Bản ghi Mỹ - Iran đưa thế giới chính thức bước vào "Kỷ nguyên Hậu Mỹ"
Theo tôi, ngày hôm qua 18 tháng 6 năm 2026 chắc chắn sẽ được các nhà sử học tương lai xác định là năm đầu tiên của "Kỷ nguyên Hậu Mỹ".
Bản ghi nhớ hiểu biết (MOU) giữa Mỹ và Iran cho thấy luật chơi địa chính trị toàn cầu đã thay đổi căn bản chỉ sau một đêm. Về thực chất, đây là một bản báo cáo tuyên bố sự chấm dứt hoàn toàn của trật tự cũ, mở ra chính thức một thế giới đa cực.
Trước tiên, hãy xem qua các điều khoản trong bản ghi nhớ hiểu biết đạt được với Mỹ, được truyền thông chính thức Iran công bố trước vào ngày 17. Cùng ngày, các quan chức cấp cao chính phủ Mỹ cũng đã công bố văn bản chính thức của bản ghi nhớ thông qua truyền thông. Nội dung văn bản của hai bên cơ bản như nhau, toàn văn như sau:
Trước tiên, hãy xem qua các điều khoản trong bản ghi nhớ hiểu biết đạt được với Mỹ, được truyền thông chính thức Iran công bố trước vào ngày 17. Cùng ngày, các quan chức cấp cao chính phủ Mỹ cũng đã công bố văn bản chính thức của bản ghi nhớ thông qua truyền thông. Nội dung văn bản của hai bên cơ bản như nhau, toàn văn như sau:
Điều 1
Mỹ và Iran cùng các đồng minh của hai bên trong cuộc chiến hiện nay ký bản ghi nhớ này nhằm tuyên bố chấm dứt ngay lập tức và vĩnh viễn các hoạt động quân sự trên mọi mặt trận, bao gồm cả ở Lebanon.
Hai bên cam kết từ nay sẽ không khởi xướng chiến tranh hay bất kỳ hoạt động quân sự nào chống lại nhau, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực, đồng thời bảo đảm toàn vẹn lãnh thổ và chủ quyền của Lebanon. Thỏa thuận cuối cùng sẽ xác nhận việc chấm dứt vĩnh viễn xung đột trên mọi mặt trận, bao gồm Lebanon, cùng các nội dung liên quan khác.
Điều 2
Mỹ và Iran cam kết tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, đồng thời không can thiệp vào công việc nội bộ của đối phương.
Điều 3
Hai bên cam kết đàm phán và đạt được thỏa thuận cuối cùng trong tối đa 60 ngày, có thể gia hạn nếu cả hai cùng đồng ý.
Điều 4
Ngay sau khi ký bản ghi nhớ, Mỹ sẽ bắt đầu dỡ bỏ phong tỏa hải quân và mọi biện pháp cản trở nhằm vào Iran, đồng thời chấm dứt hoàn toàn phong tỏa trong vòng 30 ngày.
Trong thời gian này, lưu lượng tàu thuyền sẽ được Iran khôi phục về mức độ lưu thông hàng hải trước chiến tranh. Mỹ cũng cam kết rút lực lượng khỏi khu vực lân cận Iran trong vòng 30 ngày sau khi đạt được thỏa thuận cuối cùng.
Điều 5
Sau khi ký bản ghi nhớ, Iran sẽ nỗ lực bảo đảm tàu thương mại được đi lại an toàn, không thu phí trong 60 ngày tại vùng biển giữa Vịnh Ba Tư và biển Oman theo cả hai chiều.
Hoạt động hàng hải thương mại sẽ được nối lại ngay lập tức. Công tác tháo gỡ vật cản kỹ thuật, quân sự và rà phá thủy lôi do Iran thực hiện sẽ hoàn tất trong vòng 30 ngày.
Iran sẽ tiến hành đối thoại với Oman nhằm xác định cơ chế quản lý và cung cấp dịch vụ hàng hải trong tương lai tại eo biển Hormuz, cùng các quốc gia ven Vịnh Ba Tư khác, phù hợp với luật pháp quốc tế và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển.
Điều 6
Mỹ cam kết phối hợp với các đối tác khu vực xây dựng kế hoạch tái thiết và phát triển kinh tế tại Iran với quy mô tối thiểu 300 tỷ USD.
Cơ chế triển khai sẽ được hoàn thiện trong khuôn khổ thỏa thuận cuối cùng đạt được trong vòng 60 ngày. Mỹ sẽ cấp mọi giấy phép, miễn trừ và chấp thuận cần thiết cho các giao dịch tài chính liên quan.
Điều 7
Mỹ cam kết chấm dứt mọi hình thức trừng phạt đối với Iran, bao gồm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, nghị quyết của Hội đồng Thống đốc Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế (IAEA), cũng như các lệnh trừng phạt đơn phương của Mỹ. Lộ trình cụ thể sẽ được thống nhất trong thỏa thuận cuối cùng.
Hai bên thừa nhận tầm quan trọng đặc biệt của vấn đề trừng phạt và bày tỏ mong muốn giải quyết nội dung này ngay trong các vòng đàm phán sắp tới.
Điều 8
Iran tái khẳng định sẽ không sở hữu hoặc phát triển vũ khí hạt nhân. Mỹ và Iran nhất trí giải quyết vấn đề kho vật liệu hạt nhân đã làm giàu theo cơ chế sẽ được hai bên thống nhất, với phương án tối thiểu là pha loãng ngay tại chỗ dưới sự giám sát của IAEA.
Hai bên sẽ thảo luận về hoạt động làm giàu uranium và các nhu cầu hạt nhân khác của Iran nhằm xây dựng khuôn khổ phù hợp cho thỏa thuận cuối cùng. Các bên thừa nhận tính chất then chốt của những vấn đề hạt nhân này và cam kết đàm phán để đạt được đồng thuận.
Điều 9
Trong thời gian chờ thỏa thuận cuối cùng, hai bên duy trì hiện trạng. Iran sẽ giữ nguyên tình trạng hiện tại của chương trình hạt nhân, còn Mỹ sẽ không áp đặt thêm các lệnh trừng phạt mới hoặc triển khai thêm lực lượng quân sự trong khu vực.
Điều 10
Ngay sau khi ký bản ghi nhớ và cho đến khi các lệnh trừng phạt được dỡ bỏ hoàn toàn, Bộ Tài chính Mỹ sẽ cấp miễn trừ cho hoạt động xuất khẩu dầu thô, sản phẩm dầu mỏ và các sản phẩm liên quan của Iran. Các miễn trừ cũng áp dụng đối với giao dịch ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và dịch vụ liên quan khác.
Điều 11
Mỹ cam kết cho phép Iran sử dụng đầy đủ các quỹ và tài sản bị phong tỏa hoặc hạn chế ngay khi bản ghi nhớ được triển khai. Hai bên sẽ thống nhất các thủ tục giải ngân trong quá trình đàm phán.
Dù các khoản tiền được giữ nguyên tại tài khoản hiện có hay được chuyển đi nơi khác, chúng đều có thể sử dụng đầy đủ để thanh toán cho các đối tượng thụ hưởng do Ngân hàng Trung ương Iran chỉ định. Mỹ cam kết cấp mọi giấy phép và chấp thuận cần thiết.
Điều 12
Mỹ và Iran nhất trí thành lập cơ chế điều hành nhằm giám sát việc thực thi thành công bản ghi nhớ cũng như việc tuân thủ thỏa thuận cuối cùng trong tương lai.
Điều 13
Sau khi ký bản ghi nhớ, kết hợp với điều kiện các nội dung tại Điều 1, 4, 5, 10 và 11 được triển khai cũng như tiếp tục được thực hiện, Mỹ và Iran sẽ bắt đầu đàm phán về thỏa thuận cuối cùng đối với các điều khoản còn lại.
Điều 14
Thỏa thuận cuối cùng sẽ được phê chuẩn bằng một nghị quyết có tính ràng buộc của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc.
Tổng cộng có 14 điều khoản, nhìn qua thì thấy nhiều, nhưng ý chính chỉ gói gọn trong tám chữ: "ĐÌNH CHIẾN, BỒI THƯỜNG và DỠ BỎ TRỪNG PHẠT".
Trong 12 điều khoản chứa nội dung cụ thể, có 5 điều là hai bên đồng ý, 5 điều là Mỹ cam kết, 2 điều là Iran cam kết. Hai điều Iran cam kết là: một là mở lại eo biển Hormuz, nhưng không phải ngay lập tức, mà với điều kiện Mỹ phải dỡ bỏ phong tỏa trước; hai là nhắc lại vĩnh viễn không phát triển vũ khí hạt nhân, xin lưu ý là "nhắc lại", trước khi ký thỏa thuận chính thức chương trình hạt nhân vẫn cứ triển khai bình thường, hơn nữa về việc xử lý chất thải hạt nhân, hoàn toàn không có bất kỳ cam kết nào. Trong khi đó, 5 điều Mỹ cam kết đều là những thứ thực tế và chắc chắn.
Giờ đây, dù là những fan MAGA trung thành nhất, cũng sẽ cảm thấy thất vọng tràn trề về Trump.
Phe phái MAGA bắt đầu chia rẽ, một bộ phận kiên quyết cho rằng đây là việc Trump đang chuẩn bị cho một nước cờ "lấy lùi làm tiến"; trong khi một bộ phận cấp tiến khác lại cho rằng đây là sự chà đạp lên phẩm giá của nước Mỹ, là một cuộc đầu hàng nhục nhã của các tập đoàn công nghiệp dưới sự ép buộc của tư bản Phố Wall. Họ không thể chấp nhận được việc nhà lãnh đạo từng thề "Nước Mỹ trên hết", nay lại phải đưa ra những cam kết nhục nhã như vậy trên vũ đài quốc tế, trước một Iran đã bị ném bom hết đợt này đến đợt khác và tan hoang.
Đối với phe chính thống ở Washington, việc ký kết bản ghi nhớ cho họ một cái bằng chứng để công kích Trump. Trong cuộc bầu cử giữa kỳ năm nay, nếu không thể giành lại được thế trận, rất có thể ông ta sẽ trở thành "vịt què" trong thời gian tại chức còn lại. Đến lúc đó, thế giới này sẽ càng chẳng còn chút tôn trọng nào dành cho Trump và nước Mỹ nữa.
1. Sự suy tàn của sức mạnh răn đe và Kỷ nguyên đa cực
Nhiều năm qua, bá quyền toàn cầu của Mỹ dựa vào năng lực răn đe quân sự hùng mạnh. Tuy nhiên, khi lần này Mỹ buộc phải chấp nhận rút các lực lượng quân sự tiếp cận Iran trong bản ghi nhớ, và lấy "không phát động chiến tranh" làm điều kiện tiên quyết, điều này đánh dấu sự suy kiệt nghiêm trọng của sức mạnh quân sự Mỹ.
Việc năng lực răn đe quân sự của Mỹ bị sụt giảm, tuyệt đối không chỉ đơn thuần là giảm bớt bố trí binh lực. Trước đây, Hezbollah, Iran và thậm chí các thế lực cứng rắn khác chống Mỹ, dù biết rõ phòng tuyến Israel trống vắng, cũng sẽ vì e ngại thực lực quân sự của Mỹ mà không dám manh động. Giờ đây, sự e ngại đó đã biến mất.
Khi "Kỷ nguyên Hậu Mỹ" ập đến, tất cả các quốc gia dựa vào sự bảo vệ quân sự của Mỹ đều phải lập tức khởi động lại nền công nghiệp quốc phòng của chính mình. Năng lực trừng phạt kinh tế của Mỹ được xây dựng trên nền tảng một quân đội hùng mạnh và các lệnh trừng phạt tài chính của Mỹ dựa vào hệ thống đô la cộng với năng lực thực thi trừng phạt duy nhất trên toàn cầu, tức là năng lực "trừng trị" những kẻ không nghe lời.
Giờ đây, năng lực này đã mất đi thực lực làm chỗ dựa. Sức mạnh của vũ khí tài chính, cùng với ý chí trừng phạt của Mỹ đang teo tóp, đang nhanh chóng bị rỗng tuếch. Trong tương lai, các quốc gia trên thế giới sẽ không còn thông qua việc quan sát thái độ của Mỹ để quyết định đối tác thương mại của mình nữa, mà sẽ dựa vào lợi ích thực tế của địa chính trị. Đây không chỉ là sự rút lui của bá quyền đô la, mà còn là sự khởi đầu của quá trình chuyển đổi logic thương mại toàn cầu từ "lấy lòng Mỹ" sang "cùng chia sẻ lợi ích".
Nước Mỹ trong vài thập kỷ qua đã thiết lập bá quyền thông qua Hệ thống Bretton Woods và việc quân Mỹ đồn trú ở nước ngoài (chinh phạt), và khi họ chuyển giao quyền bảo lãnh cho Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, đồng thời cam kết rút quân, về bản chất chính là cương thường rã rời. Trong kỷ nguyên hậu Mỹ, Mỹ không còn là người duy nhất định ra luật chơi, mà bị giáng cấp thành một trong số nhiều cường quốc tham gia vào cuộc cạnh tranh lợi ích quốc tế. Các đồng minh từng một thời bắt đầu mỗi người một ngả tự lo tiền đồ, thay vì tiếp tục chờ đợi chỉ thị từ Washington.
Giai đoạn tới sẽ là một thời loạn thế, anh hùng xuất hiện lớp lớp, cũng là một thời đại các bên dùng thực lực để nói chuyện với nhau.
Sự trở lại hùng mạnh của Iran ở Vịnh Ba Tư thông qua việc kiểm soát đường biển và dịch vụ hàng hải, cưỡng chế can thiệp và tái cấu trúc trật tự khu vực. Các quốc gia Trung Đông, trước đây dựa vào cam kết an ninh của Mỹ, giờ đây buộc phải chuyển sang cơ chế tự quản lý khu vực "Iran + các quốc gia vùng Vịnh".
Vài thập kỷ qua, thế giới bị chia thành hai phe thân Mỹ và chống Mỹ. Còn trong kỷ nguyên hậu Mỹ, để tự bảo vệ mình, các chư hầu sẽ áp dụng các chiến lược ngoại giao linh hoạt.
Hiện tại, các nước như châu Âu, Úc, Canada, đối mặt với một nước Mỹ không còn can thiệp mạnh mẽ, sẽ giống như những nước nhỏ; họ phải học cách luồn lách giữa các cường quốc.
Thế giới bước vào kỷ nguyên hậu Mỹ, không có nghĩa là toàn cầu hóa bước vào chương hòa bình tiếp theo, ngược lại, điều này có nghĩa là một thời đại hỗn loạn tranh giành quyền lực sắp mở ra.
Thế giới tương lai, trong một khoảng thời gian khá dài, chắc chắn sẽ phải bước vào xã hội của luật rừng. Ai nắm đấm lớn người đó có lý. Mô hình phương Tây vốn tự đề cao các giá trị tự do dân chủ, giờ đây buộc phải thỏa hiệp với một hệ tư tưởng hoàn toàn khác. Sự thỏa hiệp này là một đòn chí mạng vào nền ngoại giao giá trị quan của Mỹ.
2. Hệ quả của một nền "Công nghiệp rỗng tuếch": Tử huyệt của cỗ máy chiến tranh Mỹ
Đối mặt với thế cục hoàn toàn mới này, các quốc gia trên thế giới cần nhanh chóng chuyển đổi mô hình sinh tồn.
Với việc thiết lập cơ chế miễn trừ trừng phạt, sức hút của hệ thống đô la sẽ ngày càng giảm sút. Các quốc gia khi tiến hành thương mại năng lượng, khoáng sản, chắc chắn sẽ tìm kiếm các phương án thanh toán bằng nội tệ đa dạng hơn, để phòng ngừa sự điên cuồng lần cuối của bá quyền Mỹ bên bờ vực sụp đổ trong tương lai.
Vì không thể còn trông cậy vào sự bảo vệ của quân đồn trú, các quốc gia khu vực Trung Đông, Đông Nam Á... phải bắt đầu thành lập các cơ chế phòng vệ liên hoàn độc lập.
Mỹ trong cuộc so đọ với Iran, đã chủ động nhượng bộ, đằng sau ẩn chứa một sự thật mà rất nhiều người vẫn chưa nhìn rõ: Năng lực chiến tranh của Mỹ, do công nghiệp bị rỗng tuếch, đã rơi vào bên bờ vực sụp đổ.
Việc Mỹ - Iran đi đến bàn đàm phán, căn bản là do hai điểm yếu chí mạng:
Thế giới tương lai, trong một khoảng thời gian khá dài, chắc chắn sẽ phải bước vào xã hội của luật rừng. Ai nắm đấm lớn người đó có lý. Mô hình phương Tây vốn tự đề cao các giá trị tự do dân chủ, giờ đây buộc phải thỏa hiệp với một hệ tư tưởng hoàn toàn khác. Sự thỏa hiệp này là một đòn chí mạng vào nền ngoại giao giá trị quan của Mỹ.
2. Hệ quả của một nền "Công nghiệp rỗng tuếch": Tử huyệt của cỗ máy chiến tranh Mỹ
Đối mặt với thế cục hoàn toàn mới này, các quốc gia trên thế giới cần nhanh chóng chuyển đổi mô hình sinh tồn.
Với việc thiết lập cơ chế miễn trừ trừng phạt, sức hút của hệ thống đô la sẽ ngày càng giảm sút. Các quốc gia khi tiến hành thương mại năng lượng, khoáng sản, chắc chắn sẽ tìm kiếm các phương án thanh toán bằng nội tệ đa dạng hơn, để phòng ngừa sự điên cuồng lần cuối của bá quyền Mỹ bên bờ vực sụp đổ trong tương lai.
Vì không thể còn trông cậy vào sự bảo vệ của quân đồn trú, các quốc gia khu vực Trung Đông, Đông Nam Á... phải bắt đầu thành lập các cơ chế phòng vệ liên hoàn độc lập.
Mỹ trong cuộc so đọ với Iran, đã chủ động nhượng bộ, đằng sau ẩn chứa một sự thật mà rất nhiều người vẫn chưa nhìn rõ: Năng lực chiến tranh của Mỹ, do công nghiệp bị rỗng tuếch, đã rơi vào bên bờ vực sụp đổ.
Việc Mỹ - Iran đi đến bàn đàm phán, căn bản là do hai điểm yếu chí mạng:
Thứ nhất, do nhiều năm thông qua bán tháo dự trữ chiến lược để ép giá dầu, dự trữ dầu mỏ của Mỹ sẽ cạn kiệt chỉ trong khoảng một tháng nữa. Đây là một tín hiệu cực kỳ nguy hiểm, nghĩa là Mỹ đã mất đi vùng đệm chiến lược để ứng phó với khủng hoảng năng lượng và xung đột dài hạn. Nếu tiếp tục đánh tiếp, giá dầu của Mỹ sẽ tăng vọt, đối với "quốc gia cả nước chạy ô tô", không chính khách Mỹ nào dám mạo hiểm này.
Thứ hai, đòn chí mạng hơn là năng lực sản xuất công nghiệp quân sự của Mỹ bị teo tóp nghiêm trọng. Các viện nghiên cứu chính thống (như CSIS, tức Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế) nhiều lần phát hành báo cáo chỉ ngành công nghiệp quân sự Mỹ khi đối mặt với các cuộc xung đột cường độ cao, dài ngày, thiếu hụt "năng lực tăng vọt" nghiêm trọng.
CSIS trong nhiều báo cáo về việc chuẩn bị ứng phó cạnh tranh cường quốc đã chỉ rõ, trong các kịch bản xung đột cường độ cao tương tự như eo biển Đài Loan hoặc Trung Đông, tồn kho đạn dược then chốt của quân Mỹ thường sẽ cạn kiệt chỉ trong vài ngày đến vài tuần.
Báo cáo chỉ ra cho dù lập tức khởi động sản xuất, chu kỳ bổ sung đạn dược then chốt thông thường cần từ 1 đến 4 năm (như tên lửa Tomahawk, JASSM, tên lửa Patriot, v.v.). Sản xuất chậm, tiêu hao nhanh, khiến quân Mỹ không đủ sức chống đỡ cuộc chiến cường độ cao dài hạn với Iran.
Các tài liệu công khai của chính phủ Mỹ, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, ví dụ như báo cáo "Tăng cường nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ" do Nhà Trắng phát hành, thừa nhận nền tảng công nghiệp quốc phòng hiện tại đang ở trạng thái rỗng tuếch về mặt chức năng. Ví dụ như các vật tư chiến lược có nguồn gốc đơn lẻ (như titan, đất hiếm, vi điện tử) phụ thuộc nghiêm trọng vào bên ngoài. Một khi các tài nguyên này bị đứt gãy chuỗi cung ứng, dây chuyền sản xuất lập tức đình trệ.
Việc ngành chế tạo dịch chuyển ra nước ngoài dài hạn đã dẫn đến sự đứt gãy của công nhân kỹ thuật lành nghề. Nước Mỹ hiện tại không chỉ thiếu nhà máy, mà rất thiếu công nhân và kỹ sư lành nghề có thể chống đỡ cho ngành chế tạo chính xác. Các doanh nghiệp chịu sự thúc ép của tư bản Phố Wall, ưu tiên xét đến lợi ích cổ đông thay vì năng lực sản xuất, dẫn đến việc doanh nghiệp không muốn xây dựng thêm năng lực dự trữ hoặc dây chuyền sản xuất dư thừa.
Hơn nữa, Tổng thống Mỹ những năm gần đây liên tục sử dụng Đạo luật Sản xuất Quốc phòng (Defense Production Act), cố gắng cưỡng chế can thiệp vào chế tạo quốc phòng, bản thân điều này chính là bằng chứng mạnh mẽ nhất của việc thiếu hụt năng lực. Nếu năng lực dư dả, sẽ không cần chính phủ thường xuyên can thiệp để phân bổ tài nguyên.
Cỗ máy chiến tranh tự hào của nước Mỹ, thực ra sớm đã rỉ sét. Iran chính là nhìn thấu điểm này, thông qua chiến thuật tiêu hao và kéo dài dai dẳng, đã kéo Mỹ đến bàn đàm phán.
3. Tái cấu trúc chuỗi cung ứng quân sự và Kỷ nguyên "tự lo liệu" toàn cầu
Thứ hai, đòn chí mạng hơn là năng lực sản xuất công nghiệp quân sự của Mỹ bị teo tóp nghiêm trọng. Các viện nghiên cứu chính thống (như CSIS, tức Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế) nhiều lần phát hành báo cáo chỉ ngành công nghiệp quân sự Mỹ khi đối mặt với các cuộc xung đột cường độ cao, dài ngày, thiếu hụt "năng lực tăng vọt" nghiêm trọng.
CSIS trong nhiều báo cáo về việc chuẩn bị ứng phó cạnh tranh cường quốc đã chỉ rõ, trong các kịch bản xung đột cường độ cao tương tự như eo biển Đài Loan hoặc Trung Đông, tồn kho đạn dược then chốt của quân Mỹ thường sẽ cạn kiệt chỉ trong vài ngày đến vài tuần.
Báo cáo chỉ ra cho dù lập tức khởi động sản xuất, chu kỳ bổ sung đạn dược then chốt thông thường cần từ 1 đến 4 năm (như tên lửa Tomahawk, JASSM, tên lửa Patriot, v.v.). Sản xuất chậm, tiêu hao nhanh, khiến quân Mỹ không đủ sức chống đỡ cuộc chiến cường độ cao dài hạn với Iran.
Các tài liệu công khai của chính phủ Mỹ, Nhà Trắng và Lầu Năm Góc, ví dụ như báo cáo "Tăng cường nền tảng công nghiệp quốc phòng Mỹ" do Nhà Trắng phát hành, thừa nhận nền tảng công nghiệp quốc phòng hiện tại đang ở trạng thái rỗng tuếch về mặt chức năng. Ví dụ như các vật tư chiến lược có nguồn gốc đơn lẻ (như titan, đất hiếm, vi điện tử) phụ thuộc nghiêm trọng vào bên ngoài. Một khi các tài nguyên này bị đứt gãy chuỗi cung ứng, dây chuyền sản xuất lập tức đình trệ.
Việc ngành chế tạo dịch chuyển ra nước ngoài dài hạn đã dẫn đến sự đứt gãy của công nhân kỹ thuật lành nghề. Nước Mỹ hiện tại không chỉ thiếu nhà máy, mà rất thiếu công nhân và kỹ sư lành nghề có thể chống đỡ cho ngành chế tạo chính xác. Các doanh nghiệp chịu sự thúc ép của tư bản Phố Wall, ưu tiên xét đến lợi ích cổ đông thay vì năng lực sản xuất, dẫn đến việc doanh nghiệp không muốn xây dựng thêm năng lực dự trữ hoặc dây chuyền sản xuất dư thừa.
Hơn nữa, Tổng thống Mỹ những năm gần đây liên tục sử dụng Đạo luật Sản xuất Quốc phòng (Defense Production Act), cố gắng cưỡng chế can thiệp vào chế tạo quốc phòng, bản thân điều này chính là bằng chứng mạnh mẽ nhất của việc thiếu hụt năng lực. Nếu năng lực dư dả, sẽ không cần chính phủ thường xuyên can thiệp để phân bổ tài nguyên.
Cỗ máy chiến tranh tự hào của nước Mỹ, thực ra sớm đã rỉ sét. Iran chính là nhìn thấu điểm này, thông qua chiến thuật tiêu hao và kéo dài dai dẳng, đã kéo Mỹ đến bàn đàm phán.
3. Tái cấu trúc chuỗi cung ứng quân sự và Kỷ nguyên "tự lo liệu" toàn cầu
Việc quân đội Mỹ rút lui trên phạm vi toàn cầu, sẽ là một xu thế lớn không thể đảo ngược, điều này cũng sẽ thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của ngành công nghiệp quân sự toàn cầu.
Vài thập kỷ qua, chuỗi ngành công nghiệp quân sự toàn cầu nghiên cứu phát triển ở Mỹ, linh kiện chính xác ở châu Âu, nguyên vật liệu ở châu Phi, tổng lắp ráp ở Đông Nam Á. Mô hình này theo đuổi hiệu suất, theo đuổi tính hiệu suất trên giá thành. Nhưng trong thời loạn, cân nhắc an ninh triệt để áp đảo tất cả.
Chính phủ các nước giờ đây phát hiện ra rằng, cho dù có bản vẽ thiết kế vũ khí tiên tiến đến đâu, nếu chip then chốt, hợp kim titan đặc chủng hoặc nguyên liệu thuốc súng phụ thuộc vào nước khác, thì thứ vũ khí này trong tuần đầu tiên khi chiến tranh nổ ra sẽ trở thành đống sắt vụn. Do đó, các nước sẽ bất chấp giá thành để thúc đẩy nội địa hóa và khép kín toàn bộ chuỗi ngành công nghiệp quân sự.
Đã không thể còn trông cậy vào sự bảo đảm của Mỹ, châu Âu, Nhật Hàn và đông đảo các quốc gia Trung Đông đang khởi động kế hoạch tái vũ trang chưa từng có trong lịch sử. Sự tăng trưởng này không chỉ đơn thuần là mua vũ khí thành phẩm, mà càng nhiều hơn là đầu tư vào nghiên cứu cơ bản công nghiệp quân sự nước mình, cơ sở bảo đảm năng lượng và an ninh mạng.
Trong lịch sử mỗi khi gặp đại biến động, quyền lực nhà nước đều tập trung về phía phức hợp quân sự. Chính phủ sẽ thông qua trợ cấp tài chính, miễn giảm thuế và các ủy quyền đặc biệt khác nhau, thu hút các kỹ sư ưu tú nhất và lượng lớn tư bản tài chính vào ngành chế tạo quân sự. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp quân sự sẽ một lần nữa trở thành trung tâm chú ý của các thị trường vốn, thậm chí ở một số quốc gia trở thành đầu tàu của nền kinh tế quốc dân.
Trong kỷ nguyên Hậu Mỹ, chiến tranh không còn nhìn vào việc ai có nhiều máy bay, ai có nhiều xe tăng, mà là sự đối kháng của thuật toán, cảm biến và công nghệ không người lái. Cuộc chiến Nga - Ukraine chính là ví dụ tốt nhất. Ngành công nghiệp quân sự sẽ trở thành lò ấp lớn nhất cho các công nghệ tiên phong như AI, truyền thông lượng tử, siêu vật liệu, v.v. Ai có thể chuyển hóa năng lực tính toán AI dân dụng, năng lực chế tạo máy bay không người lái thành thực lực quốc phòng trước tiên, người đó sẽ nắm được quyền chủ động trong thời loạn này.
Chiến tranh Iran kết thúc, Mỹ đã nhục nhã rút lui chiến thuật, co về Tây bán cầu. Nhưng đối với thế giới mà nói, đây mới chỉ là sự mở đầu của màn kịch. Cuộc đại loạn tranh giành khoảng trống quyền lực trong kỷ nguyên hậu Mỹ thực tế mới chỉ bắt đầu.
Chúng ta đang chứng kiến bước ngoặt của lịch sử. Cho dù là sự lung lay của hệ thống đô la, hay tái cấu trúc của trật tự Trung Đông truyền thống, tất cả đều khẳng định thời đại mà chúng ta quen thuộc 80 năm nay đã triệt để chấm dứt. Chúng ta không cần thiết phải có sự dao động về cảm xúc cho sự xuất hiện của thời khắc này, bởi vì đây chính là tiến trình phát triển bình thường của lịch sử.
Thế giới trong trật tự toàn cầu của kỷ nguyên hậu Mỹ sẽ tàn khốc và trần trụi hơn. Tất cả đều phải tự lo liệu cho bản thân mình.
4. Những bài học sinh tử cho Việt Nam.
4.1. Bản chất của sự suy tàn: "Căn bệnh Hà Lan" ở cấp độ Đế quốc
4.1. Bản chất của sự suy tàn: "Căn bệnh Hà Lan" ở cấp độ Đế quốc
Dưới góc độ kinh tế học, nước Mỹ đang mắc "Căn bệnh Hà Lan" (Dutch Disease) ở quy mô toàn cầu. Việc phát hành đồng USD (xuất khẩu tài nguyên tài chính) quá dễ dàng và trở nên giầu có đã giết chết khu vực sản xuất thực tế (manufacturing sector) của chính họ.
Hệ quả: Phố Wall (tài chính) bóp nghẹt Main Street (sản xuất). Các tập đoàn quân sự (như Lockheed Martin, Boeing) không còn muốn đầu tư vào "năng lực dự phòng" (surge capacity) vì nó làm giảm tỷ suất lợi nhuận cho cổ đông.
Điểm then chốt chí mạng: Khi "sức mạnh cứng" (quân sự) mất đi "sức mạnh mềm" nội tại (năng lực sản xuất công nghiệp và chuỗi cung ứng tự chủ), thì hệ thống trừng phạt tài chính (SWIFT, USD) của Mỹ mất đi bệ đỡ vật lý; tức là sức mạnh quân sự không còn là bảo chứng tuyệt đối cho sức mạnh tài chính. Chư hầu khi đó sẽ nổi loạn.
4.2. Bài học về "Kinh tế thực thể" - Xương sống của năng lực tự cường quốc gia
Sự sụp đổ của nước Mỹ cho thấy một bài học sinh tử mà Việt Nam không được phép quên: Tài chính chỉ là huyết mạch, còn Công nghiệp thực thể mới là xương sống. Một quốc gia không thể dùng "tiền ảo" (derivatives, financialization) để đúc ra đạn pháo, đóng tàu sân bay hay sản xuất chip bán dẫn.
Trong suốt thập kỷ qua, Việt Nam đã chứng kiến sự bùng nổ của thị trường bất động sản, tài chính chứng khoán và các mô hình kinh doanh dựa trên đòn bẩy tài chính. Bong bóng bất động sản tại các khu đô thị lớn, sự đầu cơ đất nền ở các vùng ven, và làn sóng "chứng khoán hóa" mọi tài sản đã tạo ra ảo tưởng về sự giàu có nhanh chóng. Nhưng khi khủng hoảng xảy ra, những "tài sản ảo" đó không thể chuyển hóa thành năng lực sản xuất thực tế.
Bài học cốt lõi: Việt Nam phải kiên quyết thực hiện chiến lược rời bỏ các hoạt động kinh tế ảo, đầu cơ để hướng về xây dựng nền kinh tế thực thể vững chắc.
Điều này có nghĩa là:
- Thứ nhất: Không hy sinh công nghiệp nền tảng cho lợi ích ngắn hạn: Chúng ta không được để bong bóng bất động sản và tài chính ảo nuốt chửng khu vực sản xuất. Dù phải trả giá bằng sự tăng trưởng chậm lại trong ngắn hạn, nhưng đây chính là sự "hy sinh lợi ích ngắn hạn để mua vé bảo hiểm cho 20 năm tới".
- Thứ hai: Đầu tư vào công nghiệp chế tạo chế tác (manufacturing) và công nghiệp hỗ trợ: Một quốc gia muốn có "Sức mạnh mềm" trong thời loạn, trước tiên phải có "Sức mạnh cứng" từ nền tảng sản xuất, công nghiệp chế tạo và sự tự chủ về chuỗi cung ứng lõi. Việt Nam cần tập trung vào các ngành công nghiệp có giá trị gia tăng cao: cơ khí chính xác, điện tử, năng lượng sạch, vật liệu mới.
- Thứ ba: Thúc đẩy, gia tăng mạnh mẽ năng lực (surge capacity) cho nền kinh tế: Giống như bài học từ Mỹ, khi khủng hoảng xảy ra, năng lực sản xuất không thể mở rộng ngay lập tức. Việt Nam cần duy trì một mức độ "dư thừa có kiểm soát" trong các ngành công nghiệp then chốt, để khi cần có thể chuyển hóa nhanh chóng từ sản xuất dân sự sang quốc phòng, hoặc từ thị trường này sang thị trường khác.
4.3. Chiến lược "Cây tre kinh tế" - Sinh tồn trong kỷ nguyên đa cực phân mảnh
Việt Nam, một quốc gia có quy mô trung bình, không thể chỉ dựa vào "ngoại giao cây tre" về mặt khẩu hiệu, mà phải xây dựng "Cây tre kinh tế", tức là một nền kinh tế có gốc rễ sâu, thân tre dẻo dai và khả năng thích ứng linh hoạt.
Ba trụ cột chiến lược chắc chắn phải có:
- Thứ nhất: Tuyệt đối không để mắc "Căn bệnh Hà Lan" phiên bản Việt Nam.
Chúng ta không được để FDI chỉ dừng lại ở gia công lắp ráp (tạo ra bong bóng bất động sản khu công nghiệp và làm cạn kiệt tài nguyên nhân công giá rẻ), trong khi để khu vực kinh tế tư nhân nội địa và công nghiệp nền tảng bị "rỗng tuếch".
Chính sách ưu đãi thuế, sandbox quản lý phải được thiết kế để buộc dòng vốn FDI phải chuyển giao công nghệ lõi và kết nối ngược (backward linkage) với doanh nghiệp nội. Nếu không, khi chuỗi cung ứng toàn cầu đứt gãy, Việt Nam sẽ trở thành "đống sắt vụn" như tác giả bài viết gốc đã mô tả - có bản vẽ thiết kế nhưng không thể tự sản xuất được linh kiện then chốt.
- Thứ hai: Xây dựng "Thực lực kinh tế tự chủ" làm nền tảng cho ngoại giao.
Các nước nhỏ sống được trong thời loạn là vì họ biết nắm giữ các tuyến đường thương mại hoặc có nghề thủ công đặc thù. Iran cũng nhờ thế mà thắng Mỹ. Việt Nam muốn "luồn lách" giữa Mỹ - Trung - Âu trong kỷ nguyên Hậu Mỹ, thì phải trở thành mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Điều này có nghĩa là tập trung vào các lĩnh vực mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh và có thể đạt được vị trí then chốt, ví dụ:
+ Trung tâm logistics trung chuyển: Tận dụng vị trí địa chiến lược trên Biển Đông, xây dựng hệ thống cảng biển, kho bãi và dịch vụ logistics đạt chuẩn quốc tế.
+ Sản xuất linh kiện bán dẫn và điện tử: Không chỉ lắp ráp, mà phải tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi cung ứng bán dẫn.
+ Năng lượng sạch và công nghệ xanh: Trở thành trung tâm sản xuất pin mặt trời, turbine gió, và các thiết bị năng lượng tái tạo cho khu vực.
Thực lực kinh tế nội tại là điều kiện tiên quyết để ngoại giao có hiệu lực. Nếu nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài, "cây tre" sẽ gãy đổ trước gió bão.
- Thứ ba: Chuẩn bị cho sự phân mảnh của hệ thống tài chính toàn cầu.
Khi "đế quốc" rút lui, hệ thống thanh toán sẽ phân mảnh. Việt Nam cần đi trước một bước trong việc:
Thực lực kinh tế nội tại là điều kiện tiên quyết để ngoại giao có hiệu lực. Nếu nền kinh tế phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài, "cây tre" sẽ gãy đổ trước gió bão.
- Thứ ba: Chuẩn bị cho sự phân mảnh của hệ thống tài chính toàn cầu.
Khi "đế quốc" rút lui, hệ thống thanh toán sẽ phân mảnh. Việt Nam cần đi trước một bước trong việc:
- Đa dạng hóa dự trữ ngoại hối: Không phụ thuộc quá mức vào USD, mà tăng cường nắm giữ các đồng tiền mạnh khác (EUR, JPY, CNY) và vàng.
- Đẩy mạnh thanh toán song phương bằng nội tệ: Với các đối tác lớn (Trung Quốc, Nga, ASEAN, Trung Đông), giảm sự phụ thuộc vào hệ thống SWIFT và USD.
- Xây dựng hạ tầng số độc lập: Phát triển hệ thống thanh toán số, ví điện tử và hạ tầng fintech đủ mạnh để không bị "rút phích cắm" khỏi hệ thống tài chính phương Tây nếu có biến cố.
5. KẾT LUẬN
5. KẾT LUẬN
Bản ghi nhớ Mỹ - Iran ngày 18/6/2026 không chỉ là một thỏa thuận địa chính trị, mà là tuyên cáo khai tử cho trật tự thế giới đơn cực mà chúng ta đã quen thuộc trong suốt 80 năm qua. Thế giới chính thức bước vào "Kỷ nguyên Hậu Mỹ": một thời đại đa cực, phân mảnh và đầy rẫy những cuộc cạnh tranh khốc liệt.
Bài học lớn nhất mà sự suy tàn của nước Mỹ để lại cho Việt Nam không phải là niềm vui chiến thắng hay sự hả hê trước thất bại của đối thủ, mà là sự cảnh tỉnh sâu sắc về bản chất của sức mạnh quốc gia trong thời đại mới.
Chúng ta đã chứng kiến một siêu cường với quân đội hùng mạnh nhất, đồng tiền dự trữ số một thế giới, nhưng lại sụp đổ vì "Căn bệnh Hà Lan" ở cấp độ đế quốc vì để tài chính ảo bóp nghẹt sản xuất thực, vì để Phố Wall chiến thắng Main Street. Khi "sức mạnh cứng" mất đi nền tảng vật chất là năng lực sản xuất công nghiệp, thì toàn bộ hệ thống bá quyền sẽ sụp đổ như một lâu đài xây trên cát.
Việt Nam đứng trước ngã rẽ lịch sử. Chúng ta có thể chọn con đường dễ dàng: tiếp tục dựa vào FDI gia công, để bất động sản và chứng khoán tạo ra ảo tưởng giàu có, và hy vọng các cường quốc sẽ tiếp tục không đụng chạm tới chúng ta.
Hoặc chúng ta có thể chọn con đường khó khăn hơn nhưng bền vững hơn: xây dựng nền kinh tế thực thể vững chắc, tự chủ về công nghiệp và công nghệ, trở thành mắt xích không thể thay thế trong chuỗi cung ứng toàn cầu.
Trong thời loạn, chỉ có năng lực sản xuất thực thể (real economy) và sự tự chủ về công nghệ - công nghiệp mới là "Sức mạnh mềm" cứng rắn nhất. Không có nền công nghiệp chế tạo chế tác làm bệ đỡ, mọi mô hình kinh tế số, mọi ảo vọng về "đi tắt đón đầu" đều chỉ là lâu đài trên cát.
Thế giới đã bước vào kỷ nguyên "tự lo liệu". Đã đến lúc Việt Nam phải tự lo liệu cho chính mình, không phải bằng những khẩu hiệu ngoại giao hoa mỹ, mà bằng thực lực kinh tế nội tại, bằng khả năng tự sản xuất, tự đổi mới và tự bảo vệ mình trước những cơn gió bão của thời đại mới.
Đó không phải là sự lựa chọn, mà là điều kiện sinh tồn trong kỷ nguyên hậu Mỹ.
https://vietnamnet.vn/toan-van-thoa-thuan-14-diem-giua-my-iran-nham-cham-dut-xung-dot-2526898.html
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét