Mô hình DINK: Quyền lựa chọn cá nhân hay chiếc bẫy của tự do ảo vọng?
Mô hình hay thế hệ DINK (Double Income No Kids) chỉ những cặp gia đình trong đó hai vợ chồng đều đi làm và có thu nhập nhưng thống nhất không có con. Mô hình này ở các nước công nghiệp khá phát triển, nhiều gia đình Việt Nam đang có xu hướng bắt chước, nhất là thế hệ trẻ có tiếp xúc, quan hệ nhiều với người nước ngoài, phổ biến trong cộng đồng người Việt sống ở nước ngoài.Trưa hôm nay mấy gia đình chúng tôi tổ chức đi ăn với nhau. Ai cũng có con cái đang học hoặc đang định cư ở nước ngoài, một số con sẽ về nước chơi, thăm bố mẹ trong tháng tới. Vì thế nói chuyện và thảo luận xoay quanh câu chuyện DINK của con cái. Người thì lo lắng các con đều có vợ có chồng nhưng thống nhất không sinh con; người thì bảo không quan tâm, thậm chí ủng hộ vì lý do nọ lý do kia...
Câu chuyện làm tôi phải suy nghĩ. Tôi có ba con, chúng đều lớn tuổi, đều định cư ở nước ngoài, đều có thu nhập ổn định, trong đó có đứa lập gia đình từ nhiều năm, nhưng tất cả đều chưa có con.
Nỗi lo của tôi là khi những người cùng thế hệ DINK già đi và những tình cảm vợ chồng dần dần phai nhạt, hai bên không còn những trao đổi, kết nối, thậm chí ly hôn, thì liệu tiền bạc, thứ duy nhất họ có, có thể ngăn cản nỗi cô đơn của tuổi già không con cái không ?
Nhiều người nói về việc không có con và cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì cuộc sống hoàn toàn tự do. Có người không nghĩ tới lúc tuổi già, nhưng cũng có người luôn cảnh báo người bạn đời cuộc sống khi cặp đôi bắt đầu nghỉ hưu. Dĩ nhiên, bản thân việc nghỉ hưu không phải là vấn đề lớn nhất. Vấn đề quan trọng nhất là khi về già, không có con cái, thế giới dần trở nên trống rỗng đối với các cặp vợ chồng quyết định không sinh con.

Chúng ta đang bàn về kết hôn không sinh con và sự cô đơn ở tuổi già, nhưng thực chất là đề cập đến một vấn đề đạo đức sâu sắc hơn: Liệu lối sống DINK có nên được khuyến khích, ca ngợi, thậm chí cổ xúy hay không?
Kết luận của tôi là, do sự bất bình đẳng cơ bản trong cơ chế sinh lý của nam và nữ, việc không sinh con chỉ nên là lựa chọn cá nhân và không bao giờ nên được xã hội và nhà nước công khai quảng bá và khuyến khích như một "chủ nghĩa" hay "lối sống" khoa học.
Thứ nhất, xã hội loài người đã tiến hóa qua hàng vạn năm, từ đó đã phát triển các thể chế hôn nhân, luật nuôi dạy con cái và các chuẩn mực đạo đức. Một trong những mục đích cốt lõi của các hệ thống này là ràng buộc nam giới với trách nhiệm nuôi dạy con cái và chăm sóc gia đình thông qua quyền lực thể chế.
Thứ hai, phụ nữ chắc chắn có quyền lựa chọn không sinh con sau khi đã chuẩn bị đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đây là quyền của mỗi cá nhân được quyết định cuộc sống của mình, và điều đó không có gì sai trái.
Lòng tốt thực sự giữa phụ nữ không phải là việc miễn trừ trách nhiệm cho đàn ông, mà là việc thành thật thông báo cho đàn ông rằng mọi lựa chọn họ đưa ra đều đòi hỏi họ phải hiểu trước những cái giá về mặt sinh lý và tinh thần mà chỉ phụ nữ mới phải trả.
1. Thế hệ DINK và con cái
Nhiều người nói về việc không có con và cảm thấy vô cùng hạnh phúc vì cuộc sống hoàn toàn tự do. Có người không nghĩ tới lúc tuổi già, nhưng cũng có người luôn cảnh báo người bạn đời cuộc sống khi cặp đôi bắt đầu nghỉ hưu. Dĩ nhiên, bản thân việc nghỉ hưu không phải là vấn đề lớn nhất. Vấn đề quan trọng nhất là khi về già, không có con cái, thế giới dần trở nên trống rỗng đối với các cặp vợ chồng quyết định không sinh con.
Tại sao? Thời gian trôi qua, những ca sĩ, ngôi sao điện ảnh và thần tượng mà họ từng nghe khi còn trẻ đang già đi. Khi còn trẻ, họ có thể nghe thấy những ca sĩ quen thuộc ở khắp mọi nơi, trong quán bar, trên TV, hoặc trên điện thoại của họ trên xe buýt và tàu điện ngầm. Giờ đây, những thần tượng đó đã già đi, và ngoài chính họ ra, rất ít người còn nghe nhạc của họ nữa. Những bài hát mà giới trẻ thích chỉ còn là thiểu số đối với người lớn tuổi.
Bạn bè và người thân quen thuộc, những người cùng trang lứa lần lượt qua đời, những ca sĩ và ngôi sao điện ảnh quen thuộc lần lượt biến mất; ngày càng có ít người để trò chuyện. Đi bộ trên một con phố nhộn nhịp cảm thấy vô cùng trống rỗng vì không ai quan tâm đến bạn. Có lẽ bạn có lương hưu cao và không ngại ăn uống, nhưng thế giới không còn sôi động như trước nữa.
Mặt khác, nỗi sợ hãi lớn nhất của người già không chỉ là thiếu kết nối văn hóa, mà là sự suy yếu về thể chất và nhu cầu được chăm sóc. Người già cần một mạng lưới chăm sóc và sự hiện diện của người thân trong những khoảnh khắc sinh tử. Ví dụ: Khi ốm đau nằm viện, tiền bạc có thể mua được người hộ lý, nhưng không mua được ánh mắt lo lắng, sự thức trắng và những quyết định y khoa của người thân thay mình. Con cái và cháu chắt chính là "mỏ neo" giữ người già lại với thế giới này khi cơ thể họ đã bắt đầu rệu rã.
Nhưng việc có con cái thay đổi mọi thứ. Con cái mang đến tất cả những điều kỳ diệu của thế giới. Khi về già, con cái kết hôn sẽ mang đến cho bạn con dâu hoặc con rể, và bạn sẽ có thêm một vòng tròn bạn bè và người thân.
Rồi còn có các cháu chắt, bạn đưa chúng đến trường và nhà trẻ, được gặp gỡ thêm nhiều bậc phụ huynh khác. Nhờ có con cái và cháu chắt, bạn sẽ nghe thấy những bài hát quen thuộc trong danh sách nhạc của chúng, ngay cả khi bạn không thích. Bạn sẽ quen thuộc với những bài hát này khi nghe chúng ở ngoài đường, và bạn sẽ cảm thấy bận rộn và mãn nguyện.
Với con cái và cháu chắt nối tiếp nhau, thế giới trở nên sống động hơn, và nhân loại có thể tiếp tục những điều kỳ diệu của mình. Vì thế nhiều người mới nói những người chọn không có con đang bị lầm lạc. Còn tôi, tôi cho rằng nếu chỉ nhìn vào sự tự do trước mắt mà bỏ qua cái giá của sự cô độc về sau, chúng ta rất dễ rơi vào một sự ngộ nhận về hạnh phúc của cả cuộc đời.
Là người tôn trọng quyền sống tự do và sự khác biệt, tôi không trách những người trẻ chọn DINK cũng như các con tôi nếu chúng như thế. Trong bối cảnh áp lực kinh tế, giá nhà đất leo thang, và những tổn thương từ chính cuộc hôn nhân của thế hệ trước mà chúng chứng kiến, nhiều người trẻ chọn DINK như một cơ chế tự vệ. Họ sợ không đủ khả năng tài chính, sợ mất đi sự tự do, hoặc sợ lặp lại những sai lầm của cha mẹ. Tuy nhiên, sự thấu cảm với những khó khăn của họ không có nghĩa là chúng ta được phép đóng gói lối sống đó thành một 'lý tưởng đáng khao khát' để quảng bá rộng rãi.
2. Một câu hỏi đạo đức sâu sắc hơn
Chúng ta đang bàn về kết hôn không sinh con và sự cô đơn ở tuổi già, nhưng thực chất là đề cập đến một vấn đề đạo đức sâu sắc hơn: Liệu lối sống DINK có nên được khuyến khích, ca ngợi, thậm chí cổ xúy hay không?
Kết luận của tôi là, do sự bất bình đẳng cơ bản trong cơ chế sinh lý của nam và nữ, việc không sinh con chỉ nên là lựa chọn cá nhân và không bao giờ nên được xã hội và nhà nước công khai quảng bá và khuyến khích như một "chủ nghĩa" hay "lối sống" khoa học.
Thứ nhất, xã hội loài người đã tiến hóa qua hàng vạn năm, từ đó đã phát triển các thể chế hôn nhân, luật nuôi dạy con cái và các chuẩn mực đạo đức. Một trong những mục đích cốt lõi của các hệ thống này là ràng buộc nam giới với trách nhiệm nuôi dạy con cái và chăm sóc gia đình thông qua quyền lực thể chế.
Đây không phải là sự áp bức nam giới, mà là dấu hiệu của sự tiến bộ văn minh; đó là các khế ước xã hội để bù đắp cho sự thiếu hụt bản năng sinh học và cung cấp sự bảo vệ về mặt thể chế cho giá trị sinh sản của phụ nữ. Về mặt triết học, các khế ước hôn nhân và đạo đức được thiết lập để ràng buộc trách nhiệm của nam giới, nhằm bù đắp cho những thiệt thòi to lớn về thể chất và sự nghiệp mà phụ nữ phải đánh đổi khi mang nặng đẻ đau và chăm sóc con, từ đó bảo vệ sự công bằng trong cấu trúc gia đình.
Thứ hai, phụ nữ chắc chắn có quyền lựa chọn không sinh con sau khi đã chuẩn bị đầy đủ về vật chất và tinh thần. Đây là quyền của mỗi cá nhân được quyết định cuộc sống của mình, và điều đó không có gì sai trái.
Tuy nhiên, có một khoảng cách đạo đức rất lớn giữa "sự lựa chọn cá nhân" và "tuyên bố công khai", thậm chí "ca ngợi, khuyến khích" điều đó. Bất kỳ câu chuyện công khai nào gán cho mô hình DINK là "đẳng cấp", là "tự do" hoặc "hiện đại" đều vô tình làm ngơ trước những rủi ro sinh học không thể đảo ngược mà người phụ nữ phải âm thầm gánh chịu, bao gồm cả giai đoạn sinh lý không thể đảo ngược, bất lợi khi bị buộc phải xem xét lại ở tuổi trung niên và tuổi già, và sự cô đơn ở tuổi già khi bắt đầu xuất hiện việc thu hẹp các mối quan hệ xã hội.
Thứ ba, khi một người nổi tiếng và tiếng nói có sức ảnh hưởng ủng hộ việc không sinh con, điều đó khách quan giúp đàn ông đạt được "sự giải thoát trách nhiệm về mặt pháp lý" với phụ nữ, khiến cho sự vô trách nhiệm với người bạn đời của họ trở nên hợp lý và bình thường hóa.
Trên thế giới có rất nhiều cặp đôi thống nhất không sinh con. Tuy nhiên, đến khi hai vợ chồng già đi, cuối cùng do những thay đổi tâm sinh lý, họ ly hôn; người chồng được tự do đi lấy vợ trẻ và sinh con trong khi người vợ hoàn toàn mất khả năng sinh con nên rất khó đi bước nữa để tìm được người đồng hành với mình lúc tuổi già.
Đây chính là tác hại nguy hiểm nhất: nó sử dụng lớp vỏ bọc ngọt ngào của tự do đương đại để che đậy bản chất cay đắng của sự bất bình đẳng về mặt sinh lý.
Dĩ nhiên, không phải người đàn ông nào cũng bội bạc, nhưng khi không có sợi dây liên kết máu mủ và sự ràng buộc của trách nhiệm nuôi dạy con cái, mối quan hệ thuần túy dựa trên cảm xúc lứa đôi sẽ trở nên mong manh hơn rất nhiều trước những thay đổi của tuổi tác và tâm sinh lý.
Vì vậy, tôi không phản đối việc không có con, nhưng tôi phản đối việc cổ vũ điều đó. Bạn có thể chọn con đường ít người đi, nhưng xin đừng quay lại và nói với những người phía sau rằng, "Con đường này đầy hoa; đây là con đường tuyệt vời để chúng ta cùng đi", chỉ vì bạn có đầy đủ điều kiện để đi, trong khi những người phụ nữ khác có thể rất rủi ro.
3. Trên thực tế, nhiều quan điểm được những người theo chủ nghĩa nữ quyền đề xướng một cách thiếu trách nhiệm đã gây tổn hại đến lợi ích chung của phụ nữ. Đây có thể coi là "Chủ nghĩa nữ quyền cực đoan" hoặc "Trào lưu nữ quyền bề nổi".
Vì vậy, tôi không phản đối việc không có con, nhưng tôi phản đối việc cổ vũ điều đó. Bạn có thể chọn con đường ít người đi, nhưng xin đừng quay lại và nói với những người phía sau rằng, "Con đường này đầy hoa; đây là con đường tuyệt vời để chúng ta cùng đi", chỉ vì bạn có đầy đủ điều kiện để đi, trong khi những người phụ nữ khác có thể rất rủi ro.
3. Trên thực tế, nhiều quan điểm được những người theo chủ nghĩa nữ quyền đề xướng một cách thiếu trách nhiệm đã gây tổn hại đến lợi ích chung của phụ nữ. Đây có thể coi là "Chủ nghĩa nữ quyền cực đoan" hoặc "Trào lưu nữ quyền bề nổi".
Mặc dù họ mạnh mẽ "đấu tranh cho quyền của phụ nữ", nhưng thực chất họ đang sử dụng những khẩu hiệu về tự do tuyệt đối để che đậy sự mất cân bằng quyền lực trong cấu trúc thực tế và giúp những người đã được hưởng lợi chối bỏ trách nhiệm của mình với người bạn đời.
Lòng tốt thực sự giữa phụ nữ không phải là việc miễn trừ trách nhiệm cho đàn ông, mà là việc thành thật thông báo cho đàn ông rằng mọi lựa chọn họ đưa ra đều đòi hỏi họ phải hiểu trước những cái giá về mặt sinh lý và tinh thần mà chỉ phụ nữ mới phải trả.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét