Chung cư làm tan rã Hôn nhân, Gia đình và giảm Dân số
Việt Nam đang thực hiện chính sách phát triển nhà cao tầng. Tại các đô thị tầm trung cũng ào ạt xây nhà cao tầng. Bài viết dưới đây trên báo mạng Trung Quốc là một cảnh báo. Tác giả cho rằng nguyên nhân chính của việc giảm tỷ lệ sinh ở Trung Quốc chính là đưa toàn dân vào sống trong các tòa nhà cao tầng, điều đó làm tan rã khái niệm gia đình.
Mặc dù ý kiến này đang có nhiều tranh cãi, nhất là nhà chung cư có phải là nguyên nhân chính của việc giảm tỷ lệ sinh không, nhưng tôi ủng hộ quan điểm của tác giả nhà chung cư là một nguyên nhân quan trọng. Đặc biệt, tôi luôn luôn ủng hộ ý kiến TQ phải giữ được lượng dân số cao, Việt Nam cũng phải giữ được dân số trên 100 triệu.
Tác giả có đề cập tới sự tan rã của khái niệm gia đình. Tôi rất tâm đắc. Gia đình hình thành khi nào ? Chính là vào cuối thời kỳ đồ đá mới, khi con người phát hiện ra đồng, rồi ngay sau đó là sắt. Có đồng, có sắt làm công cụ lao động thay cho đồ đá, thì vài người là có thể tự sống mà không cần phải sống chung trong cộng đồng (bộ lạc, thị tộc, công xã), hơn nữa, năng suất lao động tăng lên, của cải dư thừa, thế hệ trước muốn giữ được của cải dư thừa đó thì phải có con nối dõi. Thế là đàn ông rủ đàn bà tách khỏi cộng đồng, ra sống riêng, tạo thành gia đình. Hôn nhân và Gia đình ra đời với tư cách là một "đơn vị kinh tế và sở hữu".
Bây giờ thì sao. Lực lượng sản xuất và tiêu dùng đã rất mạnh mẽ, mỗi người tự lo được cuộc sống cho bản thân mình; không phải dựa dẫm vào bất kỳ ai cả. Khi mỗi cá nhân tự kiếm tiền, tự mua bảo hiểm, tự lo an sinh, thì "chức năng kinh tế" và "chức năng sinh tồn" của gia đình bị triệt tiêu. Con người không còn cần nhau để sống sót nữa. Khi động lực kinh tế biến mất, sợi dây ràng buộc hôn nhân trở nên vô cùng mong manh. Đó là lý do tỷ lệ ly hôn tăng vọt.
Mặt khác, các giá trị tôn giáo, tín ngưỡng (như luân hồi, nghiệp báo, thờ cúng tổ tiên) đang ngày càng suy yếu, con người đối mặt với chủ nghĩa hư vô (nihilism). Nếu vũ trụ này vô nghĩa và cái chết là sự kết thúc tuyệt đối, thì việc "hy sinh hiện tại cho thế hệ mai sau" bị coi là một sự đầu tư "lỗ vốn".
Đặc biệt chủ nghĩa duy vật và duy lý khẳng định con người chết là hết, xương cốt được ném xuống sông xuống biển, không cần con cái thờ cúng, nên ai ai cũng lo hưởng thụ, vì chết có mang theo được đâu, để cho con cái thì chỉ làm chúng sống ỷ lại, thoái hóa, nên không cần sinh con, không cần ai thờ cúng.
Bây giờ khắp nơi trên thế giới quan tham nổi lên như diều gặp gió. Chúng thống trị và bóc lột dân nghèo bằng đủ thứ luật lệ kỳ quái do chúng nghĩ ra. Chênh lệch giầu nghèo càng ngày càng khủng khiếp. Đẻ con ra để chúng làm nô lệ, làm lính ra trận thay cho quan tham thì đẻ làm gì.
Bạn thử nghĩ xem, chúng ta nỗ lực cả đời chỉ hy vọng mua được vài mét vuông nhà, nhưng chỉ cần một quyết định hành chính thu hồi đất với con dấu đỏ là mất luôn. Con cái sinh ra phải cạnh tranh khốc liệt từ mẫu giáo chỉ để sau này trở thành "những viên pin" cung cấp năng lượng cho cỗ máy tư bản hoặc làm "bia đỡ đạn" cho tầng lớp tinh hoa, thì việc cắt đứt chuỗi gen (không sinh sản) là quyền lực duy nhất và là vũ khí cuối cùng mà những người dân lao động bình thường chúng ta có được để phản kháng lại sự bóc lột. Đẻ con ra làm nô lệ thì thà tuyệt chủng còn hơn. Đây là một sự tỉnh ngộ mang tính bi kịch, nhưng là điều rất bình thường vì thông thường con vật hoang dã trong rừng khi bị con người bắt nhốt thì đều không chấp nhận sinh con.
Thời buổi bây giờ là làm ra bao nhiêu hưởng thụ hết bấy nhiêu, buông người rời khỏi cõi trần hoàn toàn vô lo vô nghĩ, nhẹ như bông hồng. Vậy thì kết hôn, sinh con làm gì ? Kết hôn rồi thì mười phần chắc 4-5 sẽ ly hôn, 7-8 muốn ly hôn, nên tốt nhất là như con vật, cứ cặp bồ khi thích, thay bồ khi chán, thế là hạnh phúc. Đây cũng là điều rất bình thường, vì khi thể chế và môi trường sống không bảo vệ được hôn nhân, người ta chọn cách sống theo bản năng để tránh bị tổn thương.
Bây giờ thì sao. Lực lượng sản xuất và tiêu dùng đã rất mạnh mẽ, mỗi người tự lo được cuộc sống cho bản thân mình; không phải dựa dẫm vào bất kỳ ai cả. Khi mỗi cá nhân tự kiếm tiền, tự mua bảo hiểm, tự lo an sinh, thì "chức năng kinh tế" và "chức năng sinh tồn" của gia đình bị triệt tiêu. Con người không còn cần nhau để sống sót nữa. Khi động lực kinh tế biến mất, sợi dây ràng buộc hôn nhân trở nên vô cùng mong manh. Đó là lý do tỷ lệ ly hôn tăng vọt.
Mặt khác, các giá trị tôn giáo, tín ngưỡng (như luân hồi, nghiệp báo, thờ cúng tổ tiên) đang ngày càng suy yếu, con người đối mặt với chủ nghĩa hư vô (nihilism). Nếu vũ trụ này vô nghĩa và cái chết là sự kết thúc tuyệt đối, thì việc "hy sinh hiện tại cho thế hệ mai sau" bị coi là một sự đầu tư "lỗ vốn".
Đặc biệt chủ nghĩa duy vật và duy lý khẳng định con người chết là hết, xương cốt được ném xuống sông xuống biển, không cần con cái thờ cúng, nên ai ai cũng lo hưởng thụ, vì chết có mang theo được đâu, để cho con cái thì chỉ làm chúng sống ỷ lại, thoái hóa, nên không cần sinh con, không cần ai thờ cúng.
Bây giờ khắp nơi trên thế giới quan tham nổi lên như diều gặp gió. Chúng thống trị và bóc lột dân nghèo bằng đủ thứ luật lệ kỳ quái do chúng nghĩ ra. Chênh lệch giầu nghèo càng ngày càng khủng khiếp. Đẻ con ra để chúng làm nô lệ, làm lính ra trận thay cho quan tham thì đẻ làm gì.
Bạn thử nghĩ xem, chúng ta nỗ lực cả đời chỉ hy vọng mua được vài mét vuông nhà, nhưng chỉ cần một quyết định hành chính thu hồi đất với con dấu đỏ là mất luôn. Con cái sinh ra phải cạnh tranh khốc liệt từ mẫu giáo chỉ để sau này trở thành "những viên pin" cung cấp năng lượng cho cỗ máy tư bản hoặc làm "bia đỡ đạn" cho tầng lớp tinh hoa, thì việc cắt đứt chuỗi gen (không sinh sản) là quyền lực duy nhất và là vũ khí cuối cùng mà những người dân lao động bình thường chúng ta có được để phản kháng lại sự bóc lột. Đẻ con ra làm nô lệ thì thà tuyệt chủng còn hơn. Đây là một sự tỉnh ngộ mang tính bi kịch, nhưng là điều rất bình thường vì thông thường con vật hoang dã trong rừng khi bị con người bắt nhốt thì đều không chấp nhận sinh con.
Thời buổi bây giờ là làm ra bao nhiêu hưởng thụ hết bấy nhiêu, buông người rời khỏi cõi trần hoàn toàn vô lo vô nghĩ, nhẹ như bông hồng. Vậy thì kết hôn, sinh con làm gì ? Kết hôn rồi thì mười phần chắc 4-5 sẽ ly hôn, 7-8 muốn ly hôn, nên tốt nhất là như con vật, cứ cặp bồ khi thích, thay bồ khi chán, thế là hạnh phúc. Đây cũng là điều rất bình thường, vì khi thể chế và môi trường sống không bảo vệ được hôn nhân, người ta chọn cách sống theo bản năng để tránh bị tổn thương.
Tôi phải đi, nên dừng ở đây
-----------------------
Ngày nay ở Trung Quốc, ngoài một số rất ít gia đình giàu có và những vùng nông thôn đang ngày càng tiêu điều, thì đại đa số các hộ gia đình đều đã chuyển vào sống trong các tòa nhà cao tầng. Ngay cả những huyện lỵ nhỏ bé và lạc hậu cũng mọc lên san sát những chung cư cao tầng; nhìn ra xa đâu đâu cũng toàn là những tòa nhà dân cư 20, 30 tầng. Chỉ trong vài thập kỷ ngắn ngủi, gần như toàn dân Trung Quốc đã dọn lên sống ở các tòa nhà cao tầng, giống như chui vào những “lồng chim bồ câu”.
Trên thế giới, rất ít quốc gia coi các tòa nhà cao tầng làm nơi ở cho gia đình. Chung cư cao tầng phần lớn được dùng làm căn hộ cho người độc thân hoặc văn phòng làm việc. Người trẻ tuổi ở chung cư cao tầng thì còn chấp nhận được, nhưng với người già 70–80 tuổi, việc sống trên những tầng cao thật sự cô đơn và tàn nhẫn. Trẻ em sống trong môi trường này thì không gian sinh hoạt quá chật hẹp, bị cách ly khỏi thiên nhiên, cảm giác ngột ngạt và bức bối.
Truyền thống nhà ở của người Trung Quốc xưa nay luôn là một ngôi nhà riêng biệt, kèm theo một sân vườn rộng rãi. Việc coi chung cư cao tầng như nơi ở cho cả gia đình mang đến những hệ lụy vô cùng nghiêm trọng, nặng nề đến mức cả dân tộc và đất nước sẽ không thể gánh nổi.
Những tác hại chính của kiểu nhà “lồng chim bồ câu” này chủ yếu nằm ở ba khía cạnh sau, mỗi khía cạnh đều mang tính hủy diệt.
Những tác hại chính của kiểu nhà “lồng chim bồ câu” này chủ yếu nằm ở ba khía cạnh sau, mỗi khía cạnh đều mang tính hủy diệt.
1. Nhà “lồng chim bồ câu” là thủ phạm chính gây nên tỷ lệ sinh thấp.
Trung Quốc từng là quốc gia có tỷ lệ sinh cực kỳ cao nhờ ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo và quan niệm “nhiều con nhiều phúc” nhưng chỉ trong vài thập kỷ ngắn ngủi đã chứng kiến tỷ lệ sinh sụt giảm thảm hại, hiện nay thậm chí còn thấp hơn Nhật Bản, đang đuổi kịp Hàn Quốc và sắp chạm đáy toàn cầu.
Mọi người thường cho rằng các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ sinh chủ yếu gồm:
Áp lực kinh tế: sinh nhiều con thì không nuôi nổi;
Công việc bận rộn: sinh con ra rồi không ai trông;
Thay đổi tư tưởng: giới trẻ không muốn sinh con nữa.
Tất cả đều đúng, hiện nay, các chính sách khuyến khích sinh đẻ cũng chủ yếu xoay quanh những điểm này. Các nước như Hàn Quốc, Nhật Bản, những nơi đối mặt sớm hơn với khủng hoảng nhân khẩu học, đã thử đủ mọi biện pháp kích thích nhưng hiệu quả rất hạn chế. Trên thế giới cũng chưa từng có quốc gia nào đảo ngược được xu hướng suy giảm tỷ lệ sinh chỉ bằng những biện pháp này. Điều đó chứng tỏ chúng ta chưa tìm đúng nguyên nhân gốc rễ. Những lý do kể trên nghe có vẻ hợp lý, nhưng thực chất chỉ là biểu hiện bề mặt, chứ không phải cốt lõi vấn đề.
Nguyên nhân cốt lõi dẫn đến sự sụt giảm mạnh mẽ tỷ lệ sinh chỉ có một: đó là việc đại bộ phận dân số tập trung vào không gian đô thị hạn chế, nhà cửa liên tục phát triển theo chiều cao, khiến mật độ dân số đạt đến một ngưỡng tới hạn. Khi đó, tỷ lệ sinh tự động giảm xuống. Mật độ dân số càng cao thì tỷ lệ sinh càng thấp. Đây là quy luật tự nhiên, không thể chống lại được bằng ý chí con người.
Thực tế cũng xác nhận rõ điều này: bất cứ quốc gia nào có dân số tập trung vào vài thành phố lớn, tỷ lệ đô thị hóa cao, và các thành phố càng xây cao, càng dày đặc thì đều có tỷ lệ sinh cực kỳ thấp; không có ngoại lệ. Ví dụ như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Iran… Ngay trong nội địa Trung Quốc cũng vậy: những thành phố đông đúc đều có tỷ lệ sinh rất thấp, ví dụ như Thượng Hải hiện nay đã rơi xuống mức thảm hại là 0,6.
Ngược lại, những quốc gia hay khu vực ít xây chung cư cao tầng, mật độ dân số tương đối thấp thì tỷ lệ sinh cao hơn nhiều. Ví dụ như các nước phương Tây, dù được gọi vui là “những vùng quê lớn”, mặc dù đã phát triển kinh tế từ rất sớm và đô thị hóa cũng diễn ra sớm, nhưng tỷ lệ sinh vẫn duy trì ở mức ổn định hơn.
Trước đây, một ngôi làng lớn có thể có 4–5 nghìn dân; ngày nay, chỉ cần vài tòa nhà cao tầng là đủ chứa hết.
Hơn nữa, kiểu nhà ở chung cư cao tầng đã khiến cái gọi là “gia đình” đang dần dần biến mất; đây chính là nguyên nhân trực tiếp làm giảm ý muốn sinh con của giới trẻ ngày nay, thậm chí cũng không có nhu cầu kết hôn.
Đa số chúng ta đều hiểu lầm rằng sinh con là để kéo dài sự sống của bản thân, để con cháu hỗ trợ mình lúc tuổi già. Thực ra không phải như vậy. Sinh con là để kéo dài “gia đình”. Một đời người không thể được kéo dài qua một đời người khác. Với tư cách là “cá thể độc lập”, việc giới trẻ ngày nay không kết hôn, không sinh con là lựa chọn hoàn toàn bình thường. Đứa trẻ không thể kế thừa “bản ngã” của bạn; ngược lại, sinh con còn đòi hỏi bạn phải bỏ ra quá nhiều công sức và chi phí; vậy thì tại sao phải sinh?
Sinh con là để “gia đình” được tiếp nối, là nhu cầu tồn tại của “gia đình”. Khi quan niệm về “gia đình” ngày càng phai nhạt, ý muốn sinh con tất yếu sẽ suy giảm vì việc sinh con đã mất đi ý nghĩa.
Xưa kia, “gia đình” luôn có một mảnh đất thuộc về mình: trên đất có nhà, có sân vườn; trong nhà có vợ, có con; trước cửa có tảng đá, sau nhà có cây cổ thụ, có thể là ký ức chung của nhiều thế hệ trong dòng họ. “Gia đình” là cảm giác thuộc về, in sâu trong tâm trí mỗi người. Gia đình lúc đó có thể chỉ có nhà chật, nhưng nhu cầu ở của mỗi thành viên không cao, trong nhà cũng không có nhiều tiện nghi nên vẫn thông thoáng, bố mẹ cần con cái chăm sóc lúc tuổi già. Vì thế gia đình thường có nhiều con.
Xưa kia, “gia đình” luôn có một mảnh đất thuộc về mình: trên đất có nhà, có sân vườn; trong nhà có vợ, có con; trước cửa có tảng đá, sau nhà có cây cổ thụ, có thể là ký ức chung của nhiều thế hệ trong dòng họ. “Gia đình” là cảm giác thuộc về, in sâu trong tâm trí mỗi người. Gia đình lúc đó có thể chỉ có nhà chật, nhưng nhu cầu ở của mỗi thành viên không cao, trong nhà cũng không có nhiều tiện nghi nên vẫn thông thoáng, bố mẹ cần con cái chăm sóc lúc tuổi già. Vì thế gia đình thường có nhiều con.
Ngày nay, nhà ở chung cư cao tầng đã khiến “gia đình” mất đi chỗ đứng, mất đi gốc rễ. Những ô vuông nhỏ bé trong thành phố đã trở thành nơi cư trú của “gia đình”. Nhìn từ xa vào ban đêm, từng ô cửa sáng đèn trên các tòa nhà cao tầng giống như những tổ ong ken đặc. Chúng ta giống như những con ong thợ chăm chỉ, tối về chỉ tranh thủ nghỉ ngơi đôi chút trong ô vuông ấy rồi hôm sau lại tiếp tục lao vào guồng quay thành phố. “Gia đình” truyền thống đang dần biến mất. Vì vậy, nhiều người ngày nay cho rằng sinh con chỉ là để phục vụ đất nước. Điều này cũng đúng, vì khi “gia đình” đang tan rã, thì ý nghĩa duy nhất còn lại của việc sinh con chính là để duy trì sự tồn tại của quốc gia.
Xưa kia, dù nghèo khổ, nhưng ai cũng có một “gia đình” đặt chân vững chắc trên mảnh đất của mình. Vì vậy, người ta mới nghĩ đủ cách, trốn tránh đủ kiểu để sinh thật nhiều con, chỉ để “gia đình” có người nối dõi, không để đứt đoạn ngay sau đời mình.
Do đó, muốn cứu vãn tỷ lệ sinh, trước tiên phải khôi phục lại “gia đình”. Muốn khôi phục “gia đình”, trước hết phải trao cho “gia đình” một mảnh đất để đứng vững.
Ảnh hưởng của kiểu nhà “lồng chim bồ câu” đến tỷ lệ sinh còn không chỉ dừng ở những lý do kể trên. Tóm lại, nếu không rời khỏi những “lồng chim bồ câu” này, thì tỷ lệ sinh thấp sẽ không thể cứu vãn,Trung Quốc sẽ đánh mất tương lai!
2. Nhà “lồng chim bồ câu” ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần, tạo nên xã hội “ít ham muốn”.
Trước hết, việc thiếu vắng sân vườn ảnh hưởng rất lớn đến con người. Sân vườn tồn tại phổ biến vì nó phản ánh nhu cầu tinh thần sâu xa của con người. “Gia đình” là một quá trình có thứ bậc: phòng ngủ là không gian hoàn toàn riêng tư, phòng khách là bán riêng tư, sân vườn là bán mở, còn bên ngoài là hoàn toàn mở. Từ riêng tư, bán riêng tư, bán mở, hoàn toàn mở; đó là một quá trình chuyển tiếp tuần tự, giúp tinh thần con người thư giãn. Nhưng hiện nay, khi sống trong chung cư cao tầng, con người bước từ ngoài trời vào nhà là lập tức chuyển từ không gian mở sang không gian đóng kín; ngược lại khi ra ngoài cũng là một cú “nhảy vọt” từ đóng kín sang mở hoàn toàn, không có bất kỳ giai đoạn chuyển tiếp nào. Tinh thần chúng ta luôn phải “chống đối” mỗi lần ra/vào cửa. Chính điều này đã sinh ra những “nam thanh nữ tú thích ở nhà” (hikikomori).
Khi dân cư sống quá đông đúc, lòng người luôn đề phòng. Ai cũng từng trải nghiệm điều này: sống cạnh nhau trong thành phố lớn hàng chục năm mà vẫn không biết mặt hàng xóm, vì nơi đâu cũng đầy người, nên tự nhiên sinh ra tâm lý bài xích. Có thể bạn vẫn mỉm cười, vẫn chào hỏi xã giao, nhưng rất khó để có mối quan hệ sâu sắc, giống như một công tắc trong tim đã bị khóa chặt. Ngược lại, ở nơi mật độ dân cư thấp, con người tiếp xúc nhiều hơn với thiên nhiên, lòng rộng mở, dễ dàng đón nhận người khác và cảm thấy an yên.
Mật độ dân cư cao ở các thành phố lớn tạo ra một dạng “kích thích mạnh”. Người từng sống ở thành phố lớn, khi trở về nơi yên tĩnh thường cảm thấy trống vắng và khó thích nghi. Nhưng dạng kích thích mạnh này lại tiêu hao năng lượng tinh thần. Nếu luôn sống trong trạng thái bị kích thích liên tục, con người sẽ dần “nhờn”, cuối cùng rơi vào trạng thái “ít ham muốn”, mất đi động lực phấn đấu.
Hãy xem những bộ phim, phim truyền hình của thập niên 80–90: ánh mắt con người lúc ấy luôn lấp lánh ánh sáng. Ngày nay, ánh sáng ấy gần như không còn, bởi vì chúng ta luôn sống trong môi trường “quá tải con người”, tinh thần liên tục bị tiêu hao, làm sao còn lấp lánh được nữa? Gần đây nhất là Hồng Kông, thành phố có mật độ dân cư cao nhất thế giới, đồng thời cũng là “sa mạc văn hóa”. Xưa kia, điện ảnh Hồng Kông từng rực rỡ, ngôi sao lấp lánh; nhưng khi hàng triệu người bị nhồi nhét vào không gian sống chật hẹp, dần dần chỉ còn lại sự bồn chồn, bất an, làm sao còn có thể lắng đọng tinh thần?
Nhiều người thường thắc mắc: tại sao ngày xưa trẻ con có thể bị đánh mắng thoải mái, còn ngày nay lại không dám đánh mắng, vì trẻ rất dễ gặp vấn đề tâm lý? Các chuyên gia đưa ra đủ loại giải thích. Nhưng mãi đến khi tôi xem một video hoài cổ trên TikTok, tôi mới chợt tỉnh ngộ: một cậu bé chạy chân trần, vừa chạy vừa ngoái lại nhìn người mẹ đang cầm gậy đuổi theo phía sau, cảnh tượng này đã gợi lại ký ức tuổi thơ của cả thế hệ 7X, 8X. Trong đầu tôi bỗng lóe lên một cụm từ: “thoát thân”. Chạy ra khỏi nhà, phía trước là trời đất mênh mông, mọi cảm xúc tiêu cực đều nhanh chóng tan biến giữa thiên nhiên bao la. Nếu gặp thêm vài đứa bạn nữa thì càng nhanh lành vết thương tâm lý. Nhưng trẻ em ngày nay có thể chạy đi đâu? Chúng chỉ có thể chạy từ phòng khách sang phòng ăn, cảm xúc không được giải tỏa, nên dễ sinh ra vấn đề tâm lý.
Trẻ em ngày nay thực sự rất đáng thương. Thành phố đầy những tòa nhà cao tầng và xe cộ tấp nập, nhưng lại không có lấy một nơi nào thực sự thuộc về chúng. Đến trường thì cha mẹ đưa đón; về nhà lại chui vào “lồng chim bồ câu”, giống như những con vật bị nhốt trong chuồng. Những đứa trẻ lớn lên như vậy, làm sao có thể gánh vác tương lai đất nước?
Trẻ em đáng lẽ phải lớn lên ở những nơi không có xe cộ ồn ào, có một mảnh đất thực sự để đặt chân, có một khoảng trời bốn phương để thư giãn, ở sân vườn, chúng có thể tìm bắt côn trùng, vui đùa thỏa thích; mùa xuân nghe tiếng ếch kêu, mùa hè ngắm sao trời; có thể trò chuyện một mình với trời đất, đối thoại cùng bốn mùa. Những đứa trẻ như vậy mới tràn đầy sức sống.
Con người, cũng như động vật, đều có ý thức về “lãnh thổ”. Khi bàn chân chạm xuống mặt đất rộng lớn, bản năng chinh phục và bảo vệ của nam giới sẽ được khơi dậy. Khi giặc ngoại xâm đến, khẩu hiệu “giữ đất có trách nhiệm” sẽ kích thích tinh thần chiến đấu của đàn ông. Khí chất nam nhi vốn là “tiến thẳng không lùi bước, chí tại bốn phương”. Nhưng ngày nay, khi không có mảnh đất đứng chân, bị nhốt trong những ô vuông chật hẹp của chung cư cao tầng, nam giới mất phương hướng, khí chất dương cương không có nơi phát triển, lâu dần tất yếu sẽ suy giảm khí phách, thậm chí có xu hướng nữ tính hóa.
Việc “tiếp đất” và “hấp thụ sinh khí từ đất” rất quan trọng đối với con người. Có người cho rằng đây là mê tín, nhưng chính việc cụm từ “tiếp đất” xuất hiện và được sử dụng rộng rãi đã chứng minh rằng cảm giác “không tiếp đất” hiện nay là phổ biến và ai cũng cảm nhận được. “Địa khí” tượng trưng cho sinh khí dồi dào, còn chung cư cao tầng lại mang “sát khí”, thỉnh thoảng leo lên cao để thư giãn thì được, nhưng không phù hợp để ở lâu dài.
Hồi nhỏ, trường học ở nông thôn của tác giả đều là nhà ngói một tầng. Mỗi khi tan học, lũ trẻ ùa ra sân, vui đùa ầm ĩ, giống hệt cảnh trong phim “Những ngày nắng đẹp” (In the Heat of the Sun). Hãy tưởng tượng nếu trường học cũng xây thành những tòa nhà 20 tầng—trẻ em ngồi học trong đó chắc chắn sẽ im lặng và gò bó. Đó chính là “sát khí” do kiến trúc cao tầng tạo ra.
Con người cần “tiếp đất”, cần đặt chân vững trên mặt đất. Có đất thì tâm mới an. Đứng trên mặt đất, lòng người mới bình yên. Còn sống trên cao, tâm luôn bất an. Nếu cả xã hội đều sống trong những ô vuông của các tòa nhà cao tầng, con người sẽ liên tục bị tiêu hao, cuối cùng dẫn đến một xã hội “ít ham muốn”. Trung Quốc sẽ đánh mất tương lai!
3. Nhà “lồng chim bồ câu” cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế!
Kinh tế học lấy con người làm gốc. Mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là phục vụ con người. Trước đây, khi còn nghèo, mọi người đều có khát vọng cải thiện cuộc sống, muốn có tủ lạnh, ti vi, muốn ở nhà cao tầng, muốn lái ô tô. Mọi người nỗ lực phấn đấu vì điều đó, nhờ vậy nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng phi mã trong hàng chục năm, và người dân thực sự cảm nhận được hạnh phúc, đó là một vòng tuần hoàn lành mạnh của phát triển kinh tế.
Nhưng hiện nay, một số biện pháp kích thích kinh tế lại đi lệch khỏi cốt lõi là “con người”, trở thành “vì kinh tế mà kinh tế”. Giống như một người vốn đã suy nhược, lại cố dùng kích thích để giữ tinh thần, điều này không thể bền vững. Chúng ta cần đáp ứng những nhu cầu thực sự của con người, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ngày nay, mức sống của người Trung Quốc không ngừng được nâng cao, điều kiện vật chất trong vài thập kỷ qua đã phong phú vượt bậc. Nhưng xét về “ăn, mặc, ở, đi lại”, thì chỉ riêng điều kiện “ở” là ngày càng tệ đi—từ những ngôi nhà riêng rộng rãi, mọi người đều dọn vào những “lồng chim bồ câu” chật hẹp. Có phải vì mọi người thích sống trong “lồng chim bồ câu” không? Có phải chỉ người giàu mới thích biệt thự lớn, nhà tứ hợp viện? Rõ ràng là không! Ai cũng có nhu cầu mạnh mẽ và chân thực muốn có nơi ở tốt hơn, chỉ là nhu cầu ấy đang bị thực tế đè nén quá nặng nề.
Nhu cầu thực sự, mạnh mẽ và có khả năng chi trả của người Trung Quốc về việc cải thiện nơi ở chính là động lực lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong tương lai. Quá trình đáp ứng nhu cầu này sẽ mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế nhanh và lành mạnh.
Hơn nữa, cùng với sự tiến bộ của xã hội và khoa học kỹ thuật, mô hình nhà ở “lồng chim bồ câu” ngày nay đã trở thành rào cản nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế, ngăn cản sự hình thành của những nhu cầu mới.
Ô tô có thể trở thành động lực kinh tế thay thế cho bất động sản. Nhưng mô hình nhà ở chung cư cao tầng khiến đường phố đô thị ùn tắc, thiếu trầm trọng chỗ đậu xe và trạm sạc điện. Ngay cả việc đảm bảo một chỗ đậu xe cho mỗi hộ gia đình cũng đã khó khăn. Trong vòng 20 năm tới, ô tô thông minh sẽ phổ biến như điện thoại di động, người bình thường chỉ cần tích góp một tháng lương là có thể mua được một chiếc. Lượng ô tô tại Trung Quốc có thể tăng gấp nhiều lần. Nhưng hạ tầng đường sá, chỗ đậu xe và trạm sạc hiện nay đều là những rào cản lớn. Ngoài ô tô, trong tương lai còn có drone (máy bay không người lái) và các loại robot gia dụng cũng sẽ phổ biến, tất cả đều cần không gian đủ rộng để lưu trữ và vận hành.
Về mặt kinh tế, nếu không rời khỏi những “lồng chim bồ câu” này, Trung Quốc sẽ đánh mất tương lai!!
Xưa kia, dù nghèo khổ, nhưng ai cũng có một “gia đình” đặt chân vững chắc trên mảnh đất của mình. Vì vậy, người ta mới nghĩ đủ cách, trốn tránh đủ kiểu để sinh thật nhiều con, chỉ để “gia đình” có người nối dõi, không để đứt đoạn ngay sau đời mình.
Do đó, muốn cứu vãn tỷ lệ sinh, trước tiên phải khôi phục lại “gia đình”. Muốn khôi phục “gia đình”, trước hết phải trao cho “gia đình” một mảnh đất để đứng vững.
Ảnh hưởng của kiểu nhà “lồng chim bồ câu” đến tỷ lệ sinh còn không chỉ dừng ở những lý do kể trên. Tóm lại, nếu không rời khỏi những “lồng chim bồ câu” này, thì tỷ lệ sinh thấp sẽ không thể cứu vãn,Trung Quốc sẽ đánh mất tương lai!
2. Nhà “lồng chim bồ câu” ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần, tạo nên xã hội “ít ham muốn”.
Trước hết, việc thiếu vắng sân vườn ảnh hưởng rất lớn đến con người. Sân vườn tồn tại phổ biến vì nó phản ánh nhu cầu tinh thần sâu xa của con người. “Gia đình” là một quá trình có thứ bậc: phòng ngủ là không gian hoàn toàn riêng tư, phòng khách là bán riêng tư, sân vườn là bán mở, còn bên ngoài là hoàn toàn mở. Từ riêng tư, bán riêng tư, bán mở, hoàn toàn mở; đó là một quá trình chuyển tiếp tuần tự, giúp tinh thần con người thư giãn. Nhưng hiện nay, khi sống trong chung cư cao tầng, con người bước từ ngoài trời vào nhà là lập tức chuyển từ không gian mở sang không gian đóng kín; ngược lại khi ra ngoài cũng là một cú “nhảy vọt” từ đóng kín sang mở hoàn toàn, không có bất kỳ giai đoạn chuyển tiếp nào. Tinh thần chúng ta luôn phải “chống đối” mỗi lần ra/vào cửa. Chính điều này đã sinh ra những “nam thanh nữ tú thích ở nhà” (hikikomori).
Khi dân cư sống quá đông đúc, lòng người luôn đề phòng. Ai cũng từng trải nghiệm điều này: sống cạnh nhau trong thành phố lớn hàng chục năm mà vẫn không biết mặt hàng xóm, vì nơi đâu cũng đầy người, nên tự nhiên sinh ra tâm lý bài xích. Có thể bạn vẫn mỉm cười, vẫn chào hỏi xã giao, nhưng rất khó để có mối quan hệ sâu sắc, giống như một công tắc trong tim đã bị khóa chặt. Ngược lại, ở nơi mật độ dân cư thấp, con người tiếp xúc nhiều hơn với thiên nhiên, lòng rộng mở, dễ dàng đón nhận người khác và cảm thấy an yên.
Mật độ dân cư cao ở các thành phố lớn tạo ra một dạng “kích thích mạnh”. Người từng sống ở thành phố lớn, khi trở về nơi yên tĩnh thường cảm thấy trống vắng và khó thích nghi. Nhưng dạng kích thích mạnh này lại tiêu hao năng lượng tinh thần. Nếu luôn sống trong trạng thái bị kích thích liên tục, con người sẽ dần “nhờn”, cuối cùng rơi vào trạng thái “ít ham muốn”, mất đi động lực phấn đấu.
Hãy xem những bộ phim, phim truyền hình của thập niên 80–90: ánh mắt con người lúc ấy luôn lấp lánh ánh sáng. Ngày nay, ánh sáng ấy gần như không còn, bởi vì chúng ta luôn sống trong môi trường “quá tải con người”, tinh thần liên tục bị tiêu hao, làm sao còn lấp lánh được nữa? Gần đây nhất là Hồng Kông, thành phố có mật độ dân cư cao nhất thế giới, đồng thời cũng là “sa mạc văn hóa”. Xưa kia, điện ảnh Hồng Kông từng rực rỡ, ngôi sao lấp lánh; nhưng khi hàng triệu người bị nhồi nhét vào không gian sống chật hẹp, dần dần chỉ còn lại sự bồn chồn, bất an, làm sao còn có thể lắng đọng tinh thần?
Nhiều người thường thắc mắc: tại sao ngày xưa trẻ con có thể bị đánh mắng thoải mái, còn ngày nay lại không dám đánh mắng, vì trẻ rất dễ gặp vấn đề tâm lý? Các chuyên gia đưa ra đủ loại giải thích. Nhưng mãi đến khi tôi xem một video hoài cổ trên TikTok, tôi mới chợt tỉnh ngộ: một cậu bé chạy chân trần, vừa chạy vừa ngoái lại nhìn người mẹ đang cầm gậy đuổi theo phía sau, cảnh tượng này đã gợi lại ký ức tuổi thơ của cả thế hệ 7X, 8X. Trong đầu tôi bỗng lóe lên một cụm từ: “thoát thân”. Chạy ra khỏi nhà, phía trước là trời đất mênh mông, mọi cảm xúc tiêu cực đều nhanh chóng tan biến giữa thiên nhiên bao la. Nếu gặp thêm vài đứa bạn nữa thì càng nhanh lành vết thương tâm lý. Nhưng trẻ em ngày nay có thể chạy đi đâu? Chúng chỉ có thể chạy từ phòng khách sang phòng ăn, cảm xúc không được giải tỏa, nên dễ sinh ra vấn đề tâm lý.
Trẻ em ngày nay thực sự rất đáng thương. Thành phố đầy những tòa nhà cao tầng và xe cộ tấp nập, nhưng lại không có lấy một nơi nào thực sự thuộc về chúng. Đến trường thì cha mẹ đưa đón; về nhà lại chui vào “lồng chim bồ câu”, giống như những con vật bị nhốt trong chuồng. Những đứa trẻ lớn lên như vậy, làm sao có thể gánh vác tương lai đất nước?
Trẻ em đáng lẽ phải lớn lên ở những nơi không có xe cộ ồn ào, có một mảnh đất thực sự để đặt chân, có một khoảng trời bốn phương để thư giãn, ở sân vườn, chúng có thể tìm bắt côn trùng, vui đùa thỏa thích; mùa xuân nghe tiếng ếch kêu, mùa hè ngắm sao trời; có thể trò chuyện một mình với trời đất, đối thoại cùng bốn mùa. Những đứa trẻ như vậy mới tràn đầy sức sống.
Con người, cũng như động vật, đều có ý thức về “lãnh thổ”. Khi bàn chân chạm xuống mặt đất rộng lớn, bản năng chinh phục và bảo vệ của nam giới sẽ được khơi dậy. Khi giặc ngoại xâm đến, khẩu hiệu “giữ đất có trách nhiệm” sẽ kích thích tinh thần chiến đấu của đàn ông. Khí chất nam nhi vốn là “tiến thẳng không lùi bước, chí tại bốn phương”. Nhưng ngày nay, khi không có mảnh đất đứng chân, bị nhốt trong những ô vuông chật hẹp của chung cư cao tầng, nam giới mất phương hướng, khí chất dương cương không có nơi phát triển, lâu dần tất yếu sẽ suy giảm khí phách, thậm chí có xu hướng nữ tính hóa.
Việc “tiếp đất” và “hấp thụ sinh khí từ đất” rất quan trọng đối với con người. Có người cho rằng đây là mê tín, nhưng chính việc cụm từ “tiếp đất” xuất hiện và được sử dụng rộng rãi đã chứng minh rằng cảm giác “không tiếp đất” hiện nay là phổ biến và ai cũng cảm nhận được. “Địa khí” tượng trưng cho sinh khí dồi dào, còn chung cư cao tầng lại mang “sát khí”, thỉnh thoảng leo lên cao để thư giãn thì được, nhưng không phù hợp để ở lâu dài.
Hồi nhỏ, trường học ở nông thôn của tác giả đều là nhà ngói một tầng. Mỗi khi tan học, lũ trẻ ùa ra sân, vui đùa ầm ĩ, giống hệt cảnh trong phim “Những ngày nắng đẹp” (In the Heat of the Sun). Hãy tưởng tượng nếu trường học cũng xây thành những tòa nhà 20 tầng—trẻ em ngồi học trong đó chắc chắn sẽ im lặng và gò bó. Đó chính là “sát khí” do kiến trúc cao tầng tạo ra.
Con người cần “tiếp đất”, cần đặt chân vững trên mặt đất. Có đất thì tâm mới an. Đứng trên mặt đất, lòng người mới bình yên. Còn sống trên cao, tâm luôn bất an. Nếu cả xã hội đều sống trong những ô vuông của các tòa nhà cao tầng, con người sẽ liên tục bị tiêu hao, cuối cùng dẫn đến một xã hội “ít ham muốn”. Trung Quốc sẽ đánh mất tương lai!
3. Nhà “lồng chim bồ câu” cản trở nghiêm trọng sự phát triển kinh tế!
Kinh tế học lấy con người làm gốc. Mục đích cuối cùng của phát triển kinh tế là phục vụ con người. Trước đây, khi còn nghèo, mọi người đều có khát vọng cải thiện cuộc sống, muốn có tủ lạnh, ti vi, muốn ở nhà cao tầng, muốn lái ô tô. Mọi người nỗ lực phấn đấu vì điều đó, nhờ vậy nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng phi mã trong hàng chục năm, và người dân thực sự cảm nhận được hạnh phúc, đó là một vòng tuần hoàn lành mạnh của phát triển kinh tế.
Nhưng hiện nay, một số biện pháp kích thích kinh tế lại đi lệch khỏi cốt lõi là “con người”, trở thành “vì kinh tế mà kinh tế”. Giống như một người vốn đã suy nhược, lại cố dùng kích thích để giữ tinh thần, điều này không thể bền vững. Chúng ta cần đáp ứng những nhu cầu thực sự của con người, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển.
Ngày nay, mức sống của người Trung Quốc không ngừng được nâng cao, điều kiện vật chất trong vài thập kỷ qua đã phong phú vượt bậc. Nhưng xét về “ăn, mặc, ở, đi lại”, thì chỉ riêng điều kiện “ở” là ngày càng tệ đi—từ những ngôi nhà riêng rộng rãi, mọi người đều dọn vào những “lồng chim bồ câu” chật hẹp. Có phải vì mọi người thích sống trong “lồng chim bồ câu” không? Có phải chỉ người giàu mới thích biệt thự lớn, nhà tứ hợp viện? Rõ ràng là không! Ai cũng có nhu cầu mạnh mẽ và chân thực muốn có nơi ở tốt hơn, chỉ là nhu cầu ấy đang bị thực tế đè nén quá nặng nề.
Nhu cầu thực sự, mạnh mẽ và có khả năng chi trả của người Trung Quốc về việc cải thiện nơi ở chính là động lực lớn nhất cho sự phát triển kinh tế trong tương lai. Quá trình đáp ứng nhu cầu này sẽ mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên tăng trưởng kinh tế nhanh và lành mạnh.
Hơn nữa, cùng với sự tiến bộ của xã hội và khoa học kỹ thuật, mô hình nhà ở “lồng chim bồ câu” ngày nay đã trở thành rào cản nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế, ngăn cản sự hình thành của những nhu cầu mới.
Ô tô có thể trở thành động lực kinh tế thay thế cho bất động sản. Nhưng mô hình nhà ở chung cư cao tầng khiến đường phố đô thị ùn tắc, thiếu trầm trọng chỗ đậu xe và trạm sạc điện. Ngay cả việc đảm bảo một chỗ đậu xe cho mỗi hộ gia đình cũng đã khó khăn. Trong vòng 20 năm tới, ô tô thông minh sẽ phổ biến như điện thoại di động, người bình thường chỉ cần tích góp một tháng lương là có thể mua được một chiếc. Lượng ô tô tại Trung Quốc có thể tăng gấp nhiều lần. Nhưng hạ tầng đường sá, chỗ đậu xe và trạm sạc hiện nay đều là những rào cản lớn. Ngoài ô tô, trong tương lai còn có drone (máy bay không người lái) và các loại robot gia dụng cũng sẽ phổ biến, tất cả đều cần không gian đủ rộng để lưu trữ và vận hành.
Về mặt kinh tế, nếu không rời khỏi những “lồng chim bồ câu” này, Trung Quốc sẽ đánh mất tương lai!!
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét