích tính độc đáo và bền vững của phát triển kinh tế và tiến bộ khoa học công nghệ Trung Quốc, đồng thời cung cấp mô hình kiểu mẫu Trung Quốc cho kinh tế học phát triển.
Trong cuốn sách này, Giáo sư Trương Quân viết: "Tôi hy vọng trong cuốn sách nhỏ chỉ có 100 nghìn chữ này sẽ cung cấp cho độc giả một khung phân tích đơn giản để hiểu rõ hơn về logic sâu xa của sự phát triển kinh tế Trung Quốc, và khung này có thể giúp chúng ta hiểu được làm thế nào Trung Quốc tương thích hóa động lực xây dựng quốc gia với logic phát triển của kinh tế thị trường... Độc giả được cuốn sách hướng tới không chỉ là các học giả chuyên nghiệp, mà còn bao gồm cả những độc giả đại chúng quan tâm đến hiện tượng vĩ đại là sự trỗi dậy của nền kinh tế Trung Quốc. Trong quá trình viết, tôi cố gắng không sử dụng các khái niệm và phương pháp xử lý quá chuyên nghiệp, mà sử dụng nhiều hơn những câu chuyện quen thuộc với độc giả đại chúng và các dữ liệu dễ hiểu."
Đoạn dưới đây được trích từ Chương 1 và Chương 6 của "Kinh tế học phát triển của Quốc gia Đại nhất thống" - Trương Quân biên soạn, Nhà xuất bản Nhân dân Thượng Hải, Nhà xuất bản Cách Trí xuất bản tháng 5 năm 2026.
---------------------------------
1. Những sự thật đặc trưng cơ bản trong hiện tượng trỗi dậy kinh tế Trung Quốc
Hơn bốn mươi năm qua, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc được rộng rãi coi là một kỳ tích. Không chỉ vậy, ngày nay Trung Quốc trong lĩnh vực ứng dụng và đổi mới khoa học công nghệ cũng đã bước lên hàng đầu thế giới, và duy trì đà tiến bộ nhanh chóng, đạt được những thành tựu chói lọi. Trung Quốc sở hữu cơ sở hạ tầng công cộng đẳng cấp thế giới trong các lĩnh vực cơ bản và chiến lược như mạng lưới truyền tải điện siêu cao áp, năng lượng xanh, mạng lưới viễn thông, sức mạnh tính toán và đường sắt cao tốc, điều này giúp ngành sản xuất tiên tiến của Trung Quốc giành được lợi thế chi phí khổng lồ trên phạm vi toàn cầu. Những biểu hiện trong các khía cạnh này đã vượt xa mức tiềm năng tối đa mà một nền kinh tế đang phát triển điển hình có thể đạt được trong điều kiện tốt nhất.
Nhìn từ lịch sử toàn cầu hơn hai thế kỷ qua, sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc là khác thường, rốt cuộc nên tìm lời giải thích hợp lý như thế nào cho sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc? Một khung giải thích hợp lý phải dựa trên và có khả năng nắm bắt được những sự thật đặc trưng cơ bản trong hiện tượng trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc.
Những đặc trưng của Trung Quốc chủ yếu thể hiện ở:
1. Những sự thật đặc trưng cơ bản trong hiện tượng trỗi dậy kinh tế Trung Quốc
Hơn bốn mươi năm qua, sự phát triển kinh tế của Trung Quốc được rộng rãi coi là một kỳ tích. Không chỉ vậy, ngày nay Trung Quốc trong lĩnh vực ứng dụng và đổi mới khoa học công nghệ cũng đã bước lên hàng đầu thế giới, và duy trì đà tiến bộ nhanh chóng, đạt được những thành tựu chói lọi. Trung Quốc sở hữu cơ sở hạ tầng công cộng đẳng cấp thế giới trong các lĩnh vực cơ bản và chiến lược như mạng lưới truyền tải điện siêu cao áp, năng lượng xanh, mạng lưới viễn thông, sức mạnh tính toán và đường sắt cao tốc, điều này giúp ngành sản xuất tiên tiến của Trung Quốc giành được lợi thế chi phí khổng lồ trên phạm vi toàn cầu. Những biểu hiện trong các khía cạnh này đã vượt xa mức tiềm năng tối đa mà một nền kinh tế đang phát triển điển hình có thể đạt được trong điều kiện tốt nhất.
Nhìn từ lịch sử toàn cầu hơn hai thế kỷ qua, sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc là khác thường, rốt cuộc nên tìm lời giải thích hợp lý như thế nào cho sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc? Một khung giải thích hợp lý phải dựa trên và có khả năng nắm bắt được những sự thật đặc trưng cơ bản trong hiện tượng trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc.
Những đặc trưng của Trung Quốc chủ yếu thể hiện ở:
Thứ nhất, vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đóng một vai trò phi thường trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc, đặc biệt là trong ba mươi năm đầu của cải cách mở cửa, đến mức có nhà kinh tế học phê bình rằng, Trung Quốc dường như đã sử dụng vốn nước ngoài "quá mức";
Thứ hai, mặc dù Trung Quốc từ bỏ mô hình kinh tế kế hoạch hóa, cơ chế thị trường được cho phép và khuyến khích, nhưng chính phủ vẫn đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế;
Thứ ba, sở hữu quy mô thị trường nội địa lớn hiếm có và thị trường được tích hợp cao độ;
Thứ tư, hệ thống sản xuất của Trung Quốc tiên tiến và sở hữu lợi thế chi phí vô song;
Thứ năm, khác với phương Tây, tiến bộ khoa học công nghệ của Trung Quốc chịu sự dẫn dắt của ứng dụng công nghệ, thể hiện ưu thế của đổi mới ngược.
Những sự thật đặc trưng này phác họa nên những biểu hiện khác thường trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc, một khung phân tích có thể giải mã bí ẩn sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc về mặt logic phải giúp ích cho việc giải thích những nguyên nhân cơ bản tạo ra các sự thật đặc trưng trên.
2. Cơ chế tác động ba tầng của quốc gia đại nhất thống
Hơn hai nghìn năm qua, Trung Quốc là một quốc gia đại nhất thống. Cho dù trong lịch sử Trung Quốc đã có nhiều thời kỳ chia cắt, nhưng đều có thể nhanh chóng khôi phục, trở lại hình thái quốc gia đại nhất thống. Để hiểu tính tất yếu của sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc sau cải cách mở cửa, cần phải bắt đầu từ hình thái quốc gia đại nhất thống của Trung Quốc, tìm kiếm các cơ chế tác động quan trọng của nó, như vậy mới có thể vén màn nguyên nhân Trung Quốc thực hiện được sự đuổi kịp về kinh tế và công nghệ trong thời gian ngắn như vậy, những sự thật đặc trưng trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc kể trên mới có thể được giải thích hợp lý về mặt logic.
2.1. Đầu tiên là sự ràng buộc của khan hiếm tài nguyên lâu dài. Nhìn từ lịch sử, quốc gia đại nhất thống duy trì ổn định xã hội lâu dài, mang lại sự tăng trưởng liên tục của dân số, trong khi tổng lượng đất canh tác và các tài nguyên thiên nhiên khác tương đối hữu hạn, từ đó hình thành nên dân số quá đông đúc và tỷ lệ dân số - tài nguyên quá cao. Điều kiện ràng buộc này đã hạn chế năng lực tích lũy vốn lâu dài của quốc gia.
Những sự thật đặc trưng này phác họa nên những biểu hiện khác thường trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc, một khung phân tích có thể giải mã bí ẩn sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc về mặt logic phải giúp ích cho việc giải thích những nguyên nhân cơ bản tạo ra các sự thật đặc trưng trên.
2. Cơ chế tác động ba tầng của quốc gia đại nhất thống
Hơn hai nghìn năm qua, Trung Quốc là một quốc gia đại nhất thống. Cho dù trong lịch sử Trung Quốc đã có nhiều thời kỳ chia cắt, nhưng đều có thể nhanh chóng khôi phục, trở lại hình thái quốc gia đại nhất thống. Để hiểu tính tất yếu của sự trỗi dậy mạnh mẽ của kinh tế Trung Quốc sau cải cách mở cửa, cần phải bắt đầu từ hình thái quốc gia đại nhất thống của Trung Quốc, tìm kiếm các cơ chế tác động quan trọng của nó, như vậy mới có thể vén màn nguyên nhân Trung Quốc thực hiện được sự đuổi kịp về kinh tế và công nghệ trong thời gian ngắn như vậy, những sự thật đặc trưng trong sự phát triển kinh tế Trung Quốc kể trên mới có thể được giải thích hợp lý về mặt logic.
2.1. Đầu tiên là sự ràng buộc của khan hiếm tài nguyên lâu dài. Nhìn từ lịch sử, quốc gia đại nhất thống duy trì ổn định xã hội lâu dài, mang lại sự tăng trưởng liên tục của dân số, trong khi tổng lượng đất canh tác và các tài nguyên thiên nhiên khác tương đối hữu hạn, từ đó hình thành nên dân số quá đông đúc và tỷ lệ dân số - tài nguyên quá cao. Điều kiện ràng buộc này đã hạn chế năng lực tích lũy vốn lâu dài của quốc gia.
Trong lịch sử, Trung Quốc thời gian dài là nền kinh tế nông nghiệp, và thực hiện thâm canh nông nghiệp ở mức tích lũy vốn thấp, nên năng suất tăng lên cực kỳ hạn chế. Khi Trung Quốc cần thực hiện công nghiệp hóa, nhưng bình quân đất canh tác và tài nguyên thiên nhiên có thể giao dịch bình quân đầu người thấp dẫn đến thặng dư kinh tế của quốc gia cực kỳ hạn chế, cộng thêm ngoại tệ thiếu hụt, những điều này đều kìm hãm việc thực hiện công nghiệp hóa.
Do đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngay từ đầu cải cách mở cửa đã quyết định dựa vào quy mô lớn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) để thúc đẩy tái công nghiệp hóa Trung Quốc. Điều này giải thích tại sao sự phát triển kinh tế của Trung Quốc lại "phụ thuộc quá mức" vào vốn nước ngoài: một mặt, "đổi thị trường lấy công nghệ", dùng sự cho phép tiếp cận thị trường nội địa làm giá để thu hút vốn nước ngoài, cùng với doanh nghiệp nhà nước mở doanh nghiệp liên doanh, từng bước thúc đẩy chuyển đổi ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu trong nước; mặt khác khuyến khích vốn nước ngoài phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp gia công xuất khẩu hướng ngoại ở vùng ven biển, thực hiện xuất khẩu kiếm ngoại tệ. Hai con đường đẩy mạnh song song, cuối cùng thực hiện mục tiêu tích lũy vốn nhanh chóng và phát triển kinh tế tốc độ cao.
2.2. Tiếp theo là hệ thống khuyến khích. Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc đã không được các nhà kinh tế học chính thống lường trước, một nguyên nhân chính là, họ cho rằng Trung Quốc là một quốc gia tập quyền đơn nhất, không gian cho cơ chế thị trường và tinh thần doanh nhân bị hạn chế. Cách nhìn như vậy đã bỏ qua một sự thật: trong thế giới đang phát triển, thứ thực sự làm tổn hại đến tinh thần doanh nhân và cơ chế thị trường là một chính phủ không làm gì và tham nhũng.
Sự khác biệt của Trung Quốc nằm ở chỗ, hơn hai nghìn năm qua Trung Quốc trong thực tiễn quản trị lâu dài đã dần phát triển một bộ cơ chế khảo hạch và thăng chức quan chức lấy thành tích làm cốt lõi, cơ chế này thông qua quan hệ ủy thác - đại lý từ trên xuống dưới, truyền tải mục tiêu phát triển của trung ương đến chính quyền địa phương, từ đó hình thành một mô hình quản trị hướng tới hiệu suất.
Dưới sự sắp xếp thể chế này, sự thăng tiến và khảo hạch của quan chức địa phương thường gắn liền với thành tích quản trị của họ. Ví dụ, phát triển kinh tế địa phương, tăng trưởng thu nhập tài chính, duy trì trật tự xã hội, và xây dựng cơ sở hạ tầng v.v. đều sẽ trở thành những căn cứ đánh giá quan trọng.
Do đó, các nhà lãnh đạo Trung Quốc ngay từ đầu cải cách mở cửa đã quyết định dựa vào quy mô lớn vốn đầu tư nước ngoài (FDI) để thúc đẩy tái công nghiệp hóa Trung Quốc. Điều này giải thích tại sao sự phát triển kinh tế của Trung Quốc lại "phụ thuộc quá mức" vào vốn nước ngoài: một mặt, "đổi thị trường lấy công nghệ", dùng sự cho phép tiếp cận thị trường nội địa làm giá để thu hút vốn nước ngoài, cùng với doanh nghiệp nhà nước mở doanh nghiệp liên doanh, từng bước thúc đẩy chuyển đổi ngành công nghiệp thay thế nhập khẩu trong nước; mặt khác khuyến khích vốn nước ngoài phát triển mạnh mẽ các doanh nghiệp gia công xuất khẩu hướng ngoại ở vùng ven biển, thực hiện xuất khẩu kiếm ngoại tệ. Hai con đường đẩy mạnh song song, cuối cùng thực hiện mục tiêu tích lũy vốn nhanh chóng và phát triển kinh tế tốc độ cao.
2.2. Tiếp theo là hệ thống khuyến khích. Sự phát triển nhanh chóng của kinh tế Trung Quốc đã không được các nhà kinh tế học chính thống lường trước, một nguyên nhân chính là, họ cho rằng Trung Quốc là một quốc gia tập quyền đơn nhất, không gian cho cơ chế thị trường và tinh thần doanh nhân bị hạn chế. Cách nhìn như vậy đã bỏ qua một sự thật: trong thế giới đang phát triển, thứ thực sự làm tổn hại đến tinh thần doanh nhân và cơ chế thị trường là một chính phủ không làm gì và tham nhũng.
Sự khác biệt của Trung Quốc nằm ở chỗ, hơn hai nghìn năm qua Trung Quốc trong thực tiễn quản trị lâu dài đã dần phát triển một bộ cơ chế khảo hạch và thăng chức quan chức lấy thành tích làm cốt lõi, cơ chế này thông qua quan hệ ủy thác - đại lý từ trên xuống dưới, truyền tải mục tiêu phát triển của trung ương đến chính quyền địa phương, từ đó hình thành một mô hình quản trị hướng tới hiệu suất.
Dưới sự sắp xếp thể chế này, sự thăng tiến và khảo hạch của quan chức địa phương thường gắn liền với thành tích quản trị của họ. Ví dụ, phát triển kinh tế địa phương, tăng trưởng thu nhập tài chính, duy trì trật tự xã hội, và xây dựng cơ sở hạ tầng v.v. đều sẽ trở thành những căn cứ đánh giá quan trọng.
Chính vì tồn tại cấu trúc khuyến khích như vậy, chính quyền địa phương thường sẽ chủ động thúc đẩy thu hút đầu tư, phát triển ngành nghề và xây dựng cơ sở công cộng, từ đó hình thành một mô hình quản trị thân thiện với thị trường một cách tích cực. Hơn nữa, hệ thống khuyến khích quan chức hướng tới thành tích này sẽ mang lại sự cạnh tranh giữa các địa phương, mà sự cạnh tranh ở mức độ lớn đã kìm hãm "bàn tay vơ vét" của chính phủ, tạo ra không gian cho tinh thần doanh nhân và các chủ thể thị trường đầu tư khởi nghiệp.
2.3. Cuối cùng là năng lực quốc gia. Không còn nghi ngờ gì nữa, Trung Quốc với tư cách là một quốc gia đại nhất thống, năng lực quốc gia của nó thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó năng lực quy hoạch chiến lược và điều phối tổng thể khiến quốc gia có thể tiến hành quy hoạch chiến lược và điều phối tài nguyên xuyên khu vực trong một số lĩnh vực cơ bản và chiến lược then chốt, từ đó tạo ra hiệu ứng kinh tế theo quy mô và hiệu ứng hiệp đồng đáng kể cho nền kinh tế tổng thể.
Một mặt, khung thể chế và hệ thống hành chính thống nhất đã giảm bớt các rào cản thể chế giữa các khu vực, khiến hàng hóa, vốn và lao động có thể lưu thông trong phạm vi lớn hơn. Mặt khác, năng lực điều phối này còn thể hiện ở việc cung cấp phổ cập trong các ngành công nghiệp cơ bản và lĩnh vực cơ sở hạ tầng then chốt, như cung cấp các dịch vụ cơ bản về năng lượng, mạng lưới điện, hệ thống giao thông và thanh toán tài chính v.v. Thông qua quy hoạch và điều phối thống nhất ở cấp độ quốc gia, những cơ sở hạ tầng này có thể hình thành mạng lưới kết nối thông suốt trên phạm vi toàn quốc, cung cấp điều kiện cơ bản ổn định và chi phí thấp cho hệ thống sản xuất và phát triển ngành nghề.
Chính dựa trên năng lực điều phối này và việc thực hiện cung cấp phổ cập trong lĩnh vực công nghiệp cơ bản, Trung Quốc không chỉ hình thành hệ thống sản xuất quy mô lớn và phân công lao động cao độ, mà còn có thể sở hữu lợi thế chi phí thấp hơn trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến.
3. Mô hình "đổi mới ngược" dưới thể chế đại nhất thống
Nếu mô hình đổi mới tuyến tính mô tả con đường đổi mới tuần tự từ "0" đến "1" rồi đến "N", tức là trước tiên có phát hiện khoa học, sau đó là thương mại hóa quy mô lớn..., thì kinh nghiệm của Trung Quốc trong vài thập kỷ qua lại là một con đường ngược hướng: trước tiên "từ 1 đến N", rồi "từ N đến N+1". "1" trong "từ 1 đến N" không phải là đổi mới nguyên bản bắt đầu từ con số 0, mà là điểm xuất phát từ công nghệ đã tồn tại, có thể là được du nhập, cũng có thể là mô phỏng tham khảo; "N" đại diện cho việc ứng dụng rộng rãi và thương mại hóa nhanh chóng trong thị trường quy mô lớn. Còn "+1" trong "N+1", là sự đột phá mang tính nguyên bản được thai nghén ra trong quá trình ứng dụng quy mô lớn.
Ứng dụng công nghệ quy mô lớn có thể khiến quốc gia nhận chuyển giao công nghệ không ngừng tích lũy năng lực nguyên bản. Khả năng này không phải là tất nhiên, mà cần thỏa mãn một số điều kiện quan trọng, ví dụ như quy mô thị trường mà ứng dụng có thể tiếp cận, chất lượng hệ thống giáo dục của quốc gia nhận chuyển giao và mức độ tích lũy vốn nhân lực, năng lực hấp thụ công nghệ v.v. Trong những điều kiện này, quy mô thị trường ứng dụng đặc biệt then chốt.
Nhà khoa học đoạt giải Nobel Kinh tế học Kenneth Arrow đã chứng minh bằng mô hình toán học chặt chẽ rằng, cùng với sự gia tăng của sản lượng tích lũy, chi phí đơn vị sẽ liên tục giảm dọc theo một đường cong học tập, nói cách khác, quy mô sản xuất bản thân nó là động lực nội sinh của tiến bộ công nghệ. Nathan Rosenberg đã mở rộng tư tưởng này thành "Học qua làm" (learning by doing), chỉ ra rằng đối với nhiều sản phẩm công nghệ phức tạp, từ động cơ máy bay đến hệ thống phần mềm lớn, sự cải thiện hiệu suất thực sự và tối ưu hóa thiết kế chỉ có thể được phát hiện và thực hiện trong quá trình sử dụng thực tế quy mô lớn dài hạn. Kinh nghiệm tích lũy được từ việc sử dụng của người dùng, sẽ phản hồi lại cho nhà sản xuất, thúc đẩy công nghệ tiến tới hoàn thiện, thậm chí thai nghén ra hướng thiết kế hoàn toàn mới.
Tư tưởng này cực kỳ then chốt để hiểu đổi mới ngược của Trung Quốc: khi hơn một tỷ người dùng sử dụng cùng một hệ thống thanh toán kỹ thuật số, khi hàng chục triệu chiếc xe điện chạy trên cùng một thị trường, sự tích lũy kinh nghiệm và phản hồi dữ liệu sinh ra từ việc "sử dụng" quy mô lớn này, bản thân nó chính là sức mạnh mạnh mẽ thúc đẩy công nghệ tiến lên hàng đầu. Đỉnh cao giao dịch cực đoan được tạo ra bởi lễ hội mua sắm "Song 11" của Alibaba, chính là động lực trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của công nghệ nguyên bản là Cơ sở dữ liệu Hải Dương (OceanBase).
Trung Quốc sở hữu gần 700 triệu người dùng truy cập băng thông rộng internet cố định, hơn 1,2 tỷ người dùng điện thoại 5G, họ sử dụng cùng một ngôn ngữ, thông qua hệ thống thanh toán và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số thống nhất cao độ để kết nối với nhau, điều này cấu thành nên thị trường kỹ thuật số đơn lẻ lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Trong một thị trường như vậy, quy mô ứng dụng của bất kỳ công nghệ nào cũng có thể đạt đến mức độ mà các quốc gia khác khó lòng sánh kịp. Và chính quy mô này đã tạo ra con đường "đổi mới ngược": không xuất phát "từ 0 đến 1", mà trước tiên trải rộng công nghệ đã có đến cực hạn trong thị trường thống nhất lớn nhất toàn cầu (từ 1 đến N), rồi trong quá trình ứng dụng quy mô lớn này thai nghén ra sự đột phá công nghệ thực sự nguyên bản (từ N đến N+1).
Paul Krugman, người đoạt giải Nobel Kinh tế học, đã đề xuất "hiệu ứng thị trường nội địa" về mặt lý thuyết đã tiên tri một hiện tượng: trong các ngành có đặc trưng lợi tức tăng dần theo quy mô, quốc gia sở hữu nhu cầu nội địa lớn hơn sẽ trở thành quốc gia xuất khẩu ròng các sản phẩm này.
2.3. Cuối cùng là năng lực quốc gia. Không còn nghi ngờ gì nữa, Trung Quốc với tư cách là một quốc gia đại nhất thống, năng lực quốc gia của nó thể hiện trên nhiều phương diện, trong đó năng lực quy hoạch chiến lược và điều phối tổng thể khiến quốc gia có thể tiến hành quy hoạch chiến lược và điều phối tài nguyên xuyên khu vực trong một số lĩnh vực cơ bản và chiến lược then chốt, từ đó tạo ra hiệu ứng kinh tế theo quy mô và hiệu ứng hiệp đồng đáng kể cho nền kinh tế tổng thể.
Một mặt, khung thể chế và hệ thống hành chính thống nhất đã giảm bớt các rào cản thể chế giữa các khu vực, khiến hàng hóa, vốn và lao động có thể lưu thông trong phạm vi lớn hơn. Mặt khác, năng lực điều phối này còn thể hiện ở việc cung cấp phổ cập trong các ngành công nghiệp cơ bản và lĩnh vực cơ sở hạ tầng then chốt, như cung cấp các dịch vụ cơ bản về năng lượng, mạng lưới điện, hệ thống giao thông và thanh toán tài chính v.v. Thông qua quy hoạch và điều phối thống nhất ở cấp độ quốc gia, những cơ sở hạ tầng này có thể hình thành mạng lưới kết nối thông suốt trên phạm vi toàn quốc, cung cấp điều kiện cơ bản ổn định và chi phí thấp cho hệ thống sản xuất và phát triển ngành nghề.
Chính dựa trên năng lực điều phối này và việc thực hiện cung cấp phổ cập trong lĩnh vực công nghiệp cơ bản, Trung Quốc không chỉ hình thành hệ thống sản xuất quy mô lớn và phân công lao động cao độ, mà còn có thể sở hữu lợi thế chi phí thấp hơn trong lĩnh vực sản xuất tiên tiến.
3. Mô hình "đổi mới ngược" dưới thể chế đại nhất thống
Nếu mô hình đổi mới tuyến tính mô tả con đường đổi mới tuần tự từ "0" đến "1" rồi đến "N", tức là trước tiên có phát hiện khoa học, sau đó là thương mại hóa quy mô lớn..., thì kinh nghiệm của Trung Quốc trong vài thập kỷ qua lại là một con đường ngược hướng: trước tiên "từ 1 đến N", rồi "từ N đến N+1". "1" trong "từ 1 đến N" không phải là đổi mới nguyên bản bắt đầu từ con số 0, mà là điểm xuất phát từ công nghệ đã tồn tại, có thể là được du nhập, cũng có thể là mô phỏng tham khảo; "N" đại diện cho việc ứng dụng rộng rãi và thương mại hóa nhanh chóng trong thị trường quy mô lớn. Còn "+1" trong "N+1", là sự đột phá mang tính nguyên bản được thai nghén ra trong quá trình ứng dụng quy mô lớn.
Ứng dụng công nghệ quy mô lớn có thể khiến quốc gia nhận chuyển giao công nghệ không ngừng tích lũy năng lực nguyên bản. Khả năng này không phải là tất nhiên, mà cần thỏa mãn một số điều kiện quan trọng, ví dụ như quy mô thị trường mà ứng dụng có thể tiếp cận, chất lượng hệ thống giáo dục của quốc gia nhận chuyển giao và mức độ tích lũy vốn nhân lực, năng lực hấp thụ công nghệ v.v. Trong những điều kiện này, quy mô thị trường ứng dụng đặc biệt then chốt.
Nhà khoa học đoạt giải Nobel Kinh tế học Kenneth Arrow đã chứng minh bằng mô hình toán học chặt chẽ rằng, cùng với sự gia tăng của sản lượng tích lũy, chi phí đơn vị sẽ liên tục giảm dọc theo một đường cong học tập, nói cách khác, quy mô sản xuất bản thân nó là động lực nội sinh của tiến bộ công nghệ. Nathan Rosenberg đã mở rộng tư tưởng này thành "Học qua làm" (learning by doing), chỉ ra rằng đối với nhiều sản phẩm công nghệ phức tạp, từ động cơ máy bay đến hệ thống phần mềm lớn, sự cải thiện hiệu suất thực sự và tối ưu hóa thiết kế chỉ có thể được phát hiện và thực hiện trong quá trình sử dụng thực tế quy mô lớn dài hạn. Kinh nghiệm tích lũy được từ việc sử dụng của người dùng, sẽ phản hồi lại cho nhà sản xuất, thúc đẩy công nghệ tiến tới hoàn thiện, thậm chí thai nghén ra hướng thiết kế hoàn toàn mới.
Tư tưởng này cực kỳ then chốt để hiểu đổi mới ngược của Trung Quốc: khi hơn một tỷ người dùng sử dụng cùng một hệ thống thanh toán kỹ thuật số, khi hàng chục triệu chiếc xe điện chạy trên cùng một thị trường, sự tích lũy kinh nghiệm và phản hồi dữ liệu sinh ra từ việc "sử dụng" quy mô lớn này, bản thân nó chính là sức mạnh mạnh mẽ thúc đẩy công nghệ tiến lên hàng đầu. Đỉnh cao giao dịch cực đoan được tạo ra bởi lễ hội mua sắm "Song 11" của Alibaba, chính là động lực trực tiếp thúc đẩy sự ra đời của công nghệ nguyên bản là Cơ sở dữ liệu Hải Dương (OceanBase).
Trung Quốc sở hữu gần 700 triệu người dùng truy cập băng thông rộng internet cố định, hơn 1,2 tỷ người dùng điện thoại 5G, họ sử dụng cùng một ngôn ngữ, thông qua hệ thống thanh toán và cơ sở hạ tầng kỹ thuật số thống nhất cao độ để kết nối với nhau, điều này cấu thành nên thị trường kỹ thuật số đơn lẻ lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Trong một thị trường như vậy, quy mô ứng dụng của bất kỳ công nghệ nào cũng có thể đạt đến mức độ mà các quốc gia khác khó lòng sánh kịp. Và chính quy mô này đã tạo ra con đường "đổi mới ngược": không xuất phát "từ 0 đến 1", mà trước tiên trải rộng công nghệ đã có đến cực hạn trong thị trường thống nhất lớn nhất toàn cầu (từ 1 đến N), rồi trong quá trình ứng dụng quy mô lớn này thai nghén ra sự đột phá công nghệ thực sự nguyên bản (từ N đến N+1).
Paul Krugman, người đoạt giải Nobel Kinh tế học, đã đề xuất "hiệu ứng thị trường nội địa" về mặt lý thuyết đã tiên tri một hiện tượng: trong các ngành có đặc trưng lợi tức tăng dần theo quy mô, quốc gia sở hữu nhu cầu nội địa lớn hơn sẽ trở thành quốc gia xuất khẩu ròng các sản phẩm này.
Thành tựu của Trung Quốc ngày nay trong các lĩnh vực như xe điện, mô hình AI, công nghệ nền tảng thương mại điện tử, thanh toán di động v.v. đã và đang xác minh tiên tri này. Quy mô thị trường không chỉ phụ thuộc vào quy mô dân số, mà càng phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng thể chế: tính thống nhất của ngôn ngữ, tính nhất quán của pháp luật và giám sát, mức độ lưu thông thông suốt của các yếu tố sản xuất, khả năng tích hợp của hệ thống thanh toán và hệ thống logistics.
Chính hình thái quốc gia đại nhất thống của Trung Quốc, đã biến hơn 1,4 tỷ dân số thành một thị trường thống nhất siêu lớn đúng nghĩa. Trung Quốc lấy hiệu ứng khổng lồ của thị trường nội địa, đã thực hiện đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế.
Chính hình thái quốc gia đại nhất thống của Trung Quốc, đã biến hơn 1,4 tỷ dân số thành một thị trường thống nhất siêu lớn đúng nghĩa. Trung Quốc lấy hiệu ứng khổng lồ của thị trường nội địa, đã thực hiện đổi mới công nghệ và phát triển kinh tế.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét