Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2026

Về chức Chủ tịch Hội Nhà văn VN của ông Nguyễn Quang Thiều ?

Về chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam của ông Nguyễn Quang Thiều ?
Các bạn quan tâm tới thời cuộc đều biết hôm qua ngày 30/7 Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, ông Nguyễn Quang Thiều. Ủy ban Kiểm tra Trung ương yêu cầu một số tổ chức đảng rà soát, kiểm tra, xem xét, xử lý đối với các tổ chức đảng, đảng viên có liên quan, báo cáo kết quả về Ủy ban Kiểm tra Trung ương.
Câu hỏi đang được dư luận bàn tán là tại sao Ủy ban Kiểm tra Trung ương không trực tiếp cách chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam của ông Nguyễn Quang Thiều, và nếu vậy thì sau quyết định kỷ luật của Đảng, chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam của ông Nguyễn Quang Thiều sẽ được xử lý như thế nào? Đặc biệt, nếu Ban Chấp hành Hội Nhà văn không bãi miễn ông Thiều thì liệu Bộ Nội vụ hay bất kỳ cơ quan nhà nước nào có quyền ra quyết định cách chức ông hay không?

Tôi là một trong 5 cán bộ của Bộ Kế hoạch và Đầu tư sáng lập Hội phát triển hợp tác kinh tế Việt Nam - ASEAN năm 2007. Tôi là người soạn thảo hầu như tất cả các công văn, giấy tờ liên quan đến việc thành lập Hội này (kể cả điều lệ), là người trực tiếp làm việc với Bộ Nội vụ, Ban Tổ chức trung ương, Ban Kinh tế trung ương, Bộ Ngoại giao, Ban đối ngoại trung ương, Bộ Tài chính, Bộ Công thương... để hoàn thiện các thủ tục thành lập Hội, sau đó làm Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký trong hơn 10 năm (4 cán bộ khác thường xuyên đọc FB này của tôi). 

Vì thế, theo thói quen nghề nghiệp, khi chuyện ông Thiều xảy ra, tự nhiên tôi nghĩ đến một số khả năng có thể xảy ra đối với chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam của ông Nguyễn Quang Thiều. Tôi cũng xin nói trước là tôi không nói việc kỷ luật ông Thiều đúng hay sai, không suy diễn quá phạm vi pháp luật, mà chỉ căn cứ vào hiểu biết của tôi về pháp luật để đưa ra một số phân tích theo khía cạnh pháp lý làm tư liệu tham khảo cho các bạn.

Theo tôi, những câu hỏi nêu trên tưởng như đơn giản nhưng cũng khá phức tạp vì chúng liên quan đến ba lĩnh vực hoàn toàn khác nhau: kỷ luật của Đảng, pháp luật về hội và quản lý nhà nước. Muốn trả lời chính xác phải phân biệt rõ ba hệ thống thẩm quyền này.

Trước hết, quyết định của Ủy ban Kiểm tra Trung ương là quyết định kỷ luật của Đảng, không phải quyết định hành chính của Nhà nước. Quyết định đó chỉ chấm dứt các chức vụ của ông Nguyễn Quang Thiều trong hệ thống tổ chức của Đảng, chứ không tự động làm chấm dứt các chức vụ được hình thành theo pháp luật của nhà nước hoặc theo điều lệ của một tổ chức xã hội.

Thứ hai, chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam không phải là chức vụ do Nhà nước bổ nhiệm. Theo Điều 16 Điều lệ Hội Nhà văn Việt Nam, Chủ tịch Hội do Ban Chấp hành bầu trong số các ủy viên Ban Thường vụ. Cũng chính Điều 16 quy định, trong nhiệm kỳ, việc bãi miễn Chủ tịch Hội phải được trên một nửa tổng số ủy viên Ban Chấp hành tán thành bằng phiếu kín. Điều đó có nghĩa, thẩm quyền bãi miễn Chủ tịch thuộc về Ban Chấp hành Hội chứ không thuộc bất kỳ cơ quan hành chính nào.

Thứ ba, Bộ Nội vụ là cơ quan thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với các hội theo Nghị định số 126/2024/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. Tuy nhiên, quản lý nhà nước không đồng nghĩa với quyền bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm lãnh đạo hội. Nghị định quy định Bộ Nội vụ có trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hội, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật, công nhận kết quả đại hội theo quy định..., nhưng không có điều khoản nào trao cho Bộ Nội vụ quyền trực tiếp ký quyết định cách chức Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam.

Từ sự phân định thẩm quyền đó, có thể phân tích một số khả năng pháp lý có thể xảy ra sau quyết định kỷ luật của Đảng.

Khả năng thứ nhất là 
Ban Chấp hành Hội Nhà văn tiến hành họp theo đúng Điều lệ và biểu quyết bãi miễn Chủ tịch Hội. Nếu trên một nửa tổng số ủy viên Ban Chấp hành bỏ phiếu tán thành thì ông Nguyễn Quang Thiều sẽ thôi giữ chức Chủ tịch, đồng thời Ban Chấp hành bầu Chủ tịch mới theo quy định. Đây là phương án phù hợp nhất với Điều lệ Hội và cũng là phương án nhiều người dự đoán chắc chắn sẽ xảy ra.

Khả năng thứ hai là Ban Chấp hành họp nhưng không đủ số phiếu để bãi miễn. Ví dụ Ban Chấp hành có 31 thành viên thì phải có ít nhất 16 phiếu đồng ý mới đạt yêu cầu. Nếu chỉ có 15 phiếu hoặc ít hơn thì nghị quyết bãi miễn không được thông qua. Trong trường hợp đó, xét thuần túy theo Điều lệ Hội, ông Nguyễn Quang Thiều vẫn tiếp tục giữ chức Chủ tịch. Điều lệ Hội Nhà văn không hề quy định rằng người bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng thì đương nhiên mất chức Chủ tịch Hội. Hai vấn đề này thuộc hai hệ thống pháp lý khác nhau.

Khả năng thứ ba là thực hiện yêu cầu của 
Ủy ban Kiểm tra Trung ương, tổ chức đảng của Hội nhà văn họp xem xét, xử lý đảng viên có liên quan là ông Nguyễn Quang Thiều. Tuy nhiên, Ban Chấp hành không phải tổ chức Đảng, nên có thể không tiến hành họp theo yêu cầu của tổ chức đảng hoặc không thể họp. Điều lệ đã quy định cách thức bãi miễn, nhưng để quy định đó được thực hiện thì cuộc họp Ban Chấp hành phải được triệu tập hợp lệ và đủ điều kiện tiến hành. Nếu vì bất kỳ lý do nào cuộc họp không được tổ chức hoặc không đủ điều kiện hợp lệ thì việc bãi miễn cũng không thể diễn ra. Đây là một khả năng về mặt thủ tục, dù trên thực tế ở Việt Nam chắc chắn không thể xảy ra.

Khả năng thứ tư là Ban Chấp hành chủ động bỏ phiếu giữ nguyên Chủ tịch. Giả sử đa số Ban Chấp hành cho rằng việc bị kỷ luật trong Đảng không phải là căn cứ để miễn nhiệm Chủ tịch Hội và họ biểu quyết không bãi miễn. Nếu cuộc họp được tiến hành đúng Điều lệ thì về mặt pháp lý, nghị quyết đó vẫn có giá trị. Trong trường hợp này, Đảng không có quyết định hành chính để trực tiếp cách chức Chủ tịch Hội; Bộ Nội vụ cũng không có thẩm quyền thay Ban Chấp hành bỏ phiếu hoặc ra quyết định miễn nhiệm thay Ban Chấp hành. Đây chính là tình huống có thể dẫn đến một khoảng trống về cơ chế xử lý trực tiếp.

Khả năng thứ năm là ông Nguyễn Quang Thiều không còn đáp ứng tiêu chuẩn của chức danh Chủ tịch. Điều 16 Điều lệ Hội Nhà văn quy định: "Tiêu chuẩn Chủ tịch Hội do Ban Chấp hành Hội quy định, trên cơ sở đáp ứng các điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định của Đảng và Nhà nước." Đây là điểm cần được nghiên cứu thêm. 

Nếu Ban Chấp hành hoặc cơ quan có thẩm quyền đã ban hành quy định cụ thể về tiêu chuẩn Chủ tịch Hội, trong đó yêu cầu người giữ chức vụ phải đáp ứng những điều kiện mà sau quyết định kỷ luật ông Nguyễn Quang Thiều không còn đáp ứng, thì đó có thể trở thành căn cứ pháp lý để xem xét miễn nhiệm. Ngược lại, nếu không có quy định cụ thể như vậy thì việc bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng không đồng nghĩa với việc đương nhiên mất chức Chủ tịch Hội theo Điều lệ hiện hành.

Thực tế đối với các Hội có tính chất "chính trị - xã hội - nghề nghiệp" như Hội Nhà văn Việt Nam, nhân sự Chủ tịch Hội thuộc diện Ban Bí thư Trung ương Đảng quản lý hoặc cho ý kiến (thông qua Ban Tuyên giáo Trung ương và Ban Tổ chức Trung ương) trước khi Ban Chấp hành Hội tiến hành bầu/bãi miễn.

Khả năng thứ sáu là cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biện pháp đối với chính Hội chứ không phải trực tiếp đối với Chủ tịch Hội. Trong trường hợp Ban Chấp hành không thực hiện việc miễn nhiệm và nếu phát sinh vi phạm pháp luật hoặc vi phạm Điều lệ, Bộ Nội vụ vẫn có thể thực hiện các quyền quản lý nhà nước như thanh tra, kiểm tra, yêu cầu khắc phục vi phạm hoặc áp dụng các biện pháp quản lý khác theo quy định của Nghị định 126/2024/NĐ-CP. Tuy nhiên, các biện pháp đó là đối với tổ chức Hội chứ không phải là quyết định hành chính trực tiếp cách chức Chủ tịch Hội.

Qua phân tích trên có thể thấy, pháp luật hiện hành đã quy định khá rõ ai có quyền bầu Chủ tịch Hội, ai có quyền bãi miễn Chủ tịch Hội và tỷ lệ biểu quyết cần thiết. Tuy nhiên, pháp luật và Điều lệ Hội không quy định rằng người bị cách tất cả các chức vụ trong Đảng thì đương nhiên mất chức Chủ tịch Hội. Đồng thời cũng chưa có quy định trao cho Bộ Nội vụ hoặc bất kỳ cơ quan hành chính nào quyền trực tiếp cách chức Chủ tịch Hội trong trường hợp Ban Chấp hành không thực hiện việc bãi miễn.

Nói cách khác, nếu đặt ra một giả định đặc biệt là Ban Chấp hành không biểu quyết bãi miễn, đồng thời không tồn tại quy định nội bộ hoặc căn cứ pháp lý khác làm mất tiêu chuẩn của Chủ tịch Hội, thì có thể xuất hiện một khoảng trống về cơ chế xử lý trực tiếp đối với chức danh này. Đây là một nhận định mang tính phân tích pháp lý dựa trên các quy định hiện hành, chứ không phải khẳng định rằng khoảng trống đó chắc chắn sẽ phát sinh trên thực tế.

Tuy nhiên, thực tiễn vận hành ở Việt Nam lại cho thấy một bức tranh khác. Có thể thấy ở nhiều hội có tính chất đặc thù, nhất là các hội là
 tổ chức có hai chữ "chính trị" kèm theo, ví dụ "Hội Nhà văn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp", thì Ban Chấp hành thường có tỷ lệ đảng viên khá cao và trong hội đều có tổ chức đảng. 

Vì đa số ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn là Đảng viên, nên về nguyên tắc, khi Đảng ủy cấp trên có chỉ đạo, Đảng đoàn Hội Nhà văn sẽ có trách nhiệm quán triệt các Ủy viên BCH là Đảng viên chấp hành xử lý theo yêu cầu.

Điều này tạo điều kiện để Đảng thực hiện vai trò lãnh đạo thông qua tổ chức đảng trong hội, nhất là đối với các vấn đề về công tác cán bộ và nhân sự. Nếu Ban Chấp hành không thực hiện các chủ trương hoặc quyết định của tổ chức đảng, thì các đảng viên trong Ban Chấp hành có thể bị Đảng ủy cấp trên xem xét trách nhiệm theo các quy định của Đảng. Vì vậy, mặc dù về mặt lý thuyết có thể tồn tại một khoảng trống pháp lý trong một số giả định đặc biệt, nhưng trên thực tế khoảng trống đó rất ít khi trở thành bế tắc trong quá trình xử lý nhân sự.

Trường hợp của ông Nguyễn Quang Thiều vì thế không chỉ là câu chuyện về một cá nhân hay một hội nghề nghiệp, mà còn là một ví dụ đáng chú ý để thấy rõ sự khác biệt giữa ba hệ thống: kỷ luật của Đảng, quyền tự quản của hội theo Điều lệ và thẩm quyền quản lý nhà nước theo pháp luật. Chỉ khi phân biệt rạch ròi ba hệ thống này mới có thể lý giải đầy đủ vì sao quyết định kỷ luật của Đảng không đồng nghĩa với việc một chức vụ trong một hội nghề nghiệp tự động chấm dứt, đồng thời cũng hiểu được vì sao trên thực tế những khoảng trống pháp lý tưởng như tồn tại lại hiếm khi trở thành vướng mắc trong quá trình vận hành của hệ thống.


P/S - Đối với các hội xã hội - nghề nghiệp, ở đó vai trò của tổ chức Đảng yếu, còn có một số trường hợp bế tắc khi muốn cắt chức Chủ tịch Hội nếu chỉ phân tích dưới góc độ pháp lý (không bàn đến thực tiễn chính trị). Tuy nhiên, cần phân biệt giữa giả thuyết hợp lý về mặt pháp luật và giả thuyết ít có khả năng xảy ra trên thực tế do hoàn cảnh Việt Nam. Ví dụ:

1. Ban Chấp hành không đủ số người quy định để họp

Điều lệ Hội có thể quy định phải có trên một nửa hoặc 2/3 ủy viên BCH tham dự mới đủ điều kiện họp. Nếu nhiều ủy viên đã từ chức, qua đời, đi nước ngoài, ốm nặng, hoặc đơn giản không muốn đến họp..., thì không đủ số ủy viên theo quy định. Kết quả là không thể biểu quyết miễn nhiệm cũng không thể bầu người mới.

2. Điều lệ Hội không quy định rõ căn cứ miễn nhiệm

Có những điều lệ chỉ quy định miễn nhiệm khi Chủ tịch Hội chủ động xin thôi, mất năng lực hành vi, chết, hết nhiệm kỳ... mà không quy định trường hợp "bị kỷ luật Đảng". Khi đó, BCH có thể lập luận: "Điều lệ không có căn cứ để miễn nhiệm", hoặc kỷ luật Đảng mức đó (chưa bị khai trừ Đảng) thì vẫn đủ tiêu chuẩn giữ chức Chủ tịch Hội. Lúc đó việc miễn nhiệm sẽ khó khăn về mặt thủ tục.

3. BCH biểu quyết nhưng không đạt đa số

Ví dụ BCH có 15 người. 7 phiếu miễn nhiệm. 8 phiếu không đồng ý. Hoặc tỷ lệ cần thiết là 2/3 nhưng chỉ đạt 60%. Khi đó về mặt pháp lý, Chủ tịch vẫn giữ chức.

4. Hội viên khởi kiện

Giả sử BCH miễn nhiệm 
Chủ tịch Hội nhưng xảy ra các tình huống không triệu tập đúng thủ tục, không đủ số thành viên theo quy định, bỏ phiếu sai điều lệ... Chủ tịch Hội hay một hội viên có quyền yêu cầu Tòa án xem xét tính hợp pháp của nghị quyết (nếu có căn cứ theo pháp luật tố tụng và pháp luật dân sự liên quan).

Nếu Tòa tuyên nghị quyết vô hiệu thì người bị miễn nhiệm có thể được khôi phục tư cách cho đến khi Hội thực hiện lại đúng thủ tục.

5. Chủ tịch không chấp hành

Đây là giả thuyết thú vị, đã có trường hợp xảy ra trong thực tế. BCH đã miễn nhiệm, nhưng 
Chủ tịch Hội không bàn giao con dấu, không bàn giao hồ sơ, vẫn nhân danh Chủ tịch ký văn bản. Lúc đó lại phát sinh tranh chấp về đại diện theo pháp luật của Hội.

Trong trường hợp này, nếu nội bộ Hội không dàn xếp được, Bộ Nội vụ hoặc UBND cấp tỉnh (nơi cấp phép) cùng với Bộ Công an có thẩm quyền thu hồi/hủy con dấu cũ và cấp con dấu mới cho người đại diện hợp pháp mới dựa trên Nghị quyết bãi miễn hợp lệ.

6. Còn một số trường hợp khác, nhưng bài đã dài nên tạm dừng.

Xem tin Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã quyết định thi hành kỷ luật bằng hình thức cách chức tất cả các chức vụ trong Đảng đối với Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, ông Nguyễn Quang Thiều ở đây:

https://dantri.com.vn/thoi-su/ky-luat-ong-nguyen-quang-thieu-va-nhieu-lanh-dao-nxb-hoi-nha-van-20260730173436304.htm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét