Thứ Ba, 7 tháng 7, 2026

Tại sao Mỹ giầu ?

Tại sao Mỹ giầu ?
Vào ngày 4/7 theo giờ địa phương, "Ngày Độc lập" của Mỹ, nước Mỹ tổ chức các hoạt động kỷ niệm 250 năm ngày lập quốc. Tổng thống Trump phát biểu tuyên bố: Thời kỳ hoàng kim của Mỹ mới chỉ bắt đầu, những ngày tốt đẹp vẫn còn ở phía sau!
Tổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại cuộc mít tinh ở Quảng trường Quốc gia Washington D.C., để kỷ niệm 250 năm ngày độc lập của Mỹ. (Nguồn ảnh: Reuters)

Nước Mỹ hiện nay ra sao, người có đạo thấy nhân, người trí tuệ thấy trí. Thế giới thừa nhận trong 250 năm qua, nhìn tổng thể Mỹ đã thành công, đã trở thành nước giầu có không đâu sánh kịp. Mỹ khởi đầu từ 13 thuộc địa ven bờ Đại Tây Dương, trải qua độc lập lập quốc, mở rộng lục địa, mở rộng hải ngoại, tranh bá trong Chiến tranh Lạnh, đến sau Chiến tranh Lạnh vươn lên bá chủ toàn cầu, quỹ đạo trỗi dậy của họ có thể nói là hiếm thấy trong lịch sử nhân loại. 

Tuy nhiên, khi xem xét tiến trình lịch sử vĩ đại này, nhiều người thường rơi vào sai lầm quy kết đơn giản thành công của họ là do "khoa học công nghệ phát triển" hoặc "thể chế tiên tiến". Thực tế, sự trỗi dậy của Mỹ tuyệt đối không thể giải thích bằng một yếu tố đơn lẻ, mà là kết quả phức hợp của nhiều cơ duyên lịch sử và trí tuệ thể chế đan xen. 

Thành công của Mỹ không chỉ nhờ vào điều kiện địa lý thiên phú và vận may lịch sử hiếm có, mà còn ở chỗ trong quản trị chính trị, kinh tế và xã hội, người Mỹ luôn nỗ lực tìm kiếm "điểm cân bằng tốt nhất", chứ không phải mù quáng tuân thủ các nguyên tắc trừu tượng. Chính sự lựa chọn chiến lược linh hoạt, kết hợp thực dụng và cân bằng giữa lý tưởng và thực tế này, cấu thành bi quyết cốt lõi đưa Mỹ trở nên cường thịnh.

Sự trỗi dậy của Mỹ đại khái trải qua các giai đoạn sau:

Thứ nhất là giai đoạn độc lập và lập quốc (1776-1814). Năm 1776, Mỹ công bố "Tuyên ngôn Độc lập", sau đó tiến hành chiến tranh giành độc lập với Anh. Trong thời gian này, Mỹ khéo léo lợi dụng mâu thuẫn Anh-Pháp, mượn viện quân hùng mạnh do Pháp phái đến, cuối cùng giành được độc lập. Những năm đầu lập quốc, sự sinh tồn của quốc gia đối mặt với thử thách nghiêm khắc, quá trình vô cùng gian nan. Cho đến khi Chiến tranh Anh-Mỹ lần thứ hai kết thúc năm 1814, mới cơ bản vững vàng. Khoảng 40 năm này cấu thành giai đoạn độc lập và lập quốc của Mỹ.

Thứ hai là giai đoạn mở rộng lục địa (1815-1898). Sau khi Chiến tranh Anh-Mỹ lần thứ hai kết thúc, Mỹ bắt đầu mở rộng vào nội địa, từ 13 thuộc địa ven bờ Đại Tây Dương mở rộng đến bờ biển Thái Bình Dương, cơ bản chiếm lĩnh toàn bộ khu vực ôn đới của lục địa Bắc Mỹ.

Thứ ba là giai đoạn mở rộng hải ngoại (1898-1945), bắt đầu là Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ. M
ở rộng của Mỹ đạt đến đỉnh cao trong Thế chiến II, toàn diện tham gia các vấn đề toàn cầu và trở thành quốc gia lãnh đạo thế giới.

Thứ tư là giai đoạn tranh bá Chiến tranh Lạnh (1946-1991) dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên Xô.

Thứ năm là giai đoạn bá chủ toàn cầu (1991 đến nay). Từ xu hướng hiện tại, giai đoạn này đang đi tới hồi kết với sự vươn lên mạnh mẽ của Trung Quốc và các quốc gia BRICS.

Có rất nhiều cách giải thích cho nguyên nhân thành công của Mỹ, nhưng chủ yếu quy nạp vào các điểm sau:

Thứ nhất là vận may cực tốt. Vận may của Mỹ trong lịch sử nhân loại là hiếm có. Ví dụ, thời kỳ Jefferson, Pháp vì khó khăn tài chính, đã bán khoảng 2 triệu km² đất gần sông Mississippi cho Mỹ với giá 15 triệu USD; năm 1867, Ngoại trưởng Seward lại mua từ Nga 1,56 triệu km² Alaska với giá 7,2 triệu USD, tính ra chưa đến nửa xu một mẫu đất. Vận may này khó tưởng tượng được ở các quốc gia khác.

Thứ hai là điều kiện địa lý ưu việt. Mỹ chiếm giữ những khu vực có điều kiện phát triển tốt nhất thế giới, gần như có đủ mọi tài nguyên để phát triển, và điều kiện khai thác rất thuận lợi.

Thứ ba là gene văn hóa tốt hơn. So với truyền thống văn hóa Iberia của Nam Mỹ, truyền thống văn hóa Anglo-Saxon mà những người nhập cư Bắc Mỹ mang theo vào Mỹ đã thể hiện tính thích ứng thể chế và tính mở rộng mạnh mẽ hơn trong giai đoạn lịch sử nhất định.

Thứ tư là lựa chọn thể chế chính trị thích đáng. Sau khi độc lập, Mỹ căn cứ vào tình hình thực tế của mình xác lập tam quyền phân lập và dân chủ đại nghị, không thực hiện dân chủ trực tiếp cực đoan, cũng không áp dụng chế độ quân chủ thịnh hành lúc bấy giờ. Chế độ liên bang rất phù hợp với tình hình thực tế của Mỹ.

Thứ năm là chiến lược phát triển quốc gia đúng đắn. Những năm đầu lập quốc, tồn tại tranh luận giữa "lập quốc bằng nông nghiệp" hay "lập quốc bằng công nghiệp" (Hamilton chủ trương lập quốc bằng công nghiệp, Jefferson chủ trương lập quốc bằng nông nghiệp). 

Cuối cùng Mỹ chọn đường lối của Hamilton, nhanh chóng đẩy mạnh kế hoạch công nghiệp hóa quốc gia, và thành lập Ngân hàng chủng quốc thứ nhất để phát triển tín dụng quốc gia và thống nhất hệ thống tài chính. Nếu lúc đó chọn chính sách nông nghiệp lập quốc của Jefferson, Mỹ rất có thể đã trở thành một quốc gia Mỹ Latinh khác.

Thứ sáu là chiến lược ngoại giao thích đáng. Những năm đầu lập quốc, Mỹ thực hành chủ nghĩa biệt lập (gần giống với ẩn nhẫn chờ thời của Trung Quốc thời Đặng Tiểu Bình). Trong hai cuộc Thế chiến, Mỹ đều nắm bắt chính xác thời điểm can thiệp, đợi các nước châu Âu đánh nhau đến kiệt quệ mới ra tay thu dọn tàn cuộc, từ đó xác lập ưu thế.

Ngoài ra, Mỹ trong các sắp xếp thể chế cụ thể rất thông minh, bí quyết cốt lõi nằm ở việc tìm kiếm "điểm cân bằng tốt nhất", chứ không phải mù quáng tuân theo nguyên tắc trừu tượng và cảm tính.

Về chính trị, Mỹ không phải là chế độ dân chủ thuần túy, mà là chế độ hỗn hợp. Cư dân mạng nếu đọc "Tuyển tập Federalist" sẽ phát hiện, các Quốc phụ Mỹ thực ra cảnh giác với từ "dân chủ" (tương tự như ảnh hưởng tiêu cực mà Cách mạng Pháp mang lại), do đó họ xây dựng là chế độ cộng hòa. 

Thể chế này dung hợp các yếu tố mà Aristotle gọi là quân chủ chế, quý tộc chế và dân chủ chế: Hạ viện đại diện cho dân chủ chế; Thượng viện trước năm 1913 thực hành bầu cử gián tiếp, mang màu sắc quý tộc chế; chế độ nhiệm kỳ suốt đời của thẩm phán liên bang cũng thuộc đặc trưng quý tộc chế; còn quyền ân xá của tổng thống, là quyền lực quân chủ chế điển hình. Mỹ trích xuất từ các thể chế khác nhau những yếu tố cần thiết, thực hiện cân bằng tốt nhất.

Về kinh tế, Mỹ tuy cổ xúy thị trường tự do, nhưng chính phủ khi cần ra tay thì tuyệt không nương tay. Trước "Đạo luật Thương mại Tương hỗ" năm 1934, 11 đạo luật thương mại được thông qua sau khi Mỹ lập quốc đều mang tính chất bảo hộ mậu dịch, rất gần với chủ trương của List người Đức. Cho đến khi thực lực kinh tế bản thân đủ mạnh, Mỹ mới chuyển sang tự do mậu dịch.

Về xã hội, Mỹ nhấn mạnh tự trị công dân, nhưng thực tế quản chế pháp luật đối với công dân vô cùng nghiêm ngặt. Mọi vi phạm pháp luật đều bị trừng phạt nghiêm khắc.

Mỹ tuyên truyền 
đối ngoại là dân chủ, thị trường tự do và tự trị công dân... đều là các nguyên tắc trừu tượng, nhưng thực tế chấp hành lại là "điểm cân bằng tốt nhất". Đây là một bí mật cốt lõi cho sự thành công của Mỹ.

Do vậy, quy kết thành công của Mỹ là nhờ "khoa học công nghệ phát triển" hoặc "giáo dục phát triển" là không chính xác. Mỹ thời kỳ đầu lấy nông nghiệp làm chủ, các nơi xây dựng cũng đa số là học viện nông nghiệp. Sau Thế chiến II Mỹ trở thành trung tâm khoa học công nghệ thế giới, phần lớn là vì thu hút được lượng lớn đội ngũ nhân tài nghiên cứu khoa học đỉnh cao bao gồm cả Đức. Do đó, thành công của Mỹ là kết quả phức hợp của nhiều nhân tố kể trên cùng tác động.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét