Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương bị cuốn vào cuồng phong đấu tố
BBC vừa có một bài nhan đề "Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương bị cuốn vào cuồng phong đấu tố". Đọc xong tôi rất buồn. Từ ngày nhà nước có nghị định 174 tôi hầu như không đọc tin trên báo nhà nước vì đọc xong muốn chia sẻ, trích dẫn rồi bình luận thì bị phạt rất nặng, vậy thì đọc để làm gì ?
Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương
Vì vậy tôi chỉ đọc tin tên báo thế giới, nhất là những báo đưa tin khách quan, trung tính như BBC. Đọc BBC mới biết cả Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương cũng bị cuốn vào cuồng phong đấu tố. Cứ thế này thì đến bao giờ đất nước mới hòa giải, hòa hợp, dân tộc mới đoàn kết ?
Hơn 50 năm thống nhất đã trôi qua, trong khi thế giới phát triển ầm ầm, chúng ta không lo phát triển, cứ ngấm ngầm và công khai đấu tố nhau, đấu tố cả những nhân vật lịch sử, thì đến bao giờ đất nước mới sánh vai được với các cường quốc năm châu như bác Hồ hằng mong ước ?
Theo tôi, trong bất kỳ xã hội nào, lịch sử cũng dễ trở thành chủ đề cảm xúc hơn là học thuật. Khi một nhân vật lịch sử chỉ được phép ca ngợi hoặc chỉ được phép lên án, không gian nghiên cứu sẽ bị thu hẹp, xã hội sẽ bị phân mảnh, thiếu đoàn kết gắn bó. Điều mà khoa học lịch sử cần là chứng cứ, bối cảnh và tranh luận dựa trên tư liệu, chứ không phải những nhãn mác dành cho người có quan điểm khác mình.
Điều đáng suy ngẫm nhất không phải là Bảo Đại hay Nam Phương đúng bao nhiêu, sai bao nhiêu, mà là chúng ta nên đánh giá lịch sử bằng phương pháp nào. Lịch sử của bất kỳ dân tộc nào cũng không có những con người hoàn mỹ, cũng không có những nhân vật chỉ toàn tội lỗi.
Điều đáng suy ngẫm nhất không phải là Bảo Đại hay Nam Phương đúng bao nhiêu, sai bao nhiêu, mà là chúng ta nên đánh giá lịch sử bằng phương pháp nào. Lịch sử của bất kỳ dân tộc nào cũng không có những con người hoàn mỹ, cũng không có những nhân vật chỉ toàn tội lỗi.
Ngay cả Trung Quốc, nơi từng thần thánh hóa Mao Trạch Đông, cũng đã phải nhìn lại và sửa lỗi đánh giá. Năm 1981, dưới thời Đặng Tiểu Bình, Đảng cộng sản Trung Quốc thông qua "Nghị quyết về một số vấn đề trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc kể từ khi thành lập nước CHND Trung Hoa", theo tinh thần lịch sử khách quan, đã chính thức khẳng định Mao Trạch Đông có công lao rất lớn trong việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhưng cũng mắc những sai lầm nghiêm trọng, đặc biệt trong Đại Nhảy Vọt và Cách mạng Văn hóa. Cách nhìn ấy thường được tóm gọn bằng câu "bảy phần công, ba phần sai".
Điều đáng học không phải là con số 7 hay 3, mà là dũng khí thừa nhận một nhân vật lịch sử có thể vừa có công, vừa có lỗi, rồi chấp nhận họ. Trường hợp Mao là như thế; dù có lỗi 3 phần, nhưng ảnh ông ta vẫn được sử dụng khắp nơi, vẫn được in lên tiền... Chỉ khi vượt qua tư duy thần thánh hóa hoặc phủ định sạch trơn, xã hội mới có thể giải phóng nhận thức để hướng tới tương lai. Nhờ nhìn nhận lịch sử một cách biện chứng, Trung Quốc đã giải phóng tư duy, chấm dứt những tranh cãi cực đoan về quá khứ để đoàn kết dân tộc, tập trung vào cải cách và phát triển đất nước.
Nếu áp dụng cách tiếp cận đó đối với triều Nguyễn, thì việc nghiên cứu không nên bắt đầu bằng câu hỏi "nhà Nguyễn là công hay tội", mà nên hỏi: họ đã đóng góp gì cho quốc gia, họ đã mắc những sai lầm gì, những sai lầm ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử nào, và hành động của họ có thể được coi là hợp lý nhất trong hoàn cảnh đó không ? Gia Long thống nhất đất nước là một sự kiện lịch sử không thể phủ nhận; Minh Mạng hoàn thiện bộ máy hành chính, xác lập chủ quyền biển đảo cũng là những sự kiện có thật; nhưng việc triều đình để đất nước rơi vào ách thuộc địa trong thế kỷ XIX cũng là một thực tế lịch sử cần được phân tích nghiêm túc.
Nếu áp dụng cách tiếp cận đó đối với triều Nguyễn, thì việc nghiên cứu không nên bắt đầu bằng câu hỏi "nhà Nguyễn là công hay tội", mà nên hỏi: họ đã đóng góp gì cho quốc gia, họ đã mắc những sai lầm gì, những sai lầm ấy xuất phát từ hoàn cảnh lịch sử nào, và hành động của họ có thể được coi là hợp lý nhất trong hoàn cảnh đó không ? Gia Long thống nhất đất nước là một sự kiện lịch sử không thể phủ nhận; Minh Mạng hoàn thiện bộ máy hành chính, xác lập chủ quyền biển đảo cũng là những sự kiện có thật; nhưng việc triều đình để đất nước rơi vào ách thuộc địa trong thế kỷ XIX cũng là một thực tế lịch sử cần được phân tích nghiêm túc.
Việc nhìn nhận cả hai mặt không làm giảm giá trị lịch sử của họ mà giúp xã hội có cách hiểu trưởng thành hơn về quá khứ. Chỉ khi nhìn nhận đầy đủ cả hai mặt, chúng ta mới có thể rút ra bài học đúng đắn, mà hai phía đều chấp nhận được, thay vì biến lịch sử thành đấu trường giữa hai phía để quyết định những người luôn luôn "đúng tuyệt đối" và những người luôn luôn "sai tuyệt đối", rồi càng ngày càng mất đoàn kết.
Dưới đây là bài của BBC
BBC 22/7 - Lai căng, bù nhìn, con rối cho phương Tây,... những tranh cãi về vị vua cuối cùng của Việt Nam một lần nữa xôn xao trở lại.
Khi dự án phim điện ảnh Hoàng hậu cuối cùng được công bố, những tranh cãi ban đầu chỉ xoay xung quanh phục trang, lời thoại và một số chi tiết bất hợp lý trong trailer.
Nhưng khi dự án càng được lan tỏa trên mạng xã hội, tâm điểm tranh cãi không còn dừng lại ở khâu sản xuất phim mà dần rẽ sang cuộc đời nhân vật, cụ thể là Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương, hay rộng hơn, là nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.
Những người chỉ trích, điển hình như tài khoản facebook Phuong Nguyen với hơn 29.000 người theo dõi, cho rằng câu chuyện giữa Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương đang được lãng mạn hóa và "tẩy trắng".
Họ đánh giá Bảo Đại là vị vua bù nhìn, được thực dân Pháp đào tạo từ nhỏ và hoàn toàn bất lực trên ngai vàng với những cải cách chỉ mang tính nghi lễ bề ngoài.
Thậm chí, ông còn bị cho là chỉ lo hưởng lạc, ru rú ở các khu nghỉ dưỡng nước Pháp, và thậm chí còn bán chác ấn tín, bảo vật tổ tông để vơ vét tài chính trong bối cảnh đất nước đang chiến tranh.
Người vợ của ông cũng không thoát khỏi cơn sóng đấu tố cuồng nộ và cuộc hôn nhân giữa họ bị xem là "sắp đặt".
Vị hoàng hậu cuối của thời đại phong kiến Việt Nam bị cho là bóng mờ ngoại lai. Bên chỉ trích lý luận rằng bà sinh ra từ đặc quyền bóc lột, bước lên ngôi hậu nhờ sự sắp đặt của thực dân.
Cũng theo họ, cách ăn mặc sang trọng của Nam Phương là biểu hiện của sự "vô cảm trước vận mệnh dân tộc" và rằng cả tư duy lẫn lối sống của bà hoàn toàn thuộc về Pháp, không mang hồn cốt hay sự gắn kết nào với đời sống nhân dân.
Bài viết từ tài khoản Katherine Bui, với gần 25.000 lượt tương tác, cho rằng cuộc hôn nhân này là sự kết hợp giữa một "thằng cha bất tài bán nước hội tụ đủ thứ thói hư tật xấu và một cô tiểu thư con nhà giàu ngu ngơ học hết cấp 3".
Mở rộng hơn, tài khoản này kết luận "hàng triệu cái vong hồn của người dân mất nước" vẫn sẽ theo dòng họ Nguyễn Phúc mãi mãi và không thể nào được "tẩy trắng".

Cựu Hoàng Bảo Đại (phải) ngồi cạnh ông Hồ Chí Minh sau khi thoái vị vào tháng 8/1945 để trao quyền cho Việt Minh
Đáp lại, không ít người lên tiếng bảo vệ vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Một số ý kiến chỉ ra ông chỉ là nạn nhân của thời đại khi lên ngôi trong một triều đình đã mất thực quyền, bị bủa vây giữa bộ máy thực dân, làn sóng cách mạng và những biến động quốc tế quá lớn so với tầm vóc của một cá nhân.
Thậm chí, ông phần nào được ghi nhận có công trong việc buộc Pháp phải công nhận nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả sự trả lại Nam Kỳ.
Khi đảm nhận vai trò quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam, ông đã đạt được thỏa thuận với Pháp về thống nhất ba kỳ – vốn là điều mà các bản hiệp định sơ bộ trước đó chưa thực hiện được – vào năm 1949 thông qua Hiệp định Élysée.
Trên thực tế, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh công lao của Bảo Đại đối với chủ quyền Việt Nam, như một bài viết trên Liên minh các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) chỉ ra rằng ông có đóng góp về pháp lý quốc tế trong việc khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1951, Bảo Đại đã cử phái đoàn Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Trần Văn Hữu dẫn đầu tham dự Hội nghị Hòa bình San Francisco. Tại đây, ngày 7/9/1951, phái đoàn đã long trọng tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trước 51 quốc gia mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào.
Hoặc khi còn ngồi trên ngai vàng, ông được ghi nhận rộng rãi là đã có những cải tổ hệ thống hành chính và nội chính, đồng thời mạnh dạn xóa bỏ những tập tục phong kiến rườm rà.
Dấu mốc nổi bật lúc trị vì của Bảo Đại chính là cuộc cải tổ nhân sự cấp thượng thư (tương đương bộ trưởng) vào năm 1933. Ông đã ra quyết định bãi chức 5 vị đại thần già yếu, thủ cựu và uyên thâm Nho học để thay bằng 5 trí thức trẻ trung, có tư duy hiện đại.
Còn về người vợ đầu của ông, Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, trong một bài viết đăng trên tạp chí Tia Sáng gần đây, chỉ ra sự gần gũi, quý mến mà người miền Nam dành cho Nam Phương Hoàng hậu không xuất phát từ địa vị vương giả xứ Huế, mà từ sự trân trọng một mẫu hình phụ nữ biết dung hòa đức tin, ứng xử khéo léo và giữ trọn lòng tự trọng trước những biến động lớn của thời cuộc.
Câu chuyện về Nam Phương Hoàng hậu trong ký ức cộng đồng ít khi gắn liền với quyền lực triều chính, mà là hình ảnh của một cô gái Gò Công học giỏi tại Pháp nhưng luôn khiêm nhường; một người vợ nền nã, ứng xử mực thước chưa từng gây chuyện ghen tuông trước người chồng hoàng đế đào hoa; và cuối cùng là một người mẹ lặng lẽ, kiên cường nuôi dạy các con sau khi hôn nhân tan vỡ.
Sự xuất hiện của bà phản ánh một thế hệ phụ nữ Nam Bộ đặc biệt: biết ngoại ngữ, đi du học, điều hành doanh nghiệp và tự tin khẳng định vị thế bình đẳng với nam giới trong không gian công cộng, Tiến sĩ Hậu kết luận.

Triều đình nhà Nguyễn, dù đã kết thúc khi Bảo Đại thoái vị cách đây hơn 80 năm, đến nay vẫn là chủ đề nhạy cảm trong xã hội Việt Nam.
Việc lên án triều đại này vốn đã diễn ra trong hàng chục năm qua, bao gồm diễn ngôn chính thức của chính quyền – nay lại bùng phát mạnh hơn khi bộ phim Hoàng hậu cuối cùng được giới thiệu và giữa lúc cơn bão "đấu tố" đang càn quét trên khắp mạng xã hội.
Trước đây từng có những dự án nghệ thuật liên quan đến Bảo Đại-Nam Phương, như phim truyền hình Ngọn nến hoàng cung vào năm 2004 hay MV ca khúc Không thể cùng nhau suốt kiếp của Hòa Minzy vào năm 2020, nhưng không ghi nhận mức độ chỉ trích như hiện nay.
Các tài liệu lịch sử chính thống ở Việt Nam vốn phê phán nhà Nguyễn nhiều hơn là ngợi ca, thường cho rằng Gia Long "cõng rắn cắn gà nhà" khi cầu viện ngoại bang trong cuộc chiến với Tây Sơn; và các vua khác "thỏa hiệp" với Pháp, khiến đất nước bị đô hộ.
Những diễn ngôn tích cực về triều đại phong kiến này – đặc biệt là với những nhân vật như Gia Long (Nguyễn Ánh), Tả quân Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản – đều có thể dễ dàng bị quy chụp là "lật sử".
Đầu năm 2022, Ban Tuyên giáo Trung ương từng ra chỉ thị cấm các địa phương dùng tên của Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký để đặt cho đường phố hoặc các công trình công cộng, với lý do đây là những nhân vật còn nhiều đánh giá trái chiều về mặt lịch sử và chưa thỏa mãn tiêu chuẩn "có đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc".
Tuy vậy, báo Nhân Dân từng có bài viết tôn vinh Trương Vĩnh Ký là người đặt nền móng cho báo chí Quốc ngữ Việt Nam.
Hay gần trung tâm TP HCM có một con đường mang tên Lê Văn Duyệt, với lăng của vị tả quân nằm tại đó – mà người dân gọi với tên gần gũi là Lăng Ông.
Các cuốn sách về nỗi oan của Phan Thanh Giản cũng như đóng góp về văn hóa của Phạm Quỳnh đã được phát hành trong nước.
Dù không được ca ngợi công khai nhiều như những người kể trên, nhưng cũng không hiếm lần báo chí Việt Nam đề cập đến đóng góp của Vua Gia Long đối với đất nước.
Chẳng hạn như một bài viết trên Người lao động năm 2022 đánh giá ông có công thống nhất đất nước, khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Vào năm 2020, báo Thanh niên có bài viết khen những kế sách ngoại giao khôn ngoan, linh hoạt của vị vua này.
Thời gian gần đây, tại Việt Nam xuất hiện xu hướng dư luận phản đối các luồng quan điểm hay cách tiếp cận lịch sử khác biệt với hệ thống tài liệu chính thống của Đảng Cộng sản.
Trong bối cảnh này, những tranh luận học thuật mang tính nhìn nhận lại các nhân vật lịch sử như nhà Nguyễn kể trên hoặc các đánh giá đa chiều về các nhân vật lịch sử thời hiện đại thường dễ gặp phải sự phản ứng gay gắt và những nhãn mác chính trị như "lật sử" hay "xét lại".
Tên tuổi của cựu Hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu vì lẽ đó cũng bị cuốn vào vòng xoáy này.
https://www.bbc.com/vietnamese/articles/ceqded28pzdo
-------------------------------
BBC 22/7 - Lai căng, bù nhìn, con rối cho phương Tây,... những tranh cãi về vị vua cuối cùng của Việt Nam một lần nữa xôn xao trở lại.
Khi dự án phim điện ảnh Hoàng hậu cuối cùng được công bố, những tranh cãi ban đầu chỉ xoay xung quanh phục trang, lời thoại và một số chi tiết bất hợp lý trong trailer.
Nhưng khi dự án càng được lan tỏa trên mạng xã hội, tâm điểm tranh cãi không còn dừng lại ở khâu sản xuất phim mà dần rẽ sang cuộc đời nhân vật, cụ thể là Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương, hay rộng hơn, là nhà Nguyễn – triều đại phong kiến cuối cùng ở Việt Nam.
Những người chỉ trích, điển hình như tài khoản facebook Phuong Nguyen với hơn 29.000 người theo dõi, cho rằng câu chuyện giữa Vua Bảo Đại và Hoàng hậu Nam Phương đang được lãng mạn hóa và "tẩy trắng".
Họ đánh giá Bảo Đại là vị vua bù nhìn, được thực dân Pháp đào tạo từ nhỏ và hoàn toàn bất lực trên ngai vàng với những cải cách chỉ mang tính nghi lễ bề ngoài.
Thậm chí, ông còn bị cho là chỉ lo hưởng lạc, ru rú ở các khu nghỉ dưỡng nước Pháp, và thậm chí còn bán chác ấn tín, bảo vật tổ tông để vơ vét tài chính trong bối cảnh đất nước đang chiến tranh.
Người vợ của ông cũng không thoát khỏi cơn sóng đấu tố cuồng nộ và cuộc hôn nhân giữa họ bị xem là "sắp đặt".
Vị hoàng hậu cuối của thời đại phong kiến Việt Nam bị cho là bóng mờ ngoại lai. Bên chỉ trích lý luận rằng bà sinh ra từ đặc quyền bóc lột, bước lên ngôi hậu nhờ sự sắp đặt của thực dân.
Cũng theo họ, cách ăn mặc sang trọng của Nam Phương là biểu hiện của sự "vô cảm trước vận mệnh dân tộc" và rằng cả tư duy lẫn lối sống của bà hoàn toàn thuộc về Pháp, không mang hồn cốt hay sự gắn kết nào với đời sống nhân dân.
Bài viết từ tài khoản Katherine Bui, với gần 25.000 lượt tương tác, cho rằng cuộc hôn nhân này là sự kết hợp giữa một "thằng cha bất tài bán nước hội tụ đủ thứ thói hư tật xấu và một cô tiểu thư con nhà giàu ngu ngơ học hết cấp 3".
Mở rộng hơn, tài khoản này kết luận "hàng triệu cái vong hồn của người dân mất nước" vẫn sẽ theo dòng họ Nguyễn Phúc mãi mãi và không thể nào được "tẩy trắng".

Cựu Hoàng Bảo Đại (phải) ngồi cạnh ông Hồ Chí Minh sau khi thoái vị vào tháng 8/1945 để trao quyền cho Việt Minh
Đáp lại, không ít người lên tiếng bảo vệ vị vua cuối cùng của triều Nguyễn.
Một số ý kiến chỉ ra ông chỉ là nạn nhân của thời đại khi lên ngôi trong một triều đình đã mất thực quyền, bị bủa vây giữa bộ máy thực dân, làn sóng cách mạng và những biến động quốc tế quá lớn so với tầm vóc của một cá nhân.
Thậm chí, ông phần nào được ghi nhận có công trong việc buộc Pháp phải công nhận nền độc lập và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, bao gồm cả sự trả lại Nam Kỳ.
Khi đảm nhận vai trò quốc trưởng của Quốc gia Việt Nam, ông đã đạt được thỏa thuận với Pháp về thống nhất ba kỳ – vốn là điều mà các bản hiệp định sơ bộ trước đó chưa thực hiện được – vào năm 1949 thông qua Hiệp định Élysée.
Trên thực tế, đã có nhiều nghiên cứu chứng minh công lao của Bảo Đại đối với chủ quyền Việt Nam, như một bài viết trên Liên minh các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) chỉ ra rằng ông có đóng góp về pháp lý quốc tế trong việc khẳng định chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm 1951, Bảo Đại đã cử phái đoàn Quốc gia Việt Nam do Thủ tướng Trần Văn Hữu dẫn đầu tham dự Hội nghị Hòa bình San Francisco. Tại đây, ngày 7/9/1951, phái đoàn đã long trọng tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo trước 51 quốc gia mà không gặp phải bất kỳ sự phản đối nào.
Hoặc khi còn ngồi trên ngai vàng, ông được ghi nhận rộng rãi là đã có những cải tổ hệ thống hành chính và nội chính, đồng thời mạnh dạn xóa bỏ những tập tục phong kiến rườm rà.
Dấu mốc nổi bật lúc trị vì của Bảo Đại chính là cuộc cải tổ nhân sự cấp thượng thư (tương đương bộ trưởng) vào năm 1933. Ông đã ra quyết định bãi chức 5 vị đại thần già yếu, thủ cựu và uyên thâm Nho học để thay bằng 5 trí thức trẻ trung, có tư duy hiện đại.
Còn về người vợ đầu của ông, Tiến sĩ khảo cổ học Nguyễn Thị Hậu, trong một bài viết đăng trên tạp chí Tia Sáng gần đây, chỉ ra sự gần gũi, quý mến mà người miền Nam dành cho Nam Phương Hoàng hậu không xuất phát từ địa vị vương giả xứ Huế, mà từ sự trân trọng một mẫu hình phụ nữ biết dung hòa đức tin, ứng xử khéo léo và giữ trọn lòng tự trọng trước những biến động lớn của thời cuộc.
Câu chuyện về Nam Phương Hoàng hậu trong ký ức cộng đồng ít khi gắn liền với quyền lực triều chính, mà là hình ảnh của một cô gái Gò Công học giỏi tại Pháp nhưng luôn khiêm nhường; một người vợ nền nã, ứng xử mực thước chưa từng gây chuyện ghen tuông trước người chồng hoàng đế đào hoa; và cuối cùng là một người mẹ lặng lẽ, kiên cường nuôi dạy các con sau khi hôn nhân tan vỡ.
Sự xuất hiện của bà phản ánh một thế hệ phụ nữ Nam Bộ đặc biệt: biết ngoại ngữ, đi du học, điều hành doanh nghiệp và tự tin khẳng định vị thế bình đẳng với nam giới trong không gian công cộng, Tiến sĩ Hậu kết luận.

Triều đình nhà Nguyễn, dù đã kết thúc khi Bảo Đại thoái vị cách đây hơn 80 năm, đến nay vẫn là chủ đề nhạy cảm trong xã hội Việt Nam.
Việc lên án triều đại này vốn đã diễn ra trong hàng chục năm qua, bao gồm diễn ngôn chính thức của chính quyền – nay lại bùng phát mạnh hơn khi bộ phim Hoàng hậu cuối cùng được giới thiệu và giữa lúc cơn bão "đấu tố" đang càn quét trên khắp mạng xã hội.
Trước đây từng có những dự án nghệ thuật liên quan đến Bảo Đại-Nam Phương, như phim truyền hình Ngọn nến hoàng cung vào năm 2004 hay MV ca khúc Không thể cùng nhau suốt kiếp của Hòa Minzy vào năm 2020, nhưng không ghi nhận mức độ chỉ trích như hiện nay.
Các tài liệu lịch sử chính thống ở Việt Nam vốn phê phán nhà Nguyễn nhiều hơn là ngợi ca, thường cho rằng Gia Long "cõng rắn cắn gà nhà" khi cầu viện ngoại bang trong cuộc chiến với Tây Sơn; và các vua khác "thỏa hiệp" với Pháp, khiến đất nước bị đô hộ.
Những diễn ngôn tích cực về triều đại phong kiến này – đặc biệt là với những nhân vật như Gia Long (Nguyễn Ánh), Tả quân Lê Văn Duyệt, Phan Thanh Giản – đều có thể dễ dàng bị quy chụp là "lật sử".
Đầu năm 2022, Ban Tuyên giáo Trung ương từng ra chỉ thị cấm các địa phương dùng tên của Phan Thanh Giản và Trương Vĩnh Ký để đặt cho đường phố hoặc các công trình công cộng, với lý do đây là những nhân vật còn nhiều đánh giá trái chiều về mặt lịch sử và chưa thỏa mãn tiêu chuẩn "có đóng góp to lớn cho sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc".
Tuy vậy, báo Nhân Dân từng có bài viết tôn vinh Trương Vĩnh Ký là người đặt nền móng cho báo chí Quốc ngữ Việt Nam.
Hay gần trung tâm TP HCM có một con đường mang tên Lê Văn Duyệt, với lăng của vị tả quân nằm tại đó – mà người dân gọi với tên gần gũi là Lăng Ông.
Các cuốn sách về nỗi oan của Phan Thanh Giản cũng như đóng góp về văn hóa của Phạm Quỳnh đã được phát hành trong nước.
Dù không được ca ngợi công khai nhiều như những người kể trên, nhưng cũng không hiếm lần báo chí Việt Nam đề cập đến đóng góp của Vua Gia Long đối với đất nước.
Chẳng hạn như một bài viết trên Người lao động năm 2022 đánh giá ông có công thống nhất đất nước, khẳng định chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Vào năm 2020, báo Thanh niên có bài viết khen những kế sách ngoại giao khôn ngoan, linh hoạt của vị vua này.
Thời gian gần đây, tại Việt Nam xuất hiện xu hướng dư luận phản đối các luồng quan điểm hay cách tiếp cận lịch sử khác biệt với hệ thống tài liệu chính thống của Đảng Cộng sản.
Trong bối cảnh này, những tranh luận học thuật mang tính nhìn nhận lại các nhân vật lịch sử như nhà Nguyễn kể trên hoặc các đánh giá đa chiều về các nhân vật lịch sử thời hiện đại thường dễ gặp phải sự phản ứng gay gắt và những nhãn mác chính trị như "lật sử" hay "xét lại".
Tên tuổi của cựu Hoàng Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu vì lẽ đó cũng bị cuốn vào vòng xoáy này.
https://www.bbc.com/vietnamese/articles/ceqded28pzdo
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét