Đại nhảy vọt học thuật và công trình làm giả trong tháp ngà
Tác giả: Cố Túc | Khoa Triết học, Đại học Nam Kinh - Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa đang tiến bước để trở thành một cường quốc kinh tế và quân sự, nhưng vẫn còn một khoảng cách khá xa để đạt được vị thế cường quốc chính trị và văn hóa. Trình độ và chất lượng giáo dục, khoa học công nghệ là một vấn đề then chốt. Bài viết này chủ yếu thảo luận về các nguyên nhân mang tính thể chế của vấn đề này, đồng thời đưa ra những đề xuất cải cách tương ứng.
1. Vấn đề "Tiền Học Sâm" của các trường đại học Trung Quốc
Những người lớn tuổi hôm nay đều còn nhớ cuộc "Đại nhảy vọt" diễn ra trên đất nước Trung Hoa vào năm 1958. Một làn sóng đam mê cuồng nhiệt dâng lên từ trên xuống dưới, quyết tâm xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc kinh tế chỉ trong một hơi thở, nỗ lực vượt Anh đuổi Mỹ. Để luyện được hơn 10,7 triệu tấn thép vượt mặt nước Anh trong một thời gian ngắn, toàn dân được huy động, khắp nơi xây dựng các lò cao nhỏ, luyện thép bằng phương pháp thủ công. Người dân ở mọi nơi, bất kể có hiểu kỹ thuật luyện thép cơ bản hay không, đều lao vào sự nghiệp luyện thép vĩ đại. Người ta không tiếc đem cả đồ dùng bằng sắt thép hiện có ra, đập nồi bán sắt, ném vào các lò cao đất, nhưng trong nhiều trường hợp, những cục sắt luyện ra chẳng có tác dụng gì. Trong thời đại toàn dân cuồng nhiệt ấy, "chỗ nào cũng phóng vệ tinh" (báo cáo vống thành tích), "người to gan bao nhiêu, đất sản lượng bấy nhiêu", theo đuổi phiến diện số lượng sản phẩm đơn thuần mà bỏ qua chất lượng. Từ lãnh đạo cao nhất đến người nông dân bình thường đều tin rằng có thể tạo ra kỳ tích sản lượng cao.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, trong thời đại cải cách mở cửa, về cơ bản kinh tế không lặp lại sai lầm của Đại nhảy vọt. Thế nhưng, trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, lại xuất hiện một số hiện tượng tương tự như Đại nhảy vọt. Hơn mười năm trở lại đây, các trường đại học trên cả nước mở rộng quy mô tuyển sinh một cách ồ ạt, khiến số lượng sinh viên được đào tạo tăng đột biến. Đặc biệt, số lượng tuyển sinh thạc sĩ và tiến sĩ không ngừng tăng lên, thế mà số lượng nghiên cứu sinh tốt nghiệp lại đứng đầu thế giới, dường như chỉ một bước đã trở thành cường quốc giáo dục số một thế giới. Và sự gia tăng số lượng thành quả nghiên cứu khoa học tương ứng cũng đáng kinh ngạc, số lượng bài báo khoa học của Trung Quốc đã đạt vị trí thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ (chú thích: hiện nay đã vượt Mỹ, vươn lên đứng đầu thế giới). Điều này được một số nhân sĩ quốc tế coi là dấu hiệu cho thấy trình độ nghiên cứu khoa học của Trung Quốc đang thăng tiến nhanh chóng.
Tuy nhiên, từ tình hình hiện tại, nhân tài xuất sắc quả thực cũng đào tạo được không ít, nhưng số kẻ "vàng thau lẫn lộn" lại tăng lên nhiều hơn. Trong đó, điều khiến người ta cảm nhận rõ rệt nhất là chất lượng luận văn do nghiên cứu sinh viết. Luận văn chuyên ngành của các khối lý, công, y, nông, văn đều cần sự đổi mới sáng tạo, nếu chỉ lặp lại lời của các chuyên gia uy tín mà không có quan điểm mới mẻ và lập luận chặt chẽ, thì đó cũng chỉ là lao động trùng lặp, làm như không làm. Nếu giáo dục đại học ngày nay chỉ đào tạo ra những con vẹt bảo sao nghe vậy, không có gì đổi mới, thì đó sẽ là một sự lãng phí tài nguyên giáo dục khổng lồ.
Việc đánh giá thành quả nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân tài bắt buộc phải tuân thủ một số chuẩn mực học thuật cơ bản. Mức độ sáng tạo của các thành quả có thể khác nhau, nhưng giới hạn cuối cùng là luận văn và thành quả phải do chính mình viết, dữ liệu thực nghiệm không được làm giả. Những năm gần đây, số lượng bài báo do các trường đại học và viện nghiên cứu trên cả nước sản xuất liên tục "phóng vệ tinh". Nhưng rốt cuộc có bao nhiêu thành quả sáng tạo chất lượng cao, quả thực rất đáng xem xét. Một trong những vấn đề khá nghiêm trọng là đạo văn và làm giả. Tạp chí y khoa danh tiếng quốc tế, The Lancet của Anh, ngày 9 tháng 1 năm 2010 đã đặc biệt đăng bài xã luận với tiêu đề "Làm giả: Trung Quốc cần hành động", gióng lên hồi chuông cảnh báo cho chúng ta. Đây không phải là lần đầu tiên tạp chí học thuật danh tiếng quốc tế phanh phui vấn đề gian lận học thuật của Trung Quốc. Ngày 31 tháng 5 năm 2006, tạp chí Nature của Anh cũng đã đăng bài xã luận mang tên "Tìm kiếm sự gian lận ở Trung Quốc". Việc này đã thu hút sự chú ý của giới học thuật quốc tế và trở thành một vấn đề đạo đức học thuật khá nghiêm trọng.
Chúng ta tuyệt đối không được phớt lờ những hành vi sai trái trong học thuật đang tồn tại ở giới học thuật Trung Quốc. Nhìn vào giáo dục sau đại học, những ví dụ về đạo văn luận văn học vị vẫn nhan nhản. Vấn đề cốt lõi là sự thiếu hụt ý thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản. Giống như Khổng Ất Kỷ không coi việc trộm sách là lỗi, một số người cũng không coi đạo văn là vấn đề đạo đức nghiêm trọng. "Bài vở trong thiên hạ chỉ là một bài chép lớn", đã trở thành phương châm sống của một số người. Sau cải cách mở cửa, mặc dù ý thức tôn trọng sở hữu trí tuệ đã được khôi phục, nhưng vẫn có những người không coi đạo văn là lỗi lầm. Giáo viên hướng dẫn là người gác cổng quan trọng nhất, nhưng chúng ta thấy rằng, một số người hướng dẫn cơ bản không thèm đọc luận văn của sinh viên, chứ đừng nói đến việc đưa ra ý kiến sửa chữa, cứ thế cho sinh viên bảo vệ và nhận bằng. Thậm chí có một số giáo viên hướng dẫn còn hỏi riêng sinh viên: Luận văn của em chép của mấy bài? Nếu chép từ ba bốn bài trở lên thì có thể qua. Đây là việc công khai khuyến khích sinh viên tiến hành đạo văn một cách "khéo léo". Đặc biệt, một số cán bộ lãnh đạo bản thân họ cũng gia nhập hàng ngũ đạo văn luận văn. Sức mạnh "tấm gương" như vậy làm sao không dung túng cho phong trào đạo văn, vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực học thuật?
Không chỉ làm giả luận văn, trong các hoạt động giảng dạy và xét duyệt giải thưởng của các trường đại học, những chuyện làm giả cũng thường xuyên xảy ra. Tiêu biểu nhất là việc đánh giá chất lượng giảng dạy đại học toàn quốc. Lẽ ra, việc đánh giá giảng dạy sẽ giúp thúc đẩy công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của các trường, nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, phương thức đánh giá lại thường ảnh hưởng trực tiếp đến việc có đạt được những kết quả kỳ vọng này hay không. Xét tình hình hiện tại, các cuộc đánh giá hiện hành không đạt được mục tiêu đó. Nguyên nhân là do sử dụng các biện pháp hành chính để tập trung đánh giá trong một tuần, và ấn định trước thời gian một tuần này từ hơn nửa năm trời. Đoàn chuyên gia chỉ dự thính vài tiết học, xem xét tài liệu trong đúng một tuần này, chẳng khác nào "chuồn chuồn đạp nước, thầy bói xem voi", không thể nắm bắt được thông tin chân thực về tình trạng giảng dạy của một trường đại học. Một số trường đại học để đón đoàn đánh giá, thậm chí đã đình chỉ các hoạt động nghiên cứu khoa học và ngoại khóa bình thường, tiến hành làm giả với số lượng lớn. Ví dụ như sửa lại và in lại luận văn tốt nghiệp và tiểu luận cuối năm của sinh viên, sửa đổi bài thi, kể cả việc chấm lại điểm. Thậm chí yêu cầu giáo viên không giảng dạy theo tiến độ bình thường, mà trong tuần đánh giá phải giảng bài gọi là "đặc sắc nhất", làm các bài giảng slide (PPT) thật lộng lẫy. Dàn xếp trước nội dung sinh viên đặt câu hỏi, bao gồm việc phân công sinh viên nào hỏi câu gì.
Để đối phó với đoàn đánh giá, một số trường đại học rầm rộ làm vệ sinh, sửa đường quét vôi tường, thậm chí trong tuần lễ đó mỗi khoa viện đều thuê hoa tươi bày la liệt khắp sảnh đường. Tất cả giáo viên và sinh viên từng trải qua đợt đánh giá đều không khỏi cảm thấy đây là một kiểu làm giả tập thể, ngay cả 10-20 trường đại học danh tiếng hàng đầu toàn quốc cũng không ngoại lệ. Các hiệu trưởng còn viện đủ loại lý do cho kiểu diễn kịch tập thể, dối trá này, chẳng hạn như để nhận được nhiều kinh phí hơn, cải thiện đãi ngộ. Có trường đại học nổi tiếng, trong tinh thần đón đánh giá truyền đạt xuống các cấp, thậm chí còn lặp đi lặp lại câu nói: "Ai mắc lỗi trong đợt đón đánh giá này, tôi sẽ đập vỡ bát cơm của người đó", thực chất chẳng khác nào những lời lẽ thổ phỉ uy hiếp. Đây mới chính là những điều thực sự làm mất đi thể diện của giới trí thức.
Thực ra, không phải không có vị hiệu trưởng nào nhìn thấy tệ nạn dối trá trong kiểu đánh giá này. Tháng 3 năm 2008, vị hiệu trưởng của một trường đại học danh tiếng đã viết bài trên tờ Nhân Dân Nhật báo, chỉ trích "việc đánh giá đại học quá tràn lan, một số công chức mượn quyền lực để chỉ tay năm ngón", "do một số trường mở rộng quá nhanh, dẫn đến giảng dạy và quản lý không theo kịp. Yêu cầu họ đào tạo ra sinh viên đạt chuẩn, yêu cầu đánh giá giảng dạy của họ là xuất sắc, thực chất là có khó khăn, thậm chí khó khăn rất lớn. Để đối phó với đánh giá, họ đã làm giả, ví dụ như làm giả các biên bản cuộc họp, thực sự rất tồi tệ".
Khi vấn đề đã bị phát hiện, lẽ ra các ban ngành liên quan phải kịp thời chấn chỉnh hoặc cải cách, nhưng họ lại tiếp tục việc đánh giá mang tính áp đặt hành chính này, hơn nữa quy mô và cấp độ làm giả ngày càng lớn. Thêm vào đó, các thành viên trong đoàn chuyên gia phần lớn là cán bộ lãnh đạo cấp trường, cấp khoa; họ vừa là những kẻ làm giả trong đợt đánh giá của trường mình, lại vừa là những khán giả thưởng thức sự làm giả của các trường khác. Tự lừa mình dối người, tạo thành một vòng luẩn quẩn, không ngừng trình diễn những màn kịch tốn công tốn của. Với kiểu làm giả phổ biến để đối phó với các loại đánh giá như vậy, thì làm sao có thể yêu cầu giáo viên và những người làm công tác nghiên cứu khoa học tuân thủ các chuẩn mực học thuật?
Những năm cuối đời, nhà khoa học Tiền Học Sâm từng đặt ra cho Thủ tướng Trung Quốc một câu hỏi vô cùng nghiêm túc: Trung Quốc đầu tư cho giáo dục đại học nhiều như vậy, tại sao lại không đào tạo ra được những nhân tài xuất sắc có khả năng đổi mới sáng tạo? "Vấn đề Tiền Học Sâm" này thực sự đáng để mọi người suy ngẫm, và càng cần phải được giải quyết thông qua việc nhận thức sâu sắc và cải tạo nền giáo dục Trung Quốc.
Những người lớn tuổi hôm nay đều còn nhớ cuộc "Đại nhảy vọt" diễn ra trên đất nước Trung Hoa vào năm 1958. Một làn sóng đam mê cuồng nhiệt dâng lên từ trên xuống dưới, quyết tâm xây dựng Trung Quốc thành một cường quốc kinh tế chỉ trong một hơi thở, nỗ lực vượt Anh đuổi Mỹ. Để luyện được hơn 10,7 triệu tấn thép vượt mặt nước Anh trong một thời gian ngắn, toàn dân được huy động, khắp nơi xây dựng các lò cao nhỏ, luyện thép bằng phương pháp thủ công. Người dân ở mọi nơi, bất kể có hiểu kỹ thuật luyện thép cơ bản hay không, đều lao vào sự nghiệp luyện thép vĩ đại. Người ta không tiếc đem cả đồ dùng bằng sắt thép hiện có ra, đập nồi bán sắt, ném vào các lò cao đất, nhưng trong nhiều trường hợp, những cục sắt luyện ra chẳng có tác dụng gì. Trong thời đại toàn dân cuồng nhiệt ấy, "chỗ nào cũng phóng vệ tinh" (báo cáo vống thành tích), "người to gan bao nhiêu, đất sản lượng bấy nhiêu", theo đuổi phiến diện số lượng sản phẩm đơn thuần mà bỏ qua chất lượng. Từ lãnh đạo cao nhất đến người nông dân bình thường đều tin rằng có thể tạo ra kỳ tích sản lượng cao.
Nửa thế kỷ đã trôi qua, trong thời đại cải cách mở cửa, về cơ bản kinh tế không lặp lại sai lầm của Đại nhảy vọt. Thế nhưng, trong lĩnh vực giáo dục đại học và nghiên cứu khoa học, lại xuất hiện một số hiện tượng tương tự như Đại nhảy vọt. Hơn mười năm trở lại đây, các trường đại học trên cả nước mở rộng quy mô tuyển sinh một cách ồ ạt, khiến số lượng sinh viên được đào tạo tăng đột biến. Đặc biệt, số lượng tuyển sinh thạc sĩ và tiến sĩ không ngừng tăng lên, thế mà số lượng nghiên cứu sinh tốt nghiệp lại đứng đầu thế giới, dường như chỉ một bước đã trở thành cường quốc giáo dục số một thế giới. Và sự gia tăng số lượng thành quả nghiên cứu khoa học tương ứng cũng đáng kinh ngạc, số lượng bài báo khoa học của Trung Quốc đã đạt vị trí thứ hai thế giới, chỉ sau Mỹ (chú thích: hiện nay đã vượt Mỹ, vươn lên đứng đầu thế giới). Điều này được một số nhân sĩ quốc tế coi là dấu hiệu cho thấy trình độ nghiên cứu khoa học của Trung Quốc đang thăng tiến nhanh chóng.
Tuy nhiên, từ tình hình hiện tại, nhân tài xuất sắc quả thực cũng đào tạo được không ít, nhưng số kẻ "vàng thau lẫn lộn" lại tăng lên nhiều hơn. Trong đó, điều khiến người ta cảm nhận rõ rệt nhất là chất lượng luận văn do nghiên cứu sinh viết. Luận văn chuyên ngành của các khối lý, công, y, nông, văn đều cần sự đổi mới sáng tạo, nếu chỉ lặp lại lời của các chuyên gia uy tín mà không có quan điểm mới mẻ và lập luận chặt chẽ, thì đó cũng chỉ là lao động trùng lặp, làm như không làm. Nếu giáo dục đại học ngày nay chỉ đào tạo ra những con vẹt bảo sao nghe vậy, không có gì đổi mới, thì đó sẽ là một sự lãng phí tài nguyên giáo dục khổng lồ.
Việc đánh giá thành quả nghiên cứu khoa học và đào tạo nhân tài bắt buộc phải tuân thủ một số chuẩn mực học thuật cơ bản. Mức độ sáng tạo của các thành quả có thể khác nhau, nhưng giới hạn cuối cùng là luận văn và thành quả phải do chính mình viết, dữ liệu thực nghiệm không được làm giả. Những năm gần đây, số lượng bài báo do các trường đại học và viện nghiên cứu trên cả nước sản xuất liên tục "phóng vệ tinh". Nhưng rốt cuộc có bao nhiêu thành quả sáng tạo chất lượng cao, quả thực rất đáng xem xét. Một trong những vấn đề khá nghiêm trọng là đạo văn và làm giả. Tạp chí y khoa danh tiếng quốc tế, The Lancet của Anh, ngày 9 tháng 1 năm 2010 đã đặc biệt đăng bài xã luận với tiêu đề "Làm giả: Trung Quốc cần hành động", gióng lên hồi chuông cảnh báo cho chúng ta. Đây không phải là lần đầu tiên tạp chí học thuật danh tiếng quốc tế phanh phui vấn đề gian lận học thuật của Trung Quốc. Ngày 31 tháng 5 năm 2006, tạp chí Nature của Anh cũng đã đăng bài xã luận mang tên "Tìm kiếm sự gian lận ở Trung Quốc". Việc này đã thu hút sự chú ý của giới học thuật quốc tế và trở thành một vấn đề đạo đức học thuật khá nghiêm trọng.
Chúng ta tuyệt đối không được phớt lờ những hành vi sai trái trong học thuật đang tồn tại ở giới học thuật Trung Quốc. Nhìn vào giáo dục sau đại học, những ví dụ về đạo văn luận văn học vị vẫn nhan nhản. Vấn đề cốt lõi là sự thiếu hụt ý thức về các chuẩn mực đạo đức cơ bản. Giống như Khổng Ất Kỷ không coi việc trộm sách là lỗi, một số người cũng không coi đạo văn là vấn đề đạo đức nghiêm trọng. "Bài vở trong thiên hạ chỉ là một bài chép lớn", đã trở thành phương châm sống của một số người. Sau cải cách mở cửa, mặc dù ý thức tôn trọng sở hữu trí tuệ đã được khôi phục, nhưng vẫn có những người không coi đạo văn là lỗi lầm. Giáo viên hướng dẫn là người gác cổng quan trọng nhất, nhưng chúng ta thấy rằng, một số người hướng dẫn cơ bản không thèm đọc luận văn của sinh viên, chứ đừng nói đến việc đưa ra ý kiến sửa chữa, cứ thế cho sinh viên bảo vệ và nhận bằng. Thậm chí có một số giáo viên hướng dẫn còn hỏi riêng sinh viên: Luận văn của em chép của mấy bài? Nếu chép từ ba bốn bài trở lên thì có thể qua. Đây là việc công khai khuyến khích sinh viên tiến hành đạo văn một cách "khéo léo". Đặc biệt, một số cán bộ lãnh đạo bản thân họ cũng gia nhập hàng ngũ đạo văn luận văn. Sức mạnh "tấm gương" như vậy làm sao không dung túng cho phong trào đạo văn, vi phạm nghiêm trọng các chuẩn mực học thuật?
Không chỉ làm giả luận văn, trong các hoạt động giảng dạy và xét duyệt giải thưởng của các trường đại học, những chuyện làm giả cũng thường xuyên xảy ra. Tiêu biểu nhất là việc đánh giá chất lượng giảng dạy đại học toàn quốc. Lẽ ra, việc đánh giá giảng dạy sẽ giúp thúc đẩy công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học của các trường, nâng cao chất lượng đào tạo. Tuy nhiên, phương thức đánh giá lại thường ảnh hưởng trực tiếp đến việc có đạt được những kết quả kỳ vọng này hay không. Xét tình hình hiện tại, các cuộc đánh giá hiện hành không đạt được mục tiêu đó. Nguyên nhân là do sử dụng các biện pháp hành chính để tập trung đánh giá trong một tuần, và ấn định trước thời gian một tuần này từ hơn nửa năm trời. Đoàn chuyên gia chỉ dự thính vài tiết học, xem xét tài liệu trong đúng một tuần này, chẳng khác nào "chuồn chuồn đạp nước, thầy bói xem voi", không thể nắm bắt được thông tin chân thực về tình trạng giảng dạy của một trường đại học. Một số trường đại học để đón đoàn đánh giá, thậm chí đã đình chỉ các hoạt động nghiên cứu khoa học và ngoại khóa bình thường, tiến hành làm giả với số lượng lớn. Ví dụ như sửa lại và in lại luận văn tốt nghiệp và tiểu luận cuối năm của sinh viên, sửa đổi bài thi, kể cả việc chấm lại điểm. Thậm chí yêu cầu giáo viên không giảng dạy theo tiến độ bình thường, mà trong tuần đánh giá phải giảng bài gọi là "đặc sắc nhất", làm các bài giảng slide (PPT) thật lộng lẫy. Dàn xếp trước nội dung sinh viên đặt câu hỏi, bao gồm việc phân công sinh viên nào hỏi câu gì.
Để đối phó với đoàn đánh giá, một số trường đại học rầm rộ làm vệ sinh, sửa đường quét vôi tường, thậm chí trong tuần lễ đó mỗi khoa viện đều thuê hoa tươi bày la liệt khắp sảnh đường. Tất cả giáo viên và sinh viên từng trải qua đợt đánh giá đều không khỏi cảm thấy đây là một kiểu làm giả tập thể, ngay cả 10-20 trường đại học danh tiếng hàng đầu toàn quốc cũng không ngoại lệ. Các hiệu trưởng còn viện đủ loại lý do cho kiểu diễn kịch tập thể, dối trá này, chẳng hạn như để nhận được nhiều kinh phí hơn, cải thiện đãi ngộ. Có trường đại học nổi tiếng, trong tinh thần đón đánh giá truyền đạt xuống các cấp, thậm chí còn lặp đi lặp lại câu nói: "Ai mắc lỗi trong đợt đón đánh giá này, tôi sẽ đập vỡ bát cơm của người đó", thực chất chẳng khác nào những lời lẽ thổ phỉ uy hiếp. Đây mới chính là những điều thực sự làm mất đi thể diện của giới trí thức.
Thực ra, không phải không có vị hiệu trưởng nào nhìn thấy tệ nạn dối trá trong kiểu đánh giá này. Tháng 3 năm 2008, vị hiệu trưởng của một trường đại học danh tiếng đã viết bài trên tờ Nhân Dân Nhật báo, chỉ trích "việc đánh giá đại học quá tràn lan, một số công chức mượn quyền lực để chỉ tay năm ngón", "do một số trường mở rộng quá nhanh, dẫn đến giảng dạy và quản lý không theo kịp. Yêu cầu họ đào tạo ra sinh viên đạt chuẩn, yêu cầu đánh giá giảng dạy của họ là xuất sắc, thực chất là có khó khăn, thậm chí khó khăn rất lớn. Để đối phó với đánh giá, họ đã làm giả, ví dụ như làm giả các biên bản cuộc họp, thực sự rất tồi tệ".
Khi vấn đề đã bị phát hiện, lẽ ra các ban ngành liên quan phải kịp thời chấn chỉnh hoặc cải cách, nhưng họ lại tiếp tục việc đánh giá mang tính áp đặt hành chính này, hơn nữa quy mô và cấp độ làm giả ngày càng lớn. Thêm vào đó, các thành viên trong đoàn chuyên gia phần lớn là cán bộ lãnh đạo cấp trường, cấp khoa; họ vừa là những kẻ làm giả trong đợt đánh giá của trường mình, lại vừa là những khán giả thưởng thức sự làm giả của các trường khác. Tự lừa mình dối người, tạo thành một vòng luẩn quẩn, không ngừng trình diễn những màn kịch tốn công tốn của. Với kiểu làm giả phổ biến để đối phó với các loại đánh giá như vậy, thì làm sao có thể yêu cầu giáo viên và những người làm công tác nghiên cứu khoa học tuân thủ các chuẩn mực học thuật?
Những năm cuối đời, nhà khoa học Tiền Học Sâm từng đặt ra cho Thủ tướng Trung Quốc một câu hỏi vô cùng nghiêm túc: Trung Quốc đầu tư cho giáo dục đại học nhiều như vậy, tại sao lại không đào tạo ra được những nhân tài xuất sắc có khả năng đổi mới sáng tạo? "Vấn đề Tiền Học Sâm" này thực sự đáng để mọi người suy ngẫm, và càng cần phải được giải quyết thông qua việc nhận thức sâu sắc và cải tạo nền giáo dục Trung Quốc.
2. Sự "quan trường hóa" của giới học thuật
Giáo dục để chấn chỉnh các vi phạm học thuật cần toàn xã hội chung tay, giáo dục đại học và giới khoa học công nghệ càng cần bắt tay làm từ nền tảng một cách nghiêm túc, phổ cập các chuẩn mực học thuật cơ bản. Những sản phẩm vật chất hữu hình mà là hàng giả, hàng nhái đủ để gây hại cho sức khỏe, thậm chí gây chết người. Nhưng sự giả dối, lừa đảo trong học thuật cũng gây hại không kém, lại thường bị mọi người ngó lơ. Đặc biệt, một số cán bộ lãnh đạo của các trường đại học và cơ quan nghiên cứu thường có xu hướng "chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không", xử lý thiếu kiên quyết. Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều vụ việc các học giả nổi tiếng, đặc biệt là các giáo sư giữ chức vụ lãnh đạo quan trọng (như hiệu trưởng, viện trưởng) đứng tên chung với nghiên cứu sinh trong các bài báo có sao chép và làm giả. Thế nhưng, kết quả thường là đẩy hết trách nhiệm cho nghiên cứu sinh, còn vị giáo sư có tên đứng đầu thì lại bình yên vô sự, thậm chí còn được thăng chức. Chỉ có một số ít viện sĩ bị tước bỏ danh hiệu.
Vốn dĩ, việc đứng tên chung bài báo là để công bố thành quả của một nhóm; nhiều giảng viên được gọi là "ông chủ" tự mình chủ trì dự án, nhưng người trực tiếp làm thí nghiệm và viết bản thảo đầu tiên phần lớn là nghiên cứu sinh. Những giảng viên này thông qua việc đứng tên chung để không ngừng nâng cao thành tựu và uy tín học thuật của bản thân. Đã là công bố cho xã hội thành quả của nghiên cứu chung này, và tên của giáo viên hướng dẫn lại đứng đầu, thì người đó càng phải chịu trách nhiệm về mặt học thuật. Bài báo bị đạo văn, làm giả, giáo viên hướng dẫn lại không kiểm tra gì cả và cứ ký tên mình vào, cuối cùng khi bị phanh phui lại không chịu chút trách nhiệm nào, vậy sự liêm chính học thuật tối thiểu nằm ở đâu? Chính vì xử lý không nghiêm minh nên mọi người đều nhắm mắt làm ngơ, không coi gian lận học thuật ra gì.
Chủ nghĩa "quan bản vị" (coi trọng chức tước quản lý) trong giới học thuật, dùng các biện pháp hành chính và chiêu trò quan trường để quản trị đại học và các tổ chức nghiên cứu khoa học, là một nguyên nhân quan trọng. Nhiều người biến học thuật thành nô tỳ của quyền lực, bản thân giới học thuật bị "quan trường hóa", quan liêu hóa, chưa phát triển được một cơ chế tự kiểm soát học thuật, điều này có thể lý giải cho nhiều hiện tượng kỳ lạ mà nay đã thành quen. Tình trạng chạy theo những con số thống kê đẹp đẽ mà phớt lờ chất lượng diễn ra khá phổ biến trong giới giáo dục đại học và khoa học công nghệ. Họ say mê với đủ loại số liệu thống kê, như đã đào tạo được bao nhiêu sinh viên đại học và nghiên cứu sinh, sinh ra bao nhiêu giáo sư hướng dẫn tiến sĩ, nhận được bao nhiêu dự án, công bố bao nhiêu bài báo. Gần như không có sự đánh giá sâu sát và định lượng chất lượng chi tiết hơn.
Lấy việc xét chức danh và khen thưởng thành quả làm ví dụ, xu hướng chỉ nhìn vào số lượng bài báo mà bỏ qua chất lượng khá phổ biến. Nhiều đơn vị đã phát minh ra đủ loại phương pháp để "cày" số lượng bài báo, bao gồm cả những khoản tiền thưởng khổng lồ. Ví dụ như chia các tạp chí học thuật trên thế giới thành các cấp bậc khác nhau và định giá theo cấp độ. Số tiền thưởng ở mỗi đơn vị có sự khác biệt, một số cơ sở có chất lượng học thuật cao thì tiền thưởng thấp hơn một chút, nhưng do các đơn vị thi nhau cạnh tranh nên cũng buộc phải tăng giá trị giải thưởng. Có bài đăng trên tạp chí cấp cao nhất, tiền thưởng đã lên tới hàng trăm nghìn tệ. Lấy tạp chí Nature của Anh làm ví dụ, nếu đăng được một bài trên đó, tiền thưởng thấp nhất mà các trường đại học Trung Quốc cấp cho tác giả là 50 nghìn tệ, mức cao nhất nhận hàng trăm nghìn tệ. Ngay cả các tạp chí được gọi là hạng nhất trong nước về khoa học xã hội, tiền thưởng tối thiểu cho mỗi bài cũng vài nghìn tệ, cao nhất vượt 100 nghìn tệ. Nhiều đơn vị ghi nhận điểm như kiểu chấm công, lấy số bài viết nhân với điểm số thứ hạng của tạp chí, xem đây là nguồn tiền thưởng chính cho giảng viên và nhà nghiên cứu.
Trọng thưởng tất có dũng phu. Dưới chế độ khen thưởng này, một số người không ngần ngại vi phạm các chuẩn mực học thuật cơ bản, ngụy tạo dữ liệu để nhào nặn bài báo, hoặc là sao chép chắp vá, về cơ bản không màng đến đổi mới và chất lượng. Có một số học giả chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn, mỗi người công bố tới 20 bài báo trên cái gọi là tạp chí nòng cốt, trung bình khoảng nửa tháng viết xong một bài. Luận văn không phải là tin tức thời sự, tản văn hay tạp bút mà có thể viết nhanh được. Luận văn cần tra cứu, xác minh dữ liệu, kiểm tra tài liệu gốc, lập luận một cách có hệ thống. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và các công việc khác, việc có thể duy trì tốc độ nửa tháng sản xuất một bài báo nghiên cứu quanh năm suốt tháng, chất lượng thành quả của nó có thể tưởng tượng được. Vậy nhưng, hầu như tất cả các trường đại học và viện nghiên cứu đều thưởng theo số lượng bài viết mà không đặt ra bất kỳ nghi vấn nào. Chế độ khen thưởng như vậy chẳng phải đang khuyến khích việc sản xuất rác chữ nghĩa sao? Lặp lại chủ đề, nội dung bài viết tương tự nhau, tự trích dẫn chính mình, một bài viết vốn có thể trình bày rõ ràng lại bị chẻ ra làm nhiều bài để đăng, những hiện tượng này tồn tại khá phổ biến trong việc viết luận văn hiện nay.
Tạp chí học thuật không đưa ra tiền thưởng mà do đơn vị công tác trọng thưởng, một trong những nguy hiểm của nó là làm tha hóa biên tập viên tạp chí. Giả sử không có chế độ bình duyệt nghiêm ngặt, đơn vị thưởng 50 nghìn đến 100 nghìn tệ, ý chí của tác giả chỉ cần hơi yếu đuối một chút là có thể thông qua việc hối lộ biên tập viên để chia chác tiền thưởng. Điểm khác biệt căn bản giữa tạp chí học thuật và phương tiện truyền thông thương mại là nó không dựa vào quảng cáo để kiếm lời hoặc truyền bá các hệ tư tưởng nào đó để thu hút độc giả mua, mà chủ yếu là để công bố thành quả nghiên cứu khoa học. Do đó, phần lớn các tạp chí học thuật ở nước ngoài không trả nhuận bút, và cơ quan của nhà nghiên cứu cũng không dùng số tiền lớn để thưởng cho việc đăng bài. Mục đích của việc thống kê số bài báo là thể hiện thành quả và trình độ học thuật của tác giả, dùng làm cơ sở chính cho việc xét thăng chức danh, và việc xem xét thành quả nghiên cứu chủ yếu là nhìn vào chất lượng các tác phẩm tiêu biểu của họ, xem có được giới chuyên môn công nhận và coi trọng hay không, chứ không chỉ nhìn vào số lượng. Các trường đại học ở Mỹ để thăng chức lên giáo sư chính thức thường chỉ cần vài bài báo, trong khi các trường đại học ở Trung Quốc hiện nay đều yêu cầu mười mấy bài trở lên. Khá nhiều trường đại học đã yêu cầu bắt buộc phải chủ trì dự án cấp quốc gia thì mới được thăng chức giáo sư chính thức.
Hậu quả của việc không chú trọng chất lượng, chạy theo số lượng đơn thuần là luận văn sáng tạo ngày càng ít. Có một lượng khá lớn luận văn, sách báo không có chủ đề và tư tưởng trọng tâm, viết lan man dài dòng, không biết đang nói gì, thậm chí cả những câu tổng kết thành tựu hiện có cũng rất ít, nhưng vẫn được thống kê vào "thành tựu đổi mới quan trọng". Vốn dĩ, tỷ lệ trích dẫn là một chỉ số đo lường mức độ được chú ý của luận văn, nhưng không phải là tuyệt đối. Nếu ý thức về chuẩn mực học thuật nói chung không mạnh, bản thân tỷ lệ trích dẫn này cũng có thể trở thành công cụ để làm giả. Một số người hướng dẫn tuyển rất nhiều sinh viên, sau đó chỉ thị họ trong luận văn bắt buộc phải trích dẫn thành quả của chính người hướng dẫn, tạo ra tỷ lệ trích dẫn ảo. Thậm chí có một số tạp chí vì muốn nâng cao tỷ lệ trích dẫn của bản thân, cũng cố nhét thêm một lượng lớn trích dẫn không liên quan vào bài của tác giả.
Về việc đăng ký và quản lý các dự án nghiên cứu khoa học các cấp, màu sắc chủ đạo bởi hành chính cũng khá đậm nét. Mặc dù có việc chấm điểm qua bình duyệt chuyên gia và chuyên gia bỏ phiếu quyết định cuối cùng, nhưng từ việc thiết lập hướng dẫn đề tài đến việc vạch ra mức điểm sàn sơ khảo, rồi đến việc chỉ định ai làm thành viên ủy ban đánh giá cuối cùng, phần lớn đều do các bộ phận hành chính dẫn dắt. Những người được chọn vào ủy ban đánh giá phần lớn là các giáo sư giữ chức vụ hành chính, việc nâng đỡ "người nhà" của nhau đã trở thành hiện tượng khá phổ biến, biến tướng thành việc chia chác dự án. Việc tập trung mục tiêu để trao kinh phí dự án cho một số người, nhưng đồng thời lại yêu cầu tất cả phó giáo sư và giáo sư khi xét thăng chức bắt buộc phải có dự án nghiên cứu cấp tỉnh, bộ hoặc cấp quốc gia, điều này lại biến thành chiếc gậy chỉ huy bao trùm lên toàn bộ các học giả, tạo ra áp lực lớn hơn. Nếu không chọn đề tài nghiên cứu theo ý chí của họ, hoặc không tuân theo một số chuyên gia bình duyệt và chuyên gia có uy quyền, thì rất khó để nhận được kinh phí nghiên cứu khoa học. Lẽ ra, phân bổ kinh phí nghiên cứu dưới hình thức xin dự án là nhằm thúc đẩy việc sử dụng kinh phí hợp lý và hiệu quả, qua đó đẩy mạnh đổi mới khoa học công nghệ. Thế nhưng, kiểu quản lý dự án mang tính áp đặt hành chính và ý chí của quan chức như hiện nay, rất khó để đạt được mục tiêu này.
Những người quản lý dự án mang tính hành chính không thực sự hiểu rõ các quy luật nghiên cứu khoa học, và tồn tại một số sai lầm trong nhận thức. Ví dụ, họ cho rằng kinh phí càng nhiều, càng tập trung thì càng có thể tạo ra thành quả. "Công trình 985 giai đoạn 2" do Bộ Giáo dục triển khai vài năm trước, đã thực hiện hệ thống dự án lớn trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; 20 trường đại học hàng đầu cả nước mỗi trường chỉ được nhận vài dự án nghiên cứu, nhưng mỗi dự án lên tới hàng chục triệu nhân dân tệ. Do cơ chế xét duyệt của nội bộ các trường, hầu như chỉ thiểu số giáo sư giữ chức vụ hành chính trong trường mới giành được quyền chủ trì các dự án lớn này, sau đó họ lại chia thành một số đề tài nhánh con, phân bổ một phần kinh phí cho các giáo sư liên quan. Kết quả là, người chủ trì dự án lớn giống như một nhà thầu chính của công trình, chia nhỏ cho các nhà thầu phụ. Hiện tại xem ra, thành quả tạo ra không đạt được mục đích dự kiến, không thực sự tạo ra được tác phẩm tinh hoa và đột phá sáng tạo trong nghiên cứu. Ý chí chủ quan của quan chức chỉ đạo thậm chí can thiệp trực tiếp vào việc phân bổ và quản lý dự án, rồi dùng nó làm gậy chỉ huy điều động toàn bộ lực lượng nghiên cứu, khiến những người tự thiết kế dự án nghiên cứu gần như không được công nhận, thậm chí không được thăng tiến bình thường. Điều này gây ra sự lãng phí rất lớn đối với các nguồn lực nghiên cứu công, cũng khó mà ngăn chặn được nạn lạm quyền vì tư lợi.
Tình trạng để các quan chức hành chính ngoại đạo làm chủ đạo - bao gồm cả những người mang danh là chuyên gia nhưng thực chất là quan chức không hiểu biết về giảng dạy và nghiên cứu, chỉ say sưa với những thành tích bề nổi và ý chí chủ quan - bắt buộc phải thay đổi. Việc đào tạo nhân tài, thăng tiến chức danh, đánh giá thành quả, xét duyệt dự án, tất cả đều cần được định hướng và thực hiện bởi những chuyên gia thực sự trong giới học thuật. Các hoạt động học thuật, đánh giá thành quả của từng chuyên ngành đều nên do các hiệp hội chuyên ngành và hội đồng chuyên gia tổ chức, và phải có thực quyền. Đương nhiên, bản thân các chuyên gia uy tín cũng không thể có quyền lực vô biên, không bị giám sát; mà cũng cần thiết lập các cơ chế giám sát hoàn chỉnh, thường xuyên, để ngăn chặn thói quen cục bộ, mạng lưới quan hệ cản trở sự đổi mới học thuật và sự công bằng. Đối với những hành vi sai trái trong học thuật như đạo văn và làm giả, bắt buộc phải trừng trị nghiêm khắc, không nể nang, thì mới có thể uốn nắn được những hành vi sai trái đang mang tính phổ biến này.
Giáo dục để chấn chỉnh các vi phạm học thuật cần toàn xã hội chung tay, giáo dục đại học và giới khoa học công nghệ càng cần bắt tay làm từ nền tảng một cách nghiêm túc, phổ cập các chuẩn mực học thuật cơ bản. Những sản phẩm vật chất hữu hình mà là hàng giả, hàng nhái đủ để gây hại cho sức khỏe, thậm chí gây chết người. Nhưng sự giả dối, lừa đảo trong học thuật cũng gây hại không kém, lại thường bị mọi người ngó lơ. Đặc biệt, một số cán bộ lãnh đạo của các trường đại học và cơ quan nghiên cứu thường có xu hướng "chuyện lớn hóa nhỏ, chuyện nhỏ hóa không", xử lý thiếu kiên quyết. Những năm gần đây đã xuất hiện nhiều vụ việc các học giả nổi tiếng, đặc biệt là các giáo sư giữ chức vụ lãnh đạo quan trọng (như hiệu trưởng, viện trưởng) đứng tên chung với nghiên cứu sinh trong các bài báo có sao chép và làm giả. Thế nhưng, kết quả thường là đẩy hết trách nhiệm cho nghiên cứu sinh, còn vị giáo sư có tên đứng đầu thì lại bình yên vô sự, thậm chí còn được thăng chức. Chỉ có một số ít viện sĩ bị tước bỏ danh hiệu.
Vốn dĩ, việc đứng tên chung bài báo là để công bố thành quả của một nhóm; nhiều giảng viên được gọi là "ông chủ" tự mình chủ trì dự án, nhưng người trực tiếp làm thí nghiệm và viết bản thảo đầu tiên phần lớn là nghiên cứu sinh. Những giảng viên này thông qua việc đứng tên chung để không ngừng nâng cao thành tựu và uy tín học thuật của bản thân. Đã là công bố cho xã hội thành quả của nghiên cứu chung này, và tên của giáo viên hướng dẫn lại đứng đầu, thì người đó càng phải chịu trách nhiệm về mặt học thuật. Bài báo bị đạo văn, làm giả, giáo viên hướng dẫn lại không kiểm tra gì cả và cứ ký tên mình vào, cuối cùng khi bị phanh phui lại không chịu chút trách nhiệm nào, vậy sự liêm chính học thuật tối thiểu nằm ở đâu? Chính vì xử lý không nghiêm minh nên mọi người đều nhắm mắt làm ngơ, không coi gian lận học thuật ra gì.
Chủ nghĩa "quan bản vị" (coi trọng chức tước quản lý) trong giới học thuật, dùng các biện pháp hành chính và chiêu trò quan trường để quản trị đại học và các tổ chức nghiên cứu khoa học, là một nguyên nhân quan trọng. Nhiều người biến học thuật thành nô tỳ của quyền lực, bản thân giới học thuật bị "quan trường hóa", quan liêu hóa, chưa phát triển được một cơ chế tự kiểm soát học thuật, điều này có thể lý giải cho nhiều hiện tượng kỳ lạ mà nay đã thành quen. Tình trạng chạy theo những con số thống kê đẹp đẽ mà phớt lờ chất lượng diễn ra khá phổ biến trong giới giáo dục đại học và khoa học công nghệ. Họ say mê với đủ loại số liệu thống kê, như đã đào tạo được bao nhiêu sinh viên đại học và nghiên cứu sinh, sinh ra bao nhiêu giáo sư hướng dẫn tiến sĩ, nhận được bao nhiêu dự án, công bố bao nhiêu bài báo. Gần như không có sự đánh giá sâu sát và định lượng chất lượng chi tiết hơn.
Lấy việc xét chức danh và khen thưởng thành quả làm ví dụ, xu hướng chỉ nhìn vào số lượng bài báo mà bỏ qua chất lượng khá phổ biến. Nhiều đơn vị đã phát minh ra đủ loại phương pháp để "cày" số lượng bài báo, bao gồm cả những khoản tiền thưởng khổng lồ. Ví dụ như chia các tạp chí học thuật trên thế giới thành các cấp bậc khác nhau và định giá theo cấp độ. Số tiền thưởng ở mỗi đơn vị có sự khác biệt, một số cơ sở có chất lượng học thuật cao thì tiền thưởng thấp hơn một chút, nhưng do các đơn vị thi nhau cạnh tranh nên cũng buộc phải tăng giá trị giải thưởng. Có bài đăng trên tạp chí cấp cao nhất, tiền thưởng đã lên tới hàng trăm nghìn tệ. Lấy tạp chí Nature của Anh làm ví dụ, nếu đăng được một bài trên đó, tiền thưởng thấp nhất mà các trường đại học Trung Quốc cấp cho tác giả là 50 nghìn tệ, mức cao nhất nhận hàng trăm nghìn tệ. Ngay cả các tạp chí được gọi là hạng nhất trong nước về khoa học xã hội, tiền thưởng tối thiểu cho mỗi bài cũng vài nghìn tệ, cao nhất vượt 100 nghìn tệ. Nhiều đơn vị ghi nhận điểm như kiểu chấm công, lấy số bài viết nhân với điểm số thứ hạng của tạp chí, xem đây là nguồn tiền thưởng chính cho giảng viên và nhà nghiên cứu.
Trọng thưởng tất có dũng phu. Dưới chế độ khen thưởng này, một số người không ngần ngại vi phạm các chuẩn mực học thuật cơ bản, ngụy tạo dữ liệu để nhào nặn bài báo, hoặc là sao chép chắp vá, về cơ bản không màng đến đổi mới và chất lượng. Có một số học giả chuyên ngành khoa học xã hội và nhân văn, mỗi người công bố tới 20 bài báo trên cái gọi là tạp chí nòng cốt, trung bình khoảng nửa tháng viết xong một bài. Luận văn không phải là tin tức thời sự, tản văn hay tạp bút mà có thể viết nhanh được. Luận văn cần tra cứu, xác minh dữ liệu, kiểm tra tài liệu gốc, lập luận một cách có hệ thống. Ngoài nhiệm vụ giảng dạy và các công việc khác, việc có thể duy trì tốc độ nửa tháng sản xuất một bài báo nghiên cứu quanh năm suốt tháng, chất lượng thành quả của nó có thể tưởng tượng được. Vậy nhưng, hầu như tất cả các trường đại học và viện nghiên cứu đều thưởng theo số lượng bài viết mà không đặt ra bất kỳ nghi vấn nào. Chế độ khen thưởng như vậy chẳng phải đang khuyến khích việc sản xuất rác chữ nghĩa sao? Lặp lại chủ đề, nội dung bài viết tương tự nhau, tự trích dẫn chính mình, một bài viết vốn có thể trình bày rõ ràng lại bị chẻ ra làm nhiều bài để đăng, những hiện tượng này tồn tại khá phổ biến trong việc viết luận văn hiện nay.
Tạp chí học thuật không đưa ra tiền thưởng mà do đơn vị công tác trọng thưởng, một trong những nguy hiểm của nó là làm tha hóa biên tập viên tạp chí. Giả sử không có chế độ bình duyệt nghiêm ngặt, đơn vị thưởng 50 nghìn đến 100 nghìn tệ, ý chí của tác giả chỉ cần hơi yếu đuối một chút là có thể thông qua việc hối lộ biên tập viên để chia chác tiền thưởng. Điểm khác biệt căn bản giữa tạp chí học thuật và phương tiện truyền thông thương mại là nó không dựa vào quảng cáo để kiếm lời hoặc truyền bá các hệ tư tưởng nào đó để thu hút độc giả mua, mà chủ yếu là để công bố thành quả nghiên cứu khoa học. Do đó, phần lớn các tạp chí học thuật ở nước ngoài không trả nhuận bút, và cơ quan của nhà nghiên cứu cũng không dùng số tiền lớn để thưởng cho việc đăng bài. Mục đích của việc thống kê số bài báo là thể hiện thành quả và trình độ học thuật của tác giả, dùng làm cơ sở chính cho việc xét thăng chức danh, và việc xem xét thành quả nghiên cứu chủ yếu là nhìn vào chất lượng các tác phẩm tiêu biểu của họ, xem có được giới chuyên môn công nhận và coi trọng hay không, chứ không chỉ nhìn vào số lượng. Các trường đại học ở Mỹ để thăng chức lên giáo sư chính thức thường chỉ cần vài bài báo, trong khi các trường đại học ở Trung Quốc hiện nay đều yêu cầu mười mấy bài trở lên. Khá nhiều trường đại học đã yêu cầu bắt buộc phải chủ trì dự án cấp quốc gia thì mới được thăng chức giáo sư chính thức.
Hậu quả của việc không chú trọng chất lượng, chạy theo số lượng đơn thuần là luận văn sáng tạo ngày càng ít. Có một lượng khá lớn luận văn, sách báo không có chủ đề và tư tưởng trọng tâm, viết lan man dài dòng, không biết đang nói gì, thậm chí cả những câu tổng kết thành tựu hiện có cũng rất ít, nhưng vẫn được thống kê vào "thành tựu đổi mới quan trọng". Vốn dĩ, tỷ lệ trích dẫn là một chỉ số đo lường mức độ được chú ý của luận văn, nhưng không phải là tuyệt đối. Nếu ý thức về chuẩn mực học thuật nói chung không mạnh, bản thân tỷ lệ trích dẫn này cũng có thể trở thành công cụ để làm giả. Một số người hướng dẫn tuyển rất nhiều sinh viên, sau đó chỉ thị họ trong luận văn bắt buộc phải trích dẫn thành quả của chính người hướng dẫn, tạo ra tỷ lệ trích dẫn ảo. Thậm chí có một số tạp chí vì muốn nâng cao tỷ lệ trích dẫn của bản thân, cũng cố nhét thêm một lượng lớn trích dẫn không liên quan vào bài của tác giả.
Về việc đăng ký và quản lý các dự án nghiên cứu khoa học các cấp, màu sắc chủ đạo bởi hành chính cũng khá đậm nét. Mặc dù có việc chấm điểm qua bình duyệt chuyên gia và chuyên gia bỏ phiếu quyết định cuối cùng, nhưng từ việc thiết lập hướng dẫn đề tài đến việc vạch ra mức điểm sàn sơ khảo, rồi đến việc chỉ định ai làm thành viên ủy ban đánh giá cuối cùng, phần lớn đều do các bộ phận hành chính dẫn dắt. Những người được chọn vào ủy ban đánh giá phần lớn là các giáo sư giữ chức vụ hành chính, việc nâng đỡ "người nhà" của nhau đã trở thành hiện tượng khá phổ biến, biến tướng thành việc chia chác dự án. Việc tập trung mục tiêu để trao kinh phí dự án cho một số người, nhưng đồng thời lại yêu cầu tất cả phó giáo sư và giáo sư khi xét thăng chức bắt buộc phải có dự án nghiên cứu cấp tỉnh, bộ hoặc cấp quốc gia, điều này lại biến thành chiếc gậy chỉ huy bao trùm lên toàn bộ các học giả, tạo ra áp lực lớn hơn. Nếu không chọn đề tài nghiên cứu theo ý chí của họ, hoặc không tuân theo một số chuyên gia bình duyệt và chuyên gia có uy quyền, thì rất khó để nhận được kinh phí nghiên cứu khoa học. Lẽ ra, phân bổ kinh phí nghiên cứu dưới hình thức xin dự án là nhằm thúc đẩy việc sử dụng kinh phí hợp lý và hiệu quả, qua đó đẩy mạnh đổi mới khoa học công nghệ. Thế nhưng, kiểu quản lý dự án mang tính áp đặt hành chính và ý chí của quan chức như hiện nay, rất khó để đạt được mục tiêu này.
Những người quản lý dự án mang tính hành chính không thực sự hiểu rõ các quy luật nghiên cứu khoa học, và tồn tại một số sai lầm trong nhận thức. Ví dụ, họ cho rằng kinh phí càng nhiều, càng tập trung thì càng có thể tạo ra thành quả. "Công trình 985 giai đoạn 2" do Bộ Giáo dục triển khai vài năm trước, đã thực hiện hệ thống dự án lớn trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn; 20 trường đại học hàng đầu cả nước mỗi trường chỉ được nhận vài dự án nghiên cứu, nhưng mỗi dự án lên tới hàng chục triệu nhân dân tệ. Do cơ chế xét duyệt của nội bộ các trường, hầu như chỉ thiểu số giáo sư giữ chức vụ hành chính trong trường mới giành được quyền chủ trì các dự án lớn này, sau đó họ lại chia thành một số đề tài nhánh con, phân bổ một phần kinh phí cho các giáo sư liên quan. Kết quả là, người chủ trì dự án lớn giống như một nhà thầu chính của công trình, chia nhỏ cho các nhà thầu phụ. Hiện tại xem ra, thành quả tạo ra không đạt được mục đích dự kiến, không thực sự tạo ra được tác phẩm tinh hoa và đột phá sáng tạo trong nghiên cứu. Ý chí chủ quan của quan chức chỉ đạo thậm chí can thiệp trực tiếp vào việc phân bổ và quản lý dự án, rồi dùng nó làm gậy chỉ huy điều động toàn bộ lực lượng nghiên cứu, khiến những người tự thiết kế dự án nghiên cứu gần như không được công nhận, thậm chí không được thăng tiến bình thường. Điều này gây ra sự lãng phí rất lớn đối với các nguồn lực nghiên cứu công, cũng khó mà ngăn chặn được nạn lạm quyền vì tư lợi.
Tình trạng để các quan chức hành chính ngoại đạo làm chủ đạo - bao gồm cả những người mang danh là chuyên gia nhưng thực chất là quan chức không hiểu biết về giảng dạy và nghiên cứu, chỉ say sưa với những thành tích bề nổi và ý chí chủ quan - bắt buộc phải thay đổi. Việc đào tạo nhân tài, thăng tiến chức danh, đánh giá thành quả, xét duyệt dự án, tất cả đều cần được định hướng và thực hiện bởi những chuyên gia thực sự trong giới học thuật. Các hoạt động học thuật, đánh giá thành quả của từng chuyên ngành đều nên do các hiệp hội chuyên ngành và hội đồng chuyên gia tổ chức, và phải có thực quyền. Đương nhiên, bản thân các chuyên gia uy tín cũng không thể có quyền lực vô biên, không bị giám sát; mà cũng cần thiết lập các cơ chế giám sát hoàn chỉnh, thường xuyên, để ngăn chặn thói quen cục bộ, mạng lưới quan hệ cản trở sự đổi mới học thuật và sự công bằng. Đối với những hành vi sai trái trong học thuật như đạo văn và làm giả, bắt buộc phải trừng trị nghiêm khắc, không nể nang, thì mới có thể uốn nắn được những hành vi sai trái đang mang tính phổ biến này.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét