Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

"Chính phủ quỳ gối xin người dân sinh con: Bi kịch Đông Á"

"Chính phủ quỳ gối xin người dân sinh con: Bi kịch nhân khẩu học Đông Á và lời cảnh báo cho Việt Nam" 
Ngày 29 tháng 5, Cục Thống kê Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản đã công bố dữ liệu dân số năm 2025, quy mô giảm dân số của Nhật Bản lại lập kỷ lục mới: Chỉ còn chưa đầy 121,9 triệu người, dự kiến năm 2026 chỉ còn 121 triệu người, giảm khoảng 7,2 triệu người so với mức cao nhất năm 2009, tương đương với việc mất đi toàn bộ dân số của Lào.
Kể từ khi dân số bước vào tăng trưởng âm vào năm 2010, biểu đồ dân số của Nhật Bản đã liên tục đi xuống, đến nay đã sụt giảm gần 20 năm liên tiếp và vẫn chưa thấy dấu hiệu dừng lại hay hồi phục.

Yếu tố cốt lõi nhất thúc đẩy đường cong này đi xuống là số trẻ sinh ra không thể theo kịp số người chết. Năm 2025, số trẻ sinh ra là 671.200 người, tỷ suất sinh là 1,14, cả hai chỉ số đều lập mức thấp kỷ lục trong lịch sử.

Thông thường, để duy trì sự ổn định dân số bình thường, tỷ lệ sinh của một quốc gia nên được duy trì ở mức 2,1.

Xét trong khu vực, ba nước Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc ở Đông Á đều không thể đạt được tiêu chuẩn này. Theo dữ liệu tỷ lệ sinh năm 2022 của Ngân hàng Thế giới, trong đó Nhật Bản là 1,14, thuộc hàng thấp nhất thế giới, tỷ lệ sinh của Trung Quốc là 1,18, thứ hạng cũng rất không khả quan. Đứng cuối bảng là Hàn Quốc chỉ với 0,78.

Nếu tách riêng đường của Đông Á, sự sụt giảm sẽ còn rõ rệt hơn.

Tác động trực tiếp nhất của tỷ lệ sinh thấp đối với xã hội là tình trạng già hóa dân số và thiếu hụt lao động.

Đất đóng băng ba thước không phải do một ngày trời lạnh, Nhật Bản thực ra đã gióng lên "hồi chuông cảnh báo dân số" từ khoảng năm 1990.

Nỗi lo lắng về "dân số" của một quốc gia đơn nhất về sắc tộc, độc giả nào đã từng trải qua cảm giác như "dao cùn cắt thịt" chắc chắn đều biết, đó thực sự là một sự dày vò vô cùng.

Do đó, đằng sau vài đường dao động đơn giản đó là sự giằng co giữa vô số "chính sách khuyến sinh" và "dư luận tê liệt". Và kết quả đã thấy rõ, một khi sự sụp đổ dân số xảy ra, rất khó để có thể lật ngược thế cờ.

Người dân Nhật Bản thậm chí đã ngày càng vui vẻ hơn trên con đường "không có con", các loại hình "kinh tế một mình" bùng nổ trên toàn quốc, liên tục lập đỉnh mới, ngoài ăn uống du lịch, ngay cả kết hôn cũng có thể "làm một mình".

Thời đại bảo thủ, những việc yêu thích chỉ có thể làm khi kết hôn. Thời đại tiến bộ rồi, càng ít trẻ em, ngành công nghiệp phim người lớn, thậm chí cả mại dâm công khai, đều ngày càng diễn ra mạnh mẽ hơn tại Nhật Bản.

Có thể thấy "sống một mình" không có lợi cho dân tộc, nhưng thực sự có lợi cho bản thân.

Các nước Đông Á rõ ràng là đã rơi vào "bẫy tỷ lệ sinh thấp". Nói một cách đơn giản, đó là "càng sinh ít, càng không muốn sinh", cuối cùng hình thành một vòng xoáy luẩn quẩn tự củng cố.

Tỷ phú Mỹ giàu nhất thế giới Elon Musk là người có sở thích "lập hội sinh con". Đối mặt với tỷ lệ sinh thảm hại của Nhật Bản, ông thậm chí còn tuyên bố người Nhật Bản cuối cùng sẽ biến mất.

Lời này vừa thốt ra, cư dân mạng Nhật Bản liền bùng nổ, nhao nhao bày tỏ "không liên quan đến tôi", có người cảm thán bất lực, thậm chí có người nói biến mất thì cứ biến mất đi. Các nước Nhật tập thể buông xuôi mặc kệ.

Chính phủ Nhật Bản một hồi thao túng

Đối mặt với "bẫy tỷ lệ sinh thấp", thực ra chính phủ Nhật Bản đã thấy rõ từ 30 năm trước. Năm 1994, chính phủ đã vạch ra một chính sách toàn diện mang tên "Kế hoạch Thiên thần", bao gồm thiết lập trợ cấp nuôi con, mở rộng các cơ sở giữ trẻ..., cố gắng xây dựng "một xã hội cảm nhận được niềm vui khi nuôi dạy con cái". Chính sách này ngay từ giai đoạn quy hoạch ban đầu đã được định vị là "chính sách phúc lợi cấp quốc gia".

Sau đó lại tiếp tục mở rộng trên cơ sở này, khuyến khích nam giới tham gia vào lực lượng nuôi dạy con cái, kiến nghị các doanh nghiệp giảm giờ làm việc, thúc đẩy chính quyền địa phương hoàn thiện đảm bảo giáo dục...

Năm 2003, chính phủ Nhật Bản một lần nữa ban hành "Luật Cơ bản về Đối sách Xã hội để thúc đẩy sinh con", tiếp tục nâng "cuộc chiến chống giảm sinh" lên vị trí chiến lược quốc gia. Ngân sách quốc gia đầu tư vào các chính sách khuyến sinh qua các năm còn nhiều hơn cả việc nghiên cứu và phát triển máy bay chiến đấu thế hệ mới.

Tổ hợp các đòn đánh này, có thể thấy rõ bằng mắt thường là vô tác dụng, vấn đề sinh ít chưa giải quyết được thì già hóa lại ập đến.

Năm 2005, cơ cấu dân số Nhật Bản xuất hiện "giao cắt tử thần", tỷ lệ tử vong cao hơn tỷ lệ sinh, và tiếp tục mở rộng, tính đến nay, dân số già đã đạt 27% tổng dân số.

Trong tình thế bất đắc dĩ, chính phủ đành phải phát minh ra một từ mới, gọi là "vừa ít con vừa già hóa" để mô tả tình cảnh hiện tại. Điều này thậm chí không cần phải gạch chân trọng điểm nữa, năm nào cũng là chủ đề bắt buộc phải có trong các đề thi.

Viện Nghiên cứu An sinh Xã hội và Vấn đề Dân số Quốc gia Nhật Bản, trong báo cáo đã chỉ ra rằng, trong số phụ nữ sau năm 2005, trung bình 33,4% sẽ không có con. Trong tình huống tồi tệ nhất, có tới 42% phụ nữ cả đời sẽ không sinh nở.

Trong khi đó, "tỷ lệ không kết hôn trọn đời" của nam giới cũng tăng mạnh, năm 2015, cứ 4 nam giới Nhật Bản thì có 1 người cả đời không kết hôn. Dự kiến đến năm 2030, tỷ lệ này sẽ tăng lên cứ 3 nam giới thì có 1 người sẽ cô độc đến già trong cuộc đời không một lần kết hôn.

Các chuyên gia Nhật Bản cũng không nghĩ ra được chiêu trò hiệu quả nào nữa. Có quan chức đề xuất trường học nên dạy "khóa học tình yêu", dạy thêm cách tỏ tình, cách cầu hôn, thậm chí học vài chiêu trò "bích đống" đại loại thế để thúc đẩy cảm xúc, chữa cháy trong tuyệt vọng.

(chú thích: Bích đống là từ có nguồn tiếng Nhật là "壁ドン" (Kabedon). Bích (壁) nghĩa là bức tường; đống (咚) là từ tượng thanh, mô phỏng tiếng "cốp" hoặc "rầm" khi có vật gì đó đập mạnh vào tường. Hành động "bích đống" (Kabedon) là hành động cực kỳ nổi tiếng trong văn hóa truyện tranh (manga), phim hoạt hình (anime) và phim truyền hình lãng mạn của Nhật Bản. Hành động này mô tả việc một người (thường là nam) dồn người mình thích (thường là nữ) vào sát tường, sau đó chống mạnh một tay lên tường ngay cạnh đầu người kia, tạo ra tiếng "cốp" (bích đống), kèm theo việc áp sát mặt đối phương để tỏ tình, rồi hôn hoặc tạo ra một khoảnh khắc lãng mạn, kịch tính, tim đập thình thịch. Do đó, có thể tạm dịch là những chiêu trò tán tỉnh kiểu thường thấy trong phim thần tượng).

Có chuyên gia đề xuất kế hoạch cứu vãn, định kỳ khảo sát ý dân trên đường phố, tìm ra nguyên nhân người trẻ không kết hôn không sinh con, kịp thời điều chỉnh chiến lược.

Nằm thẳng đã rất nỗ lực rồi

Nhật Bản với tư cách là nền kinh tế lớn thứ ba thế giới đang đối mặt với thời khắc nguy cơ vong quốc diệt chủng! "Don’t worry, be happy"! Đúng vậy, "Đừng lo lắng nữa", đây là khẩu hiệu mới mà Thời báo Phố Wall đưa ra, ba mươi năm sau tình trạng giảm dân số tại Nhật Bản.

Trên thực tế, khi đã thử qua tất cả các giải pháp khả thi mà không có kết quả, "học cách chấp nhận" có lẽ đã trở thành liều thuốc giảm đau tốt nhất.

Văn phòng Nội các Nhật Bản năm 2021 đã công bố báo cáo kinh tế thường niên, nhắc nhở chính quyền các cấp phải chuẩn bị sẵn sàng cho việc tỷ lệ sinh tiếp tục sụt giảm, trong tương lai phải ưu tiên nâng cao chỉ số hạnh phúc trong cuộc sống của người dân.

Dù sao đi nữa, điều cần giải quyết trước mắt không phải là "Nhật Bản thực sự sắp diệt vong", mà là những hỗn loạn và lo lắng xã hội khác nhau do sự suy giảm dân số và thay đổi cơ cấu gây ra.

Năm 2024, một "Hội nghị Chiến lược Dân số" gồm các học giả kinh tế và nhà nghiên cứu dân sự, đã tổng hợp và trình lên Thủ tướng đương thời lúc đó là Fumio Kishida một bản báo cáo, với tầm nhìn "hướng tới quốc gia 80 triệu dân ổn định và có sức tăng trưởng".

Nói cách khác, chính phủ Nhật Bản đã không thể giải quyết vấn đề dân số, vậy thì chỉ cần thay đổi cách nhìn của bản thân, nghĩ nhiều hơn đến "những lợi ích xuất hiện sau khi dân số giảm", chẳng phải là giải quyết được sao.

Một trong những lo ngại của giảm sinh là ai đến già cũng sẽ ốm đau, việc cần người chăm sóc sẽ gây áp lực lớn hơn cho xã hội. Nhưng người già hiện nay, chất lượng cuộc sống đã thay đổi khá nhiều so với trước, vẫn có thể "tích cực, khỏe mạnh" tự nuôi sống bản thân và tự chăm sóc mình. Do đó, đối với phần này, chỉ cần chính phủ có sự hỗ trợ tương ứng, nhóm người cao tuổi cũng có thể dần thoát khỏi quan niệm dưỡng lão truyền thống, sắp xếp một cuộc đời có giá trị hơn cho nửa sau của mình.

Lo ngại thứ hai là thiếu hụt dân số trong độ tuổi lao động. Nhưng điểm này cũng có thể được giải quyết thông qua việc đưa lao động nước ngoài vào để lấp đầy khoảng trống dân số trong nước. Các nước lân cận như Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Nepal, v.v., có nguồn nhân lực dồi dào. Chỉ cần làm tốt các chính sách đồng bộ, không lo không tìm được lao động chân tay và nhân lực chăm sóc.

Mức độ cởi mở của xã hội Nhật Bản đối với chính sách nhập cư vẫn còn hạn chế, nhưng lại khá cởi mở với lao động nước ngoài. Hiện nay, tại không ít nhà máy hoặc ngành dịch vụ, đều có thể thấy bóng dáng lao động nước ngoài.

Mặt khác những ưu điểm của sinh ít vẫn có thể thấy được.

Một trong những ưu điểm đã nổi lên hiện nay, đó là tỷ lệ có việc làm của Nhật Bản trong hai năm gần đây đã lập mức cao kỷ lục, đạt 98,1%. Sinh viên mới tốt nghiệp, chưa nói đến việc có tìm được công việc lý tưởng nhất ngay lập tức hay không, chỉ riêng việc "tốt nghiệp là có việc làm" đã cảm thấy thắng lớn rồi! 

Thậm chí còn lan truyền cảnh "trưởng phòng nhân sự quỳ gối khi đi tuyển lao động", khiến đông đảo cư dân mạng kêu trời là lần đầu tiên được thấy. Hơn nữa, không chỉ sinh viên mới tốt nghiệp hưởng trọn lợi tức, lĩnh vực nhảy việc cũng cạnh tranh khốc liệt chưa từng có. Nước Nhật vốn kiên trì "chế độ tuyển dụng trọn đời", ngày nay các doanh nghiệp lớn cũng bất chấp thể diện mà tranh giành nguồn lực của đối thủ, thậm chí còn tái bổ nhiệm người đã nghỉ hưu. 

Văn hóa doanh nghiệp kiểu Nhật vốn đề cao "lòng trung thành" trong quá khứ, đã không còn phù hợp với thị trường nhân lực hiện nay.

Ưu điểm thứ hai, đó là "phương thức làm việc" của Nhật Bản sẽ đón nhận sự thay đổi long trời lở đất, chính là "chế độ làm việc tuần 4 ngày" được đưa ra gần đây. Nhân viên Nhật Bản vốn nổi tiếng với "tăng ca", cuối cùng cũng có thể hân hoan đón ngọn gió xuân cải cách nghỉ ba ngày mỗi tuần, mặc dù hiện tại vẫn đang trong giai đoạn thí điểm ở nhiều nơi, nhưng điều này có nghĩa là người dân sẽ có nhiều thời gian hơn để lo cho gia đình và chăm sóc sức khỏe bản thân, cũng giúp nâng cao nhiệt tình làm việc.

Lý luận của phái thích nghi với giảm sinh ngày càng lớn mạnh. Nước Nhật từng vì theo đuổi sự tăng trưởng công việc và kinh tế mà hy sinh hạnh phúc và gia đình của người dân. Những gì có thể làm hiện nay, chỉ cần có thể ứng phó linh hoạt với những cú sốc do suy giảm dân số gây ra, đồng thời không gây áp lực quá mức để cố tăng dân số, cũng có hy vọng mang lại "sự giàu có tinh thần khác biệt" cho xã hội Nhật Bản.

Hơn nữa, biết đâu sau khi môi trường sống, mức độ hài lòng với cuộc sống, thời gian giải trí và những giá trị của xã hội hiện đại này ngày càng được nâng cao, tỷ lệ sinh sẽ xuất hiện sự bật tăng trở lại.

Nước Nhật đã tốn rất nhiều tiền suốt ba mươi năm cũng không thể giải quyết được tình trạng giảm dân số, cuối cùng đã quyết định chọn niềm vui, cứ vui được ngày nào hay ngày đó.  "Don't worry, be happy", người Nhật chấp nhận quy luật khách quan.

"Bóng ma Nhật Bản" đang hiện hình ngay sát cửa nhà?

Nhìn vào Nhật Bản, nhiều người Việt Nam có thể tặc lưỡi: "Chuyện của nước giàu, liên quan gì đến mình?". Nhưng nếu nhìn kỹ vào các con số, bức tranh dân số Việt Nam đang vẽ lại gần như đúng lộ trình mà Nhật Bản đã đi qua cách đây 30 năm - chỉ khác là chúng ta đang chạy nhanh hơn.

Từ "dân số vàng" đến "già trước khi giàu"

Việt Nam hiện có dân số khoảng 103 triệu người và đang ở giai đoạn "cơ cấu dân số vàng" - tức là lực lượng lao động chiếm tỷ trọng áp đảo. Tuy nhiên, giai đoạn vàng này đang dần khép lại nhanh hơn dự kiến. Theo Quỹ Dân số Liên Hợp Quốc (UNFPA), Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn "già hóa dân số" từ năm 2011 và dự kiến sẽ trở thành quốc gia "dân số già" vào khoảng năm 2036. 

Khác biệt lớn nhất là: Nhật Bản già đi khi đã giàu, còn Việt Nam đang đối mặt với nguy cơ "già trước khi giàu".

Tỷ lệ sinh đã chính thức rơi dưới mức thay thế

Theo Tổng cục Thống kê, tổng tỷ suất sinh (TFR) của Việt Nam năm 2023 đã giảm xuống khoảng 1,96 và năm 2025 còn 1,93 rơi xuống dưới ngưỡng thay thế 2,1. Con số này còn nghiêm trọng hơn khi nhìn vào các đô thị lớn: tại TP.HCM, TFR chỉ còn khoảng 1,3-1,4, tức là thấp hơn cả Nhật Bản. Nói cách khác, một người phụ nữ ở TP.HCM trung bình sinh ít con hơn một người phụ nữ ở Tokyo.

Những điểm tương đồng đáng lo ngại giữa Việt Nam và Nhật Bản

Thứ nhất, áp lực kinh tế đang trở thành "thuốc tránh thai" mạnh nhất. Giá nhà tại các thành phố lớn của Việt Nam đã tăng phi mã trong thập kỷ qua, trong khi thu nhập bình quân chưa theo kịp. Một cặp vợ chồng trẻ ở Hà Nội hay TP.HCM muốn mua một căn hộ chung cư trung bình phải dành ra 20-25 năm thu nhập, chưa kể chi phí nuôi dạy một đứa trẻ từ lúc sinh ra đến khi tốt nghiệp đại học ước tính từ 2-3 tỷ đồng. Khi "có nhà" và "có con" trở thành hai bài toán mà sức người chỉ giải được một, nhiều người trẻ chọn giải bài toán nào dễ hơn - hoặc không giải bài nào cả.

Thứ hai, văn hóa làm việc quá sức. Tương tự Nhật Bản với văn hóa "karoshi" (chết vì làm việc quá sức), Việt Nam thuộc nhóm quốc gia có số giờ làm việc cao nhất khu vực. Khi một người trẻ phải dành 10-12 tiếng mỗi ngày cho công việc, cộng thêm thời gian di chuyển trong tình trạng kẹt xe, thì "thời gian để yêu" đã hiếm, nói gì đến "thời gian để nuôi con".

Thứ ba, xu hướng kết hôn muộn và sống độc thân đang tăng nhanh. Tuổi kết hôn trung bình lần đầu tại Việt Nam đã tăng từ khoảng 22-23 tuổi (thập niên 1990) lên 26-27 tuổi hiện nay. Tỷ lệ người trẻ chọn không kết hôn, không sinh con - dù chưa có số liệu chính thức quy mô lớn - đang là chủ đề nóng trên các diễn đàn mạng xã hội, với các hashtag như #childfree, #DINK (Double Income No Kids) ngày càng phổ biến.

Thứ tư, "kinh tế một mình" đã bắt đầu hành thành. Các dịch vụ ăn một mình, du lịch một mình, căn hộ studio cho người độc thân đang bùng nổ tại các đô thị lớn Việt Nam, gợi nhớ đến bức tranh "kinh tế độc thân" mà Nhật Bản đã trải qua trước đó.

Ba bài học xương máu từ Nhật Bản mà Việt Nam cần khắc ghi

Một là: Cửa sổ chính sách cực kỳ hẹp. Nhật Bản nhận diện vấn đề từ năm 1990, đến năm 1994 đã hành động, và đến nay sau hơn 30 năm vẫn thất bại. 

Việt Nam hiện đang ở đúng vị trí mà Nhật Bản từng đứng vào đầu thập niên 1990: tỷ lệ sinh vừa chạm ngưỡng dưới mức thay thế, nhưng xã hội vẫn còn tâm lý "đông con đông của". Nếu không hành động quyết liệt ngay bây giờ, chỉ 5-10 năm nữa, khi tâm lý "ngại sinh" đã ăn sâu vào thế hệ Gen Z, thì mọi chính sách khuyến sinh đều sẽ rơi vào tình cảnh "dao cùn cắt thịt" như Nhật Bản.

Hai là: Tiền không phải là tất cả. Nhật Bản đã chi hàng nghìn tỷ yên cho trợ cấp sinh con, mở rộng nhà trẻ, miễn giảm học phí - nhưng tỷ lệ sinh vẫn lao dốc.

Lý do là vấn đề không nằm ở "trợ cấp bao nhiêu", mà nằm ở cấu trúc xã hội: văn hóa doanh nghiệp ép buộc tăng ca, bất bình đẳng giới trong chăm sóc gia đình, giá nhà đất quá cao, và sự thay đổi sâu sắc trong quan niệm sống của người trẻ. Việt Nam nếu chỉ dừng ở việc "hỗ trợ tiền sinh con" mà không cải cách thị trường lao động, không giảm áp lực nhà ở, không thay đổi văn hóa doanh nghiệp, thì sẽ lặp lại đúng bi kịch của Nhật Bản.

Ba là: Phải chuẩn bị song song cho cả hai kịch bản. 

Kịch bản thứ nhất là khuyến sinh thành công - nhưng lịch sử thế giới cho thấy gần như chưa quốc gia nào làm được điều này một cách bền vững. 

Kịch bản thứ hai, thực tế hơn, là Việt Nam sẽ tiếp tục giảm sinh và già hóa; nên phải chung sống với quy luật đó. Vì vậy, ngay từ bây giờ cần xây dựng hệ thống an sinh xã hội cho người già, cải cách bảo hiểm hưu trí (vì quỹ hưu trí Việt Nam được cảnh báo có nguy cơ mất cân đối vào thập niên 2030), đầu tư mạnh vào tự động hóa và AI để bù đắp thiếu hụt lao động, và chuẩn bị trước khung pháp lý cho việc tiếp nhận lao động nước ngoài - một chủ đề mà nhà nước và xã hội Việt Nam còn rất ít thảo luận.

Lời kết cho Việt Nam

Nhật Bản mất 30 năm và hàng nghìn tỷ yên để rút ra một bài học: không thể chống lại dòng chảy nhân khẩu học bằng ý chí chính trị đơn thuần. Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ: hoặc học bài học đó ngay bây giờ khi còn thời gian, hoặc sẽ phải trả giá đắt hơn gấp nhiều lần trong tương lai. Việt Nam còn có một điểm khác biệt chí mạng: chúng ta sẽ già đi khi túi tiền còn mỏng hơn rất nhiều so với Nhật Bản.

Câu hỏi không còn là "Việt Nam có đi theo vết xe đổ của Nhật Bản hay không?", mà là "chúng ta còn bao nhiêu thời gian trước khi vết xe đổ đó trở thành hiện thực?".

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét