DÂN SỐ TỐI ƯU ?
Việt Nam đang đứng trước một "cái bẫy" cực kỳ nguy hiểm. Việt Nam vừa cán mốc 100 triệu dân, nhưng tỷ lệ sinh đang sụt giảm nghiêm trọng ở các đầu tàu kinh tế (TP.HCM, Hà Nội, Đông Nam Bộ). Nếu chúng ta ảo tưởng rằng "ít dân thì bớt tắc đường, bớt cạnh tranh tài nguyên" theo tư duy Malthus tĩnh tại, chúng ta sẽ mất đi động lực cốt lõi cho mục tiêu tăng trưởng GDP hai con số và khát vọng hóa rồng.Gần đây, đọc những phân tích của một số chuyên gia nhân khẩu học trên thế giới về "Quy mô dân số tối ưu", tôi chợt nghĩ đến câu chuyện của Việt Nam. Trước đây có không ít người cho rằng: "dân số đông làm Việt Nam quá tải, tài nguyên cạn kiệt, nếu giảm bớt đi thì xã hội sẽ bớt căng thẳng và kinh tế, đời sống sẽ tốt hơn". Thời thực hiện chính sách kế hoạch hóa gia đình, chúng ta đã có tư duy chính xác như thế. Bên Trung Quốc còn xiết chặt hơn với chính sách mỗi gia đình chỉ được phép sinh 1 con, kém xa tỷ lệ sinh thay thế là 2,1 con.
Dưới góc độ kinh tế chính trị và quy luật phát triển, tôi xin khẳng định: Đây là một tư duy "ngụy khoa học" và cực kỳ nguy hiểm cho khát vọng trở thành nước phát triển thu nhập cao của Việt Nam.
Trước hết chúng ta hãy điểm lại quan điểm của một số chuyên gia Việt Nam về "dân số tối ưu" hiện nay. GS.TS Nguyễn Đình Cử (nguyên Viện trưởng Viện Dân số và các vấn đề xã hội, ĐH Kinh tế Quốc dân) - chuyên gia dân số hàng đầu Việt Nam ủng hộ việc trao quyền tự quyết số con cho các cặp vợ chồng, vì phù hợp với Hiến pháp và Công ước CEDAW mà Việt Nam đã ký kết. Ông nhấn mạnh: "Hơn một nửa thế kỷ qua chúng ta đẩy mạnh kế hoạch hóa gia đình, mô hình 2 con trở nên phổ biến và người dân thấy rõ lợi ích. Vì thế, chúng ta cần trao quyền quyết định số con cho các cặp vợ chồng".
Tuy nhiên, thực tế đã cảnh báo về nguy cơ mức sinh thấp. Chính GS cũng thừa nhận: "Quan trọng nhất là 10 năm qua nước ta đã đạt được mức sinh thấp - như năm 2014 là 2,09, trong khi đó tác động của mức sinh thấp đến kinh tế - xã hội là rất dữ dội". Vì vậy, chủ trương chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hóa gia đình sang "dân số và phát triển" phải được xem là một cuộc cách mạng trong tư duy chính sách.
GS. Nguyễn Thiện Nhân (Đoàn ĐBQH TP.HCM) khẳng định về quy mô dân số: "Nếu không đạt được quy mô dân số như hiện nay (hơn 100 triệu người) thì chúng ta sẽ thiếu lao động, thiếu nhân lực và không thể phát triển". Vì thế Luật Dân số là "cơ hội kim cương" để quyết định vận mệnh tương lai đất nước 50-100 năm nữa.
Nhìn chung, có một điểm chung trong tư duy của các chuyên gia Việt Nam là không có con số "dân số tối ưu" cố định như một số chuyên gia nhân khẩu học trên thế giới quan niệm, nhưng 100 triệu dân hoặc hơn một chút được coi là lợi thế chiến lược, chứ không phải gánh nặng cho sự phát triển.
Đặc biệt mức sinh thay thế 2,1 con/phụ nữ là ngưỡng sinh tử, thấp dưới ngưỡng này là báo động đỏ. Vì vậy Việt Nam đang ở ngã rẽ lịch sử: hoặc nắm lấy "cơ cấu dân số vàng" để hóa rồng, hoặc rơi vào bẫy "chưa giàu đã già" như một số quốc gia xung quanh chúng ta.
2. BA LUẬN ĐIỂM CỐT LÕI VỀ NHÂN KHẨU HỌC RẤT QUAN TRỌNG VỚI VIỆT NAM
2.1. Cái bẫy của tư duy Malthus và "Quy mô tối ưu"
Chúng ta đều biết dân số ở các nước công nghiệp phát triển thường ổn định, thậm chí số người dân bản xứ ở đó có xu hướng giảm đi, và họ đã phải dùng chính sách thu hút dân số nước ngoài nhập cư để bù đắp. Căn cứ vào đó, một số chuyên gia nhân khẩu học trên thế giới đã dùng các giả định tĩnh (như tài nguyên cố định, công nghệ không đổi...) để tính ra một con số "dân số lý tưởng".
200 năm trước, Thomas Malthus sợ dân số thế giới tăng theo cấp số nhân trong khi của cải tăng theo cấp số cộng thì hàng tỷ người sẽ chết đói. Thực tế trong 200 năm qua, dân số thế giới từ khoảng 1 tỷ người đã tăng lên 8 tỷ người, nhưng so với thời điểm đó, chúng ta không chỉ sống lâu hơn và ăn ngon hơn, mà trình độ công nghệ và điều kiện sống của chúng ta cũng vượt trội hơn rất nhiều.
Nếu nhìn lại từ góc độ của Malthus, thật khó để tưởng tượng thảm họa sẽ như thế nào nếu nhân loại thực sự tăng lên đến 8 tỷ người.
Bài học cho Việt Nam: Đừng nhìn 100 triệu dân dưới lăng kính "cơ học" (tắc đường, ô nhiễm, thiếu đất). Trong kỷ nguyên AI và kinh tế số (như bài phân tích về AI hôm trước tôi đã chia sẻ), dân số chính là DỮ LIỆU. 100 triệu dân tạo ra một "hệ dữ liệu" khổng lồ để huấn luyện AI, tạo ra lợi thế quy mô (scale economy) mà không một quốc gia nhỏ bé nào có được. Dân số đông và trẻ chính là động lực nội sinh thúc đẩy đổi mới sáng tạo và phát triển.
2.2. Nguy cơ "Chưa kịp giàu đã già" và Sự co rút của thị trường nội địa
Chúng ta không thể dự đoán chính xác 300 năm nữa dân số bao nhiêu là đẹp, nhưng ở thì hiện tại, một quốc gia đang phát triển như Việt Nam mà để dân số sụt giảm nhanh thì sẽ là một thảm họa kinh tế.
Thực tế, tỷ lệ sinh tại TP.HCM và Hà Nội đang rớt xuống mức báo động (dưới 1.4 con/phụ nữ). Nếu chúng ta để dân số già hóa và co rút nhanh trước năm 2045 thì hậu quả:
- Lực lượng lao động co lại, chi phí nhân công tăng vọt, mất lợi thế thu hút FDI thế hệ mới.
- Thị trường nội địa 100 triệu dân bị teo tóp, làm mất đi "đòn bẩy" để các tập đoàn Việt Nam (như VinFast, Viettel, FPT) vươn ra toàn cầu.
- Gánh nặng an sinh xã hội đè nát ngân sách, triệt tiêu mọi cơ hội đầu tư cho hạ tầng và công nghệ.
2.3. Dân số là biến số sống còn cho mục tiêu tăng trưởng hai con số
Muốn tăng trưởng hai con số, Việt Nam không thể chỉ dựa vào xuất khẩu hay tài nguyên. Việt Nam cần một thị trường nội địa khổng lồ để hấp thụ sản phẩm, cần một lực lượng kỹ sư đông đảo để chuyển dịch sang kinh tế số và xanh. Một dân số ổn định ở mức 100-120 triệu người trong thế kỷ 21 sẽ là nhân tố rất quyết định để biến mơ ước thành hiện thực vì nhờ đó, Việt Nam mới có lợi thế cạnh tranh quốc gia tuyệt đối so với các đối thủ trong khu vực đang già hóa nhanh hơn.
Tóm lại, khi bạn giả định về "dân số tối ưu" hoặc "dân số trung bình" ổn định trong tương lai, bạn chỉ có thể nhìn vào những gì sẽ xảy ra trong tương lai dựa trên trình độ công nghệ tại thời điểm hiện tại. Điều này thực chất là sai, bởi vì khi dân số tăng lên và nhu cầu tăng, bản thân chúng sẽ thúc đẩy tiến bộ công nghệ, và tiến bộ công nghệ này có thể thay đổi rất nhanh.
Do đó, chúng ta không bao giờ có thể nói chính xác quy mô dân số nào là tốt nhất cho một quốc gia hay khu vực ở bất kỳ thời điểm nào trong tương lai. Đơn giản vì chúng ta không thể dự đoán chính xác tương lai. Nhưng chúng ta có thể nói gì? Dựa trên kiến thức và sự hiểu biết hiện tại về kinh tế và công nghệ, chúng ta chỉ có thể nói về hiện tại, liệu hiện tại nên có nhiều hay ít người hơn.
Dựa trên nghiên cứu của chúng tôi trong nhiều năm qua, chúng tôi có thể khẳng định chắc chắn rằng việc có hơn 100 triệu người thực sự là một điều rất tốt cho Việt Nam. Tuy nhiên, nếu để dân số giảm nhanh chóng, thì tôi tin rằng sự phát triển kinh tế và xã hội tổng thể của Việt Nam sẽ tồi tệ hơn so với điều kiện dân số tương đối ổn định ở mức trên 100 triệu người.
Dựa trên điều kiện sống hiện tại, chúng ta có thể suy đoán về những vấn đề mà việc giảm dân số sẽ gây ra, hoặc liệu dân số tăng nhẹ có tốt hơn không. Nhưng xét về mặt triết học, xã hội loài người về cơ bản vẫn đang mò mẫm tìm đường tiến lên, cũng giống như cách đây 200 năm chúng ta không thể tưởng tượng được cuộc sống ngày nay, chúng ta cũng không thể tưởng tượng được cuộc sống sẽ như thế nào trong 200 hay 300 năm nữa. Tuy nhiên có thể khẳng định chắc chắn rằng nếu dân số giảm mạnh so với hiện nay đang có, thì nhân loại sẽ không khá hơn so với trường hợp dân số ổn định hoặc tăng trưởng.
3. KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH: TỪ "KẾ HỌACH HÓA" SANG "KIẾN TẠO NHÂN KHẨU"
Thay vì để nhân khẩu học trượt dốc theo tự nhiên theo đà giảm tỷ lệ sinh hiện nay, Nhà nước cần có những can thiệp chiến lược thích ứng với văn hóa Việt Nam. Dưới đây là một số ví dụ về chính sách.
3.1. Nhóm giải pháp Ngắn hạn:
- Chính sách tài khóa trực tiếp: Áp dụng giảm trừ gia cảnh đột biến và miễn giảm thuế thu nhập cá nhân (PIT) trong 5-10 năm cho các gia đình sinh con thứ 2, thứ 3.
- Trợ cấp "Hạ tầng nuôi dạy trẻ": Ngân sách nhà nước cần chuyển dịch mạnh sang trợ cấp trực tiếp cho chi phí giữ trẻ 0-36 tháng tuổi. Đưa định mức nuôi con nhỏ vào tính chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế của cá nhân hoặc doanh nghiệp.
- Tuyên truyền lại hệ giá trị: Chuyển hoàn toàn thông điệp từ "Mỗi cặp vợ chồng nên sinh đủ 2 con" sang "Gia đình đông con là tài sản, là sức mạnh quốc gia".
3.2. Nhóm giải pháp Dài hạn (Tầm nhìn 20 năm đến 2045):
- Thể chế hóa "Kinh tế Bạc" (Silver Economy) chủ động: Không coi người già là gánh nặng. Xây dựng các chính sách khuyến khích người cao tuổi tham gia vào các chuỗi giá trị số, tư vấn, và dịch vụ chăm sóc sức khỏe công nghệ cao.
- Quy hoạch không gian và hạ tầng thân thiện với gia đình: Bắt buộc các khu đô thị mới, khu công nghiệp phải dành tối thiểu 15-20% diện tích cho trường học, cơ sở y tế và không gian vui chơi trẻ em. Gắn trách nhiệm này với cấp phép đầu tư bất động sản.
- Thích ứng bằng AI và Tự động hóa: Vì chúng ta không thể đảo ngược ngay xu hướng già hóa, nên bắt buộc phải dùng AI và robot để bù đắp sự thiếu hụt lao động chân tay (như bài toán "bệnh Hà Lan" và tự động hóa tôi đã nghiên cứu). Đẩy mạnh đào tạo lại kỹ năng cho lực lượng lao động để làm chủ các nhà máy thông minh.
4. Kết luận
Không sợ 100 triệu dân chen chúc gây nghèo đói và ô nhiễm. Hãy sợ một Việt Nam ít người nhưng có quá nhiều người già, thiếu sức sống để dám mạnh mẽ đổi mới sáng tạo. Hãy sợ một Việt Nam mất đi lợi thế quy mô trước khi kịp bước lên ngưỡng thu nhập cao.
Con người không phải là gánh nặng của trái đất, con người là chủ thể kiến tạo nên mọi phép màu của công nghệ và thịnh vượng!
Con người không phải là gánh nặng của trái đất, con người là chủ thể kiến tạo nên mọi phép màu của công nghệ và thịnh vượng!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét