Thượng Hải giải tỏa và bài học cho Hà Nội trong đại dự án sông Hồng
BBC tiếng Việt - Nhà của bà Chu Quang Trạch, do cha bà mua vào năm 1925, là căn cuối cùng thuộc diện giải tỏa còn trụ lại ở khu Tân Thiên Địa, Thượng Hải, Trung Quốc.


Thời điểm bắt đầu giải tỏa vào năm 2002, bà Chu, khi ấy đã ngoài tám mươi tuổi, sống cùng con gái và con trai. Cả hai đều đã kết hôn và mỗi người có một con. Sống chung một nhà nhưng họ là đều có hộ khẩu riêng – tức theo quy định sẽ được ba khoản bồi thường riêng biệt.
Tuy nhiên, đây là một trong số những điều mà chính quyền quận không đáp ứng. Quận tìm cách thuyết phục gia đình chấp nhận bồi thường tiền mặt.
Theo Giáo sư Thiệu Cần (trong sách: Thượng Hải biến mất: Tước đoạt nhà cửa và sự phản kháng tại một đại đô thị Trung Quốc, 2013), ban đầu chính quyền quận đề xuất mức 4.600 nhân dân tệ mỗi mét vuông, không đủ để gia đình Chu mua một căn nhà tương đương trong khu trung tâm. Đến năm 2005, với sự tăng giá nhanh chóng, quận đồng ý trả 10.000 nhân dân tệ mỗi mét vuông, nhưng gia đình yêu cầu 50.000 nhân dân tệ, tương đương mức giá thị trường.
Quận từ chối. Gia đình cố thủ.
Sau đó, gia đình cáo buộc đội phá dỡ của Ngũ Tâm Thượng Hải – công ty phá dỡ của quận Lư Loan – sử dụng một loạt "thủ đoạn bất thường, đáng khinh, hèn hạ và bẩn thỉu" để "khủng bố" và "đe dọa" "quyền tài sản và an toàn cá nhân" của họ.
Những cáo buộc này bao gồm lấy cắp cửa sắt trước nhà, đập vỡ cửa sổ, phá hỏng hệ thống thoát nước và nguồn khí đốt của ngôi nhà, tìm cách phóng hỏa mái nhà – điều mà tác giả cho biết là một thủ đoạn phổ biến mà nhiều chính quyền địa phương ở Thượng Hải và các nơi khác ở Trung Quốc thực hiện để ép người dân rời đi. Thậm chí, đội phá dỡ còn biến sân nhà của bà Chu thành nhà vệ sinh.
Đỉnh điểm xung đột diễn ra vào sáng 18/11/2005 khi nhân viên của Ngũ Tâm tới và bắt bà Chu cùng con gái mang đi nhốt trong một tầng hầm. Vài giờ sau, nhà bà bị phá dỡ.
Ở thời điểm hiện tại, "Hà Nội đang rung chuyển" và hàng trăm ngàn người rơi vào cảnh sắp mất nhà, mất đất.
"Nhìn Thượng Hải 20 năm trước đi kìa", "Thượng Hải cũng trải qua điều này rồi mới có được ngày hôm này",… trên các trang mạng xã hội gần đây đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi người dân có nhà trong diện giải tỏa cần "hy sinh vì lợi ích chung".
Thượng Hải được lấy ví dụ nhiều là vì thành phố này đã trải qua những đợt quy hoạch, giải tỏa quy mô lớn giai đoạn từ thập niên 1990 và kéo dài tới những năm 2020 và hiện là một thành phố hiện đại với quy hoạch ấn tượng.
Tuy nhiên, những diễn ngôn kiểu trên phần lớn đều chỉ nhìn vào kết quả mà không nhìn vào quá trình thực hiện, bao gồm cả những vấn đề và giải pháp của Thượng Hải.
Có thể tạm chia "mô hình Thượng Hải" ra làm hai giai đoạn – trước năm 2011 và từ năm 2011 trở đi.
Năm 2011 là thời điểm Thượng Hải có quy định mới liên quan tới vấn đề giải tỏa, đền bù đất, đặc biệt là quy định người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định.
Quy định này không tự nhiên mà có. Đây là kết quả của hàng loạt vụ biểu tình, phản đối, kiện tụng trong nhiều năm trời, mà câu chuyện của bà Chu nói trên là một ví dụ.
Tiếng nói được lắng nghe
Từ thực tế kiện tụng, tranh chấp, xung đột kéo dài, Thượng Hải đã ban hành Quy định về trưng thu nhà ở năm 2011, thay thế cho Quy định về phá dỡ nhà ở năm 2001, với hai nội dung đáng chú ý:
Tuy nhiên, đây là một trong số những điều mà chính quyền quận không đáp ứng. Quận tìm cách thuyết phục gia đình chấp nhận bồi thường tiền mặt.
Theo Giáo sư Thiệu Cần (trong sách: Thượng Hải biến mất: Tước đoạt nhà cửa và sự phản kháng tại một đại đô thị Trung Quốc, 2013), ban đầu chính quyền quận đề xuất mức 4.600 nhân dân tệ mỗi mét vuông, không đủ để gia đình Chu mua một căn nhà tương đương trong khu trung tâm. Đến năm 2005, với sự tăng giá nhanh chóng, quận đồng ý trả 10.000 nhân dân tệ mỗi mét vuông, nhưng gia đình yêu cầu 50.000 nhân dân tệ, tương đương mức giá thị trường.
Quận từ chối. Gia đình cố thủ.
Sau đó, gia đình cáo buộc đội phá dỡ của Ngũ Tâm Thượng Hải – công ty phá dỡ của quận Lư Loan – sử dụng một loạt "thủ đoạn bất thường, đáng khinh, hèn hạ và bẩn thỉu" để "khủng bố" và "đe dọa" "quyền tài sản và an toàn cá nhân" của họ.
Những cáo buộc này bao gồm lấy cắp cửa sắt trước nhà, đập vỡ cửa sổ, phá hỏng hệ thống thoát nước và nguồn khí đốt của ngôi nhà, tìm cách phóng hỏa mái nhà – điều mà tác giả cho biết là một thủ đoạn phổ biến mà nhiều chính quyền địa phương ở Thượng Hải và các nơi khác ở Trung Quốc thực hiện để ép người dân rời đi. Thậm chí, đội phá dỡ còn biến sân nhà của bà Chu thành nhà vệ sinh.
Đỉnh điểm xung đột diễn ra vào sáng 18/11/2005 khi nhân viên của Ngũ Tâm tới và bắt bà Chu cùng con gái mang đi nhốt trong một tầng hầm. Vài giờ sau, nhà bà bị phá dỡ.
Ở thời điểm hiện tại, "Hà Nội đang rung chuyển" và hàng trăm ngàn người rơi vào cảnh sắp mất nhà, mất đất.
"Nhìn Thượng Hải 20 năm trước đi kìa", "Thượng Hải cũng trải qua điều này rồi mới có được ngày hôm này",… trên các trang mạng xã hội gần đây đã xuất hiện nhiều lời kêu gọi người dân có nhà trong diện giải tỏa cần "hy sinh vì lợi ích chung".
Thượng Hải được lấy ví dụ nhiều là vì thành phố này đã trải qua những đợt quy hoạch, giải tỏa quy mô lớn giai đoạn từ thập niên 1990 và kéo dài tới những năm 2020 và hiện là một thành phố hiện đại với quy hoạch ấn tượng.
Tuy nhiên, những diễn ngôn kiểu trên phần lớn đều chỉ nhìn vào kết quả mà không nhìn vào quá trình thực hiện, bao gồm cả những vấn đề và giải pháp của Thượng Hải.
Có thể tạm chia "mô hình Thượng Hải" ra làm hai giai đoạn – trước năm 2011 và từ năm 2011 trở đi.
Năm 2011 là thời điểm Thượng Hải có quy định mới liên quan tới vấn đề giải tỏa, đền bù đất, đặc biệt là quy định người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định.
Quy định này không tự nhiên mà có. Đây là kết quả của hàng loạt vụ biểu tình, phản đối, kiện tụng trong nhiều năm trời, mà câu chuyện của bà Chu nói trên là một ví dụ.
Tiếng nói được lắng nghe
Từ thực tế kiện tụng, tranh chấp, xung đột kéo dài, Thượng Hải đã ban hành Quy định về trưng thu nhà ở năm 2011, thay thế cho Quy định về phá dỡ nhà ở năm 2001, với hai nội dung đáng chú ý:
1. Mức bồi thường tài chính tương đương với giá thị trường của bất động sản (do bên thứ ba đánh giá độc lập)
2. Người dân được tham gia vào quá trình ra quyết định
Theo quy định này, các dự án thu hồi nhà ở tại Thượng Hải phải trải qua hai vòng lấy ý kiến cư dân. Ở vòng đầu, ít nhất 90% hộ dân phải đồng ý thì dự án mới được tiếp tục. Sau khi phương án bồi thường và tái định cư được công bố, dự án phải đạt thêm 80–85% số hộ ký thỏa thuận ở vòng hai; nếu không, toàn bộ dự án sẽ bị hủy. Các khoản bồi thường được công khai để người dân giám sát, đồng thời có hỗ trợ bổ sung cho các hộ gặp khó khăn.
Theo nghiên cứu năm 2015 của Xu Zhumin, lúc bấy giờ là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành nghiên cứu đô thị, Đại học New Orleans (Mỹ), cơ chế này vừa bảo vệ lợi ích của đa số cư dân vừa hạn chế tình trạng một nhóm nhỏ phản đối làm đình trệ dự án. Bà Xu cho rằng cách làm nói trên dẫn tới một quá trình tái định cư mà theo quan sát của bà là hiệu quả hơn. Cũng theo nghiên cứu này, từ khi chính sách trên được ban hành vào năm 2011 tới thời điểm bài nghiên cứu được công bố, chỉ có một trường hợp thu hồi nhà ở bị cư dân phủ quyết.
Về việc đền bù, quy định năm 2011 nêu rõ rằng mức bồi thường không được thấp hơn giá thị trường của một bất động sản tương đương tại thời điểm công bố quyết định thu hồi. Đây là thay đổi quan trọng khi mà trong quãng thời gian trước đó, theo nhiều bài nghiên cứu, giới chức địa phương thường ấn định mức bồi thường thấp một cách không thỏa đáng nhằm giảm chi phí cho các dự án phát triển.
Trong chương 14 cuốn Socialist Law in Socialist East Asia (Tạm dịch: Pháp luật xã hội chủ nghĩa ở Đông Á xã hội chủ nghĩa) của Phó Hoa Linh (Fu Hualing, Đại học Hong Kong), John Gillespie (Đại học Monash, Úc), Pip Nicholson (Đại học Melbourne, Úc) và William Partlett (Đại học Melbourne, Úc) biên tập, Phó Giáo sư Trần Lỗi – Phó Trưởng khoa tại Trường Luật thuộc Đại học Thành phố Hong Kong – nhận định quy định năm 2011 này khác hẳn quy định năm 2001.
Theo ông Trần Lỗi, trong khi quy định cũ thiên về việc tạo điều kiện cho quá trình phát triển đô thị diễn ra thuận lợi, quy định mới nhằm điều chỉnh quy trình thực hiện việc trưng thu và bồi thường, đồng thời bảo vệ lợi ích công cộng và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
Trong cuốn sách xuất bản năm 2018, ông cũng đề cập tới một số điểm quy định mà ông cho là quan trọng như tổ chức điều trần công khai, bảo đảm sự tham gia của các chủ sở hữu tài sản bị ảnh hưởng hoặc việc chính cơ quan trưng thu nhà ở thuộc chính quyền mới là bên ký kết các thỏa thuận về trưng thu và bồi thường với cá nhân – tức chính quyền là chủ thể duy nhất có quyền tiến hành trưng thu, thay vì các nhà phát triển bất động sản hoặc các bên trung gian khác.
Một điểm khác quan trọng khác, được ông Trần Lỗi đề cập trước đó trong một nghiên cứu năm 2013, là việc thu hẹp định nghĩa "lợi ích công cộng" – yếu tố được sử dụng làm lý do cho những dự án xây dựng.
Theo ông Trần Lỗi, việc này giúp giảm nguy cơ việc thu hồi đất bị biến thành một hình thức tước đoạt tài sản vì lợi ích cá nhân. Để so sánh, ông nói rằng trong giai đoạn trước khi quy định này ra đời, chính quyền địa phương có quyền lực không giới hạn để xác định thế nào là "lợi ích công cộng" và, do đó, khái niệm này cho phép chính quyền địa phương làm bất cứ điều gì họ muốn. Dù vậy, ông cũng lưu ý rằng về thực tế, một dự án công vẫn có thể được tư nhân hóa sau khi đã hoàn thành và do đó khái niệm "lợi ích công cộng" chỉ đóng vai trò như một cơ chế sàng lọc ban đầu.
Vào tháng 4/2013, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã ban hành "Văn bản trả lời về việc cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng trái phép", trong đó tự hạn chế chính mình cũng như các tòa án các cấp trong việc tiếp nhận đơn đề nghị từ chính quyền địa phương yêu cầu cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng trái phép.
"Đây là một tín hiệu rõ ràng cho thấy các tòa án Trung Quốc đang dần từ chối trở thành một tác nhân gây ra bất ổn xã hội phát sinh từ các vụ cưỡng chế di dời và thu hồi tài sản không phù hợp," ông nhận định.
Bài học cho Hà Nội
Theo quy định này, các dự án thu hồi nhà ở tại Thượng Hải phải trải qua hai vòng lấy ý kiến cư dân. Ở vòng đầu, ít nhất 90% hộ dân phải đồng ý thì dự án mới được tiếp tục. Sau khi phương án bồi thường và tái định cư được công bố, dự án phải đạt thêm 80–85% số hộ ký thỏa thuận ở vòng hai; nếu không, toàn bộ dự án sẽ bị hủy. Các khoản bồi thường được công khai để người dân giám sát, đồng thời có hỗ trợ bổ sung cho các hộ gặp khó khăn.
Theo nghiên cứu năm 2015 của Xu Zhumin, lúc bấy giờ là nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành nghiên cứu đô thị, Đại học New Orleans (Mỹ), cơ chế này vừa bảo vệ lợi ích của đa số cư dân vừa hạn chế tình trạng một nhóm nhỏ phản đối làm đình trệ dự án. Bà Xu cho rằng cách làm nói trên dẫn tới một quá trình tái định cư mà theo quan sát của bà là hiệu quả hơn. Cũng theo nghiên cứu này, từ khi chính sách trên được ban hành vào năm 2011 tới thời điểm bài nghiên cứu được công bố, chỉ có một trường hợp thu hồi nhà ở bị cư dân phủ quyết.
Về việc đền bù, quy định năm 2011 nêu rõ rằng mức bồi thường không được thấp hơn giá thị trường của một bất động sản tương đương tại thời điểm công bố quyết định thu hồi. Đây là thay đổi quan trọng khi mà trong quãng thời gian trước đó, theo nhiều bài nghiên cứu, giới chức địa phương thường ấn định mức bồi thường thấp một cách không thỏa đáng nhằm giảm chi phí cho các dự án phát triển.
Trong chương 14 cuốn Socialist Law in Socialist East Asia (Tạm dịch: Pháp luật xã hội chủ nghĩa ở Đông Á xã hội chủ nghĩa) của Phó Hoa Linh (Fu Hualing, Đại học Hong Kong), John Gillespie (Đại học Monash, Úc), Pip Nicholson (Đại học Melbourne, Úc) và William Partlett (Đại học Melbourne, Úc) biên tập, Phó Giáo sư Trần Lỗi – Phó Trưởng khoa tại Trường Luật thuộc Đại học Thành phố Hong Kong – nhận định quy định năm 2011 này khác hẳn quy định năm 2001.
Theo ông Trần Lỗi, trong khi quy định cũ thiên về việc tạo điều kiện cho quá trình phát triển đô thị diễn ra thuận lợi, quy định mới nhằm điều chỉnh quy trình thực hiện việc trưng thu và bồi thường, đồng thời bảo vệ lợi ích công cộng và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu tài sản.
Trong cuốn sách xuất bản năm 2018, ông cũng đề cập tới một số điểm quy định mà ông cho là quan trọng như tổ chức điều trần công khai, bảo đảm sự tham gia của các chủ sở hữu tài sản bị ảnh hưởng hoặc việc chính cơ quan trưng thu nhà ở thuộc chính quyền mới là bên ký kết các thỏa thuận về trưng thu và bồi thường với cá nhân – tức chính quyền là chủ thể duy nhất có quyền tiến hành trưng thu, thay vì các nhà phát triển bất động sản hoặc các bên trung gian khác.
Một điểm khác quan trọng khác, được ông Trần Lỗi đề cập trước đó trong một nghiên cứu năm 2013, là việc thu hẹp định nghĩa "lợi ích công cộng" – yếu tố được sử dụng làm lý do cho những dự án xây dựng.
Theo ông Trần Lỗi, việc này giúp giảm nguy cơ việc thu hồi đất bị biến thành một hình thức tước đoạt tài sản vì lợi ích cá nhân. Để so sánh, ông nói rằng trong giai đoạn trước khi quy định này ra đời, chính quyền địa phương có quyền lực không giới hạn để xác định thế nào là "lợi ích công cộng" và, do đó, khái niệm này cho phép chính quyền địa phương làm bất cứ điều gì họ muốn. Dù vậy, ông cũng lưu ý rằng về thực tế, một dự án công vẫn có thể được tư nhân hóa sau khi đã hoàn thành và do đó khái niệm "lợi ích công cộng" chỉ đóng vai trò như một cơ chế sàng lọc ban đầu.
Vào tháng 4/2013, Tòa án Nhân dân Tối cao Trung Quốc đã ban hành "Văn bản trả lời về việc cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng trái phép", trong đó tự hạn chế chính mình cũng như các tòa án các cấp trong việc tiếp nhận đơn đề nghị từ chính quyền địa phương yêu cầu cưỡng chế phá dỡ các công trình xây dựng trái phép.
"Đây là một tín hiệu rõ ràng cho thấy các tòa án Trung Quốc đang dần từ chối trở thành một tác nhân gây ra bất ổn xã hội phát sinh từ các vụ cưỡng chế di dời và thu hồi tài sản không phù hợp," ông nhận định.
Bài học cho Hà Nội
Tuy nhiên, tác giả cho rằng "những thay đổi này phần lớn bắt nguồn từ sự xuất hiện của tầng lớp trung lưu, những người ngày càng khẳng định quan điểm 'tài sản của tôi, số phận của tôi'."
Nhiều chuyên gia cũng có ý kiến tương tự, cho rằng bất ổn xã hội là món nợ phải trả, chỉ là sớm hay muộn mà thôi.
Người dân Hà Nội nói riêng, và Việt Nam nói chung, cũng đang trải qua những khó khăn tương tự người dân Thượng Hải trong quá khứ.
Họ không có quyền tham gia quyết định giải tỏa, không có khả năng thương lượng mức đền bù, không rõ mình được tái định cư ở đâu và vào thời điểm nào...
Những tấm băng rôn treo trước cửa, những hội nhóm trên mạng xã hội là các hành động phản đối khả dĩ nhất mà họ có thể thực hiện.
Nổi bật nhất có thể kể tới việc người dân làng Hải Bối, Đông Anh, mặc "đồng phục" để phản đối việc giải tỏa.
Tại Việt Nam, logic khiến người dân phải rời khỏi mảnh đất họ đang ở, và có quyền sử dụng hợp pháp, để nhường chỗ cho các dự án của nhà nước hoặc được nhà nước hậu thuẫn nằm trong quy định "đất đai thuộc sở hữu toàn dân" và do nhà nước "đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý".
Quy định này giúp nhà nước dễ dàng thực hiện việc giải tỏa bởi, theo luật, người dân không thực sự sở hữu đất. Thứ họ sở hữu là quyền sử dụng đất cùng các tài sản được tạo dựng trên mảnh đất đó – như nhà cửa, hoa màu.
Với quyền lực áp đảo, nhà nước và chủ đầu tư tư nhân được nhà nước hậu thuẫn không có nhiều động lực để thương lượng bình đẳng, tính giá đền bù theo giá thị trường. Bởi một khi thương lượng bình đẳng, lấy ý kiến dân cư công khai, thì nguy cơ bị người dân phản đối, dẫn tới việc dự án phát triển hạ tầng phải bị hủy bỏ luôn hiện diện. Việc đền bù theo giá thị trường còn khiến chi phí đầu tư tăng lên.
Do đó, các quyết định của nhà nước đối với việc giải tỏa thường được áp từ trên xuống. Các phương án đền bù, tái định cư cũng được tiến hành theo cách tương tự. Người dân luôn ở vào thế yếu và bị động trong các quyết định liên quan đến an cư, sinh kế của chính họ.
Tuy nhiên, từ thực tế ở Việt Nam, và kinh nghiệm của Thượng Hải nói trên, các chuyên gia cho rằng khi tính toán chi phí, nhà nước cần đặc biệt coi trọng cảm xúc, tâm tư của người dân. Việc áp đặt một chiều sẽ khiến người dân bất mãn, bức xúc, mất lòng tin. Những cảm xúc, tâm tư này dồn nén sẽ trở thành tác nhân của bất ổn xã hội. Và cuối cùng, đây sẽ là cái giá phải trả trong tương lai.
Gần đây, có những chuyển động gợi ý rằng chính quyền Việt Nam học hỏi mô hình của Thượng Hải và Trung Quốc.
Vào tháng 2/2026, một đoàn công tác của chính quyền Hà Nội đã tới Thượng Hải để tham quan một số mô hình nhằm phục vụ cho việc xây dựng Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm.
Tới cuối tháng Năm, đoàn công tác Bộ Xây dựng cũng đã sang Trung Quốc và làm việc với một số cơ quan của Thượng Hải liên quan tới quản lý quy hoạch, kiến trúc.
Và vào đầu tháng 6, sau những phản ứng của người dân, Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng đã ký ban hành Chỉ thị số 16 của Ban Thường vụ Thành ủy, khẳng định việc triển khai dự án trục đại lộ cảnh quan sông Hồng là "nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng".
Đảng ủy UBND thành phố được giao chỉ đạo xây dựng kế hoạch khảo sát, triển khai các giải pháp đồng bộ hỗ trợ đào tạo nghề, chuyển đổi việc làm, tạo sinh kế bền vững.
Thành phố khẳng định sẽ thiết lập cơ chế đối thoại công khai, thường xuyên với nhân dân; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong tiếp nhận, xử lý phản ánh, không để phát sinh điểm nóng và các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự.
Vẫn chưa rõ chính quyền sẽ tăng cường giải quyết phần gốc – đối thoại và tiếp thu các kiến nghị của người dân như cách Thượng Hải đã làm – hay chỉ tập trung dập tắt các ý kiến phản đối để không "phát sinh điểm nóng và các vụ việc phức tạp về an ninh, trật tự".
Trên thực tế, Thành ủy Hà Nội và báo chí đã triển khai chiến dịch tuyên truyền, cáo buộc "thế lực thù địch" lợi dụng bức xúc của người dân "để kích động chống Đảng, Nhà nước", như một bài viết của báo Công an nhân dân được website Thành ủy Hà Nội dẫn lại hồi cuối tháng 5 cho thấy.
https://www.bbc.com/vietnamese/articles/ckg81k1r901o
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét