Thứ Bảy, 18 tháng 7, 2026

Mô hình "Đảng dẫn đường mang lại lợi ích cho dân" của Trung Quốc

Mô hình "Đảng dẫn đường, công nghiệp mang lại lợi ích cho dân, lấy đức hiếu nuôi dưỡng con người" của Trung Quốc
Sáng 16-7, tại trụ sở Đảng ủy xã Phúc Thịnh, TP Hà Nội đã tổ chức hội nghị triển khai đề án thí điểm mô hình "xã, phường xã hội chủ nghĩa". Bí thư Thành ủy Hà Nội Trần Đức Thắng và các lãnh đạo trong Thường trực Thành ủy Hà Nội dự hội nghị.

Phát biểu chỉ đạo, Bí thư Thành ủy Hà Nội chúc mừng Đảng bộ, chính quyền và nhân dân hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm đã vinh dự được lựa chọn là những xã đầu tiên của thủ đô và cũng là cả nước triển khai thí điểm mô hình xã, phường xã hội chủ nghĩa.

Đây là mô hình hướng đến nâng cao chất lượng sống của người dân thông qua cải thiện dịch vụ công, y tế, giáo dục, môi trường, việc làm và nhà ở. Mọi chính sách đều hướng tới nâng cao chất lượng sống, sự hài lòng và hạnh phúc của người dân.

Phúc Thịnh và Thư Lâm có tổng diện tích tự nhiên 86,53km2, dân số gần 198.700 người, thu nhập bình quân khoảng 90 triệu đồng/người/năm. Đến năm 2030, khu vực này được kỳ vọng thu hút khoảng 690.000 người sinh sống, trở thành mô hình để nhân rộng trên toàn thành phố.

Để cung cấp thông tin, kinh nghiệm về xây dựng, phát triển các làng xóm cho lãnh đạo hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm cũng như cho lãnh đạo thành phố Hà Nội, tôi xin giới thiệu bài viết của tác giả Vương Đông Tân, Nghiên cứu viên Học viện Trung Quốc, Đại học Phục Đán, nhan đề: "Từ "nghèo, loạn, kém" đến tài sản tập thể vượt 10 tỷ NDT, một ngôi làng ở Sơn Đông Trung Quốc, đã làm được điều phi thường". Dưới đây là nội dung bài viết.
----------------------

Từ "nghèo, loạn, kém" đến tài sản tập thể vượt 10 tỷ NDT, một ngôi làng ở Sơn Đông Trung Quốc, đã làm được điều phi thường

Hiện nay, hiện tượng "làng rỗng" (làng suy thoái do mất dân số) đã trở thành một bài toán nan giải, cản trở nghiêm trọng chiến lược chấn hưng nông thôn. Tình trạng di cư sang nơi khác và nền kinh tế trống rỗng đan xen, gây áp lực nặng nề lên các địa phương.

Tuy nhiên, qua nghiên cứu khảo sát thực tế tại tỉnh Sơn Đông, tôi nhận thấy có một ngôi làng đã lội ngược dòng một cách ngoạn mục. Từ một ngôi làng nghèo khó, nợ nần chồng chất và lòng dân ly tán, nơi đây đã chuyển mình thành một hình mẫu về thịnh vượng chung, sở hữu khối tài sản tập thể vượt quá 10 tỷ NDT (khoảng 38,8 nghìn tỷ đồng VN), mang lại cuộc sống an cư lạc nghiệp cho hơn 30.000 dân cư. Hành trình lật ngược tình thế và phương pháp giải quyết bế tắc của ngôi làng này rất đáng để các thôn xóm có hoàn cảnh tương tự nghiên cứu và học hỏi sâu sắc.

Ngôi làng được nhắc đến ở đây là làng Hậu Bát Lý Câu (gọi tắt là "làng Hậu Bát"), thuộc nhai đạo Bản Sơn, thành phố Tấu Thành, tỉnh Sơn Đông.

Làng Hậu Bát nằm ở khu đô thị mới phía Đông của Tấu Thành. Hiện tại, số hộ dân gốc trong làng là 512 hộ với 1.760 nhân khẩu. Tổng số hộ dân cư hiện tại đã lên tới hơn 7.000 hộ, với tổng số thường trú và lao động nhập cư đạt hơn 30.000 người. Đảng bộ làng có 4 chi bộ trực thuộc với 107 đảng viên.

Làng Hậu Bát là "Làng văn minh toàn quốc", "Làng kiểu mẫu về hiếu nghĩa vẹn toàn của Trung Hoa", và được ca ngợi là hình mẫu điển hình cho chấn hưng nông thôn và thịnh vượng chung. Thế nhưng, chỉ mới hơn 20 năm trước, nơi đây lại là một bức tranh hoàn toàn trái ngược: Năm 2005, tập thể làng nợ nần hơn 200.000 NDT (khoảng 776,44 triệu đồng VN), thu nhập thuần bình quân đầu người của dân làng chưa đầy 3.000 NDT/năm (khoảng 11,65 triệu đồng VN/năm, tức là kém xa hai xã Phúc Thịnh và Thư Lâm có thu nhập bình quân khoảng 90 triệu đồng/người/năm). Bộ máy quản lý của làng rơi vào tình trạng tê liệt, đường sá không được bê tông hóa, phần lớn nhà ở là nhà đất bùn thô sơ. Phong khí trong làng rệu rã, nạn ẩu đả xảy ra như cơm bữa, lực lượng lao động trẻ tuổi ồ ạt bỏ làng đi nơi khác kiếm sống, biến nơi đây thành một "ngôi làng rỗng" điển hình.

Cuối năm 2004, trong đợt kiện toàn bộ máy ban quản lý làng, ông Tống Vĩ, một quân nhân xuất ngũ, đã được tổ chức vận động trở về làng tham gia ứng cử và được bầu làm Bí thư chi bộ làng vào năm 2005. Ban quản lý mới đã đề ra và kiên định mục tiêu tổng thể là: "Đảng dẫn đường, công nghiệp mang lại lợi ích cho dân, lấy đức hiếu nuôi dưỡng con người". Đến cuối năm 2025, tổng tài sản tập thể của làng đã bứt phá vượt mốc 10 tỷ NDT (khoảng 38,8 nghìn tỷ đồng VN), thu nhập thuần bình quân đầu người của dân làng đạt 60.000 NDT/năm (khoảng 233 triệu đồng VN/năm, gấp 20 lần so với năm 2005), nhà nhà đều ở nhà tầng, hộ hộ đều nắm giữ cổ phần tập thể.

Làng Hậu Bát làm cách nào để hiện thực hóa bước chuyển mình từ "rỗng" sang "thực", thậm chí tạo nên "tốc độ Hậu Bát" nhảy vọt liên tục như vậy? Sau quá trình khảo sát và nghiên cứu, tôi xin hệ thống và đúc kết lại lộ trình giải quyết bài toán và những bài học kinh nghiệm của họ dưới đây.

1. Khởi đầu: Tái tạo niềm tin của người dân

Từ cuối năm 2004 đến đầu năm 2005, sau khi ban quản lý mới được thành lập, họ phải đối mặt với một xuất phát điểm vô cùng yếu kém:

- Thứ nhất: Tập thể làng gánh khoản nợ hơn 200.000 NDT (khoảng 776,44 triệu đồng VN), nền kinh tế tập thể gần như bằng không. Tình cảnh lúc đó được ví von một cách hình ảnh: "Toàn bộ tài sản tiếp quản lại chỉ gồm một chiếc ấm đun nước điện, một bộ bàn ghế cũ nát, một chiếc đèn pin, một quyển sổ nợ cũ trị giá 200.000 NDT và một khuôn viên ủy ban làng đổ nát."

- Thứ hai: Mặc dù làng Hậu Bát là ngôi làng đơn họ (toàn bộ là họ Tống), nhưng lòng dân lại vô cùng ly tán, tình trạng mất lòng tin lẫn nhau kéo dài. Việc huy động và tổ chức gặp phải lực cản rất lớn, khó có thể hình thành được các hoạt động tập thể hiệu quả.

- Thứ ba: Những thói hư tật xấu tràn lan, tố chất đạo đức của người dân còn thiếu sót, gây khó khăn cực kỳ lớn cho công tác quản lý công việc của làng.

Đối mặt với nghịch cảnh thực tế, tân Bí thư Tống Vĩ một mặt thống nhất nhận thức trong ban quản lý, cùng nhau đi sâu sát đời sống nhân dân để nắm bắt tình hình và phân tích căn nguyên, từ đó định hình tư duy quản lý và phát triển; mặt khác, nỗ lực tìm kiếm lộ trình khả thi để giải quyết các vấn đề thực tế. Nhắm thẳng vào ba vấn đề cốt lõi nêu trên, ban quản lý đã đề ra phương châm "Đảng dẫn đường, công nghiệp mang lại lợi ích cho dân, lấy đức hiếu nuôi dưỡng con người", chia nhỏ các mục tiêu cơ bản và từng bước đưa vào thực hiện:

- Xác lập ý thức mục tiêu và trách nhiệm rõ ràng. Ông Tống Vĩ đã đi đầu lập lời thề trước toàn dân: "Làng Hậu Bát một năm không phát triển là do tôi chưa tìm ra phương hướng và mục tiêu; hai năm không phát triển là do tư duy của tôi sa sút, lười biếng; ba năm không phát triển, tôi sẽ tự động từ chức, tuyệt đối không làm lỡ dở tương lai của làng. Không làm đến mức xuất sắc tức là thất trách, không giành được vị trí dẫn đầu tức là tụt hậu."

- Xây dựng chế độ công khai minh bạch công việc của làng, giúp người dân nhìn nhận rõ ràng và hiểu thấu đáo thực trạng cũng như những bài toán khó mà làng đang phải đối mặt.

- Các cán bộ làng trực tiếp dẫn dắt người dân bắt tay làm từ những việc nhỏ nhặt nhất như dọn dẹp rác thải, vệ sinh môi trường, sửa đường, khoan giếng. Những việc này giúp diện mạo làng quê và khuôn viên nhà ở trở nên sạch đẹp, cho người dân cảm nhận trực quan về sự thay đổi. Đồng thời, kết hợp lịch sử và thực trạng của làng để lấy văn hóa hiếu thuận làm điểm tựa, dùng "hiếu thiện" dẫn dắt tư tưởng người dân, nâng cao năng lực gắn kết cộng đồng.

- Đi sâu khảo sát và nghiên cứu để thấu hiểu tâm tư nguyện vọng của người dân, hướng thẳng vào việc giải quyết nút thắt cốt lõi: Làm sao xóa sạch nợ nần và vực dậy nền kinh tế tập thể đang trống rỗng.

2. Đặt nền móng: Tái cấu trúc nền kinh tế tập thể

"Tân quan lên chức đốt ba ngọn đuốc", ngọn đuốc quan trọng nhất được chĩa thẳng vào sự trống rỗng và nợ nần của kinh tế tập thể – đây cũng là biểu hiện trọng yếu dẫn đến tình trạng làng bị rỗng hóa.

Năm 2006, ông Tống Vĩ đã tự huy động và ứng trước nguồn vốn cá nhân để thành lập doanh nghiệp tập thể đầu tiên trong lịch sử làng Hậu Bát: Nhà máy sản xuất dưa muối. Tiếp đó, kết hợp với kinh nghiệm khởi nghiệp và lợi thế tài nguyên tích lũy trước đó, ông lần lượt lập thêm nhà máy sản xuất linh kiện bê tông đúc sẵn và nhà máy sản xuất sản phẩm kim loại. Trong vòng hai năm, các cơ sở này đã mang lại doanh thu hơn 2,6 triệu NDT (khoảng 10,09 tỷ đồng VN). Con số này không những trả sạch khoản nợ 200.000 NDT mà còn dư ra 100.000 NDT (khoảng 388,22 triệu đồng VN), đưa nền kinh tế tập thể từ quỹ âm sang dương, bước đầu ngăn chặn được xu hướng rỗng hóa của ngôi làng.

Nguồn thu từ các dự án kinh tế tập thể này ngoài việc dùng để chi trả các khoản nợ lịch sử, còn giải quyết việc làm cho một bộ phần người dân trong làng, thu hút lực lượng lao động trẻ tuổi quay trở về quê hương. Một phần lợi nhuận cũng được trích ra để xây dựng nhà ở mới cho những người già neo đơn thuộc diện bảo trợ xã hội, qua đó thiết lập và củng cố vững chắc giải pháp "quản trị làng bằng hiếu thiện". Năm 2007, làng Hậu Bát thành lập Hội khuyến khích kính lão kính già, ông Tống Vĩ tự mình đảm nhiệm chức hội trưởng, đưa việc "kính lão yêu già" trở thành công tác thường quy của tập thể làng.

Bước đột phá lớn nhất đến từ dự án chuyển đổi toàn bộ ngôi làng vào năm 2008. Ông Tống Vĩ đã nắm bắt cơ hội chính sách có được sau rất nhiều lần thảo luận, nỗ lực kiến nghị và kiên trì thuyết phục người dân đồng thuận (ông tự dỡ bỏ ngôi nhà cũ của gia đình mình trước), khởi động chương trình giải phóng mặt bằng toàn làng. Dù lúc này kinh tế tập thể đã cải thiện rõ rệt nhưng vẫn chưa đủ sức gánh vác nhu cầu vốn khổng lồ cho việc tái định cư toàn làng.

Đối mặt thách thức đó, ông Tống Vĩ đã áp dụng nhiều biện pháp kết hợp nội lực và ngoại lực. Tại làng, cá nhân ông tự ứng trước khoảng 3 triệu NDT (khoảng 11,65 tỷ đồng VN) và đứng ra bảo lãnh vay vốn, toàn thể dân làng góp vốn 1,4 triệu NDT (khoảng 5,43 tỷ đồng VN) (để loại bỏ mối lo ngại của người dân, nếu dự án thất bại, số tiền này sẽ được tính thành khoản cho vay). Làng đã đăng ký thành lập công ty phát triển bất động sản và công ty xây dựng cấp làng. Dự án khởi công và bàn giao ngay trong năm, 512 hộ dân được nhận nhà chung cư mới hoàn toàn miễn phí, giành thắng lợi vang dội trong chiến dịch cải tạo và tái định cư toàn làng.

Gọi đây là một "chiến dịch" quả thực không hề phóng đại: Một là, ông Tống Vĩ không chỉ tiên phong dỡ bỏ nhà cũ của mình, mà còn dốc hết số vốn tích lũy nhiều năm và dùng uy tín cá nhân bảo lãnh vay nợ, có thể nói là "đặt cược cả gia sản và sinh mệnh". Hai là, khi đó chính sách của cấp trên chưa thực sự rõ ràng, dự án từng đối mặt nguy cơ bị đình chỉ, ông Tống Vĩ cùng các cộng sự phải trải qua vô số lần giải trình, đối thoại cân não với cơ quan quản lý đất đai ba cấp tỉnh, thành phố và huyện để đảm bảo dự án được triển khai thuận lợi. Ba là, ông đã huy động mọi mối quan hệ xã hội để "mua chịu, vay mượn", dùng vỏn vẹn hơn 4 triệu NDT (khoảng 15,53 tỷ đồng VN) vốn mồi để đòn bẩy cho một công trình lớn trị giá tới 200 triệu NDT (khoảng 776,44 tỷ đồng VN) và hoàn thành xuất sắc trong vòng một năm, tạo nên cột mốc đầu tiên về "tốc độ Hậu Bát".

Trận đánh này đã mang lại thành quả vô cùng ngọt ngào: Toàn bộ người dân được lên ở nhà tầng hiện đại, đưa làng từ một "làng kém" khét tiếng vươn lên thành một "làng tốt" đầy tự hào. Đồng thời, thông qua việc công ty cấp làng tự phát triển, tập thể làng đã tích lũy được nguồn vốn ban đầu khoảng 36 triệu NDT (khoảng 139,76 tỷ đồng VN), đặt nền móng vững chắc cho sự phát triển kinh tế sau này. Đáng chú ý, trong phân phối nhà ở có một chính sách đặc biệt: Nếu con cái chọn ở chung với cha mẹ, họ không chỉ được phân bổ diện tích lớn hơn mà còn được ưu tiên chọn căn hộ – triết lý "quản trị làng bằng hiếu thiện" được lồng ghép xuyên suốt và nhất quán.

Giai đoạn đặt nền móng này được coi là bước nhảy vọt đầu tiên của kinh tế tập thể làng Hậu Bát: Từ -200.000 NDT lên 36 triệu NDT.

3. Tạo đà: Kiên cường tự chủ phát triển

Sau khi toàn bộ dân làng chuyển lên chung cư, theo chính sách quản lý đất đai thời bấy giờ, làng đã dôi dư ra chỉ tiêu sử dụng đất khoảng một đến hai trăm mẫu. Để thúc đẩy sự phát triển bền vững của các ngôi làng bị thu hồi đất, thành phố Tấu Thành đã ban hành chính sách: Đối với các chỉ tiêu đất dôi dư từ việc tái định cư, nếu sau này đấu giá thấp hơn 800.000 NDT/mẫu (khoảng 3,11 tỷ đồng VN/mẫu) thì số tiền đấu giá sẽ được hoàn trả toàn bộ cho tập thể làng; nếu cao hơn 800.000 NDT/mẫu, phần vượt quá sẽ được chia đôi theo tỷ lệ 5:5 giữa tập thể làng và ngân sách thành phố. Hầu hết các ngôi làng khác đều chọn phương án nhận tiền mặt ngay.

Nhưng làng Hậu Bát lại đưa ra một lựa chọn hoàn toàn khác biệt: Sử dụng công ty phát triển bất động sản cấp làng của mình để trực tiếp tham gia vào quy trình "đấu thầu, đấu giá, niêm yết" chỉ tiêu đất để tự mình đầu tư phát triển. Từ đó, làng Hậu Bát chuyển từ giai đoạn "toàn làng lên tầng" sang giai đoạn "toàn làng phát triển", hiện thực hóa chiến lược "toàn thôn một bàn cờ", áp dụng mô hình "làng doanh nghiệp hợp nhất" để tự chủ phát triển, thúc đẩy kinh tế tập thể ngày càng lớn mạnh.

Năm 2009, dưới sự khởi xướng và điều phối của ban quản lý làng, người dân đã tự nguyện giao lại ruộng đất khoán của từng hộ cho tập thể làng để tập thể thống nhất quy hoạch, thống nhất sử dụng và thống nhất khai thác. Cho đến nay, 2.000 mẫu đất canh tác ban đầu của làng Hậu Bát được chia làm ba loại: Nhà nước thu hồi 800 mẫu; đất xây dựng của tập thể làng hơn 800 mẫu; hơn 400 mẫu còn lại chủ yếu dùng làm đất trồng rau chia đều theo đầu người.

Chỉ riêng năm 2009, công ty tập thể làng đã bắt tay vào xây dựng các thị trường quy mô lớn như chợ đầu mối nông sản. Mỗi năm, riêng tiền cho thuê bất động sản đã mang lại nguồn thu ổn định hơn 32 triệu NDT (khoảng 124,23 tỷ đồng VN) cho tập thể làng. Bằng việc nắm chắc quyền phát triển làng, chủ động kết nối và tích hợp sâu rộng vào quy hoạch phát triển đô thị để kinh doanh bất động sản, làng Hậu Bát đã tạo ra nguồn lợi nhuận vượt trội, lớn hơn rất nhiều so với việc chuyển nhượng chỉ tiêu đất đơn thuần, mang lại nhiều phúc lợi cải cách hơn cho toàn thể người dân. Kinh tế tập thể của làng bước vào kênh phát triển thần tốc, đến năm 2012 đã đạt quy mô 300 triệu NDT (khoảng 1.164,65 tỷ đồng VN).

Giai đoạn này được coi là bước nhảy vọt thứ hai của kinh tế tập thể làng Hậu Bát: Từ 36 triệu NDT lên 300 triệu NDT.

4. Cất cánh: Xây dựng Tập đoàn Hâm Kỳ

Đến năm 2012, cục diện phát triển đa ngành của làng Hậu Bát bước đầu được định hình, bao gồm các mảng thương mại logistics, phát triển địa ốc, xây dựng lắp đặt, giáo dục đào tạo, y tế dưỡng lão, văn hóa du lịch. Nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển đa thành phần này, làng Hậu Bát đã tạo ra hai bước đột phá quan trọng: Một là, năm 2012 đã hợp nhất nguồn vốn 300 triệu NDT (khoảng 1.164,65 tỷ đồng VN) để đăng ký thành lập Tập đoàn Hâm Kỳ (Xinqi Group), thiết lập các công ty con chuyên trách; hai là, cùng năm đó đã thành lập Đảng bộ cấp làng đầu tiên của thành phố Tấu Thành.

Tên gọi của Tập đoàn Hâm Kỳ có âm đọc gần giống với từ "tâm tề" (đồng lòng). Là một người lính xuất ngũ, ông Tống Vĩ thấu hiểu sâu sắc rằng đoàn kết là sức mạnh, việc tổ chức chặt chẽ để tập trung tinh thần và sức lực là điều cốt tử. Cùng với việc thúc đẩy "quản trị làng bằng hiếu thiện", làng Hậu Bát tập trung xây dựng "văn hóa đồng lòng", thông qua con đường kinh tế tập thể để không ngừng củng cố triết lý: "Một gia đình, một tấm lòng, cùng một mục tiêu, cùng nhau chiến đấu." Tầm quan trọng của "văn hóa đồng lòng" nằm ở chỗ, song song với sự lớn mạnh của kinh tế tập thể, làng Hậu Bát đã phá vỡ những giới hạn hạn hẹp của một ngôi làng truyền thống, không ngừng mở cửa trong các lĩnh vực nhân tài, tài nguyên và dự án. Dân cư bên ngoài và nhân tài liên tục đổ về, giúp ngôi làng chuyển mình từ đóng kín truyền thống sang mở cửa hiện đại.

Theo số liệu thống kê của làng, đến tháng 3 năm 2026, số thành viên tập thể làng đã đạt 2.600 người, trong đó có khoảng bảy đến tám trăm người là các bạn trẻ đã gia nhập doanh nghiệp làng từ hai năm trở lên, được chứng nhận trở thành thành viên chính thức của tổ chức kinh tế tập thể, trong khi 1.760 người dân gốc của làng không có một ai rời đi nơi khác. Làng Hậu Bát vốn là một ngôi làng đơn họ, nhưng hiện nay trong ban thường vụ Đảng ủy tập đoàn gồm 5 người thì có tới 4 người là sinh viên đại học được tuyển dụng từ bên ngoài. Đội ngũ nhân tài với những gương mặt cốt cán như cô Tống Hải Hà (người làng gốc) cùng các nhân sự trẻ ngoài làng như Dương Thụy Hà, Tang Lỗ, Tào Mẫn... đảm nhiệm vị trí đại diện pháp luật và xương sống của doanh nghiệp tập thể đã hình thành nên một cục diện phát triển cởi mở: Rộng mở đón hiền tài, đồng lòng mạnh thuở xưa.

Các cơ sở thương mại và khu nhà ở do Tập đoàn Hâm Kỳ phát triển đã thu hút hơn 7.000 hộ kinh doanh công thương nghiệp và hơn 30.000 người đến định cư lâu dài. Đảng ủy làng kiên trì phương châm "đã bước qua cánh cổng Hậu Bát thì đều là người Hậu Bát", hằng năm đều tổ chức hoạt động bình chọn "Người Hâm Kỳ đẹp nhất", kịp thời tuyên dương và trao thưởng cho những người ngoại tỉnh có đóng góp cho sự phát triển của làng, giúp họ có địa vị về chính trị, nhận được lợi ích về kinh tế và được tôn trọng trong xã hội. Triết lý quản trị này đã lan tỏa "văn hóa đồng lòng" ra toàn bộ cộng đồng dân cư, giúp cho hơn 30.000 cư dân trong khu vực quản lý "cùng nhìn về một hướng, cùng chung một nguồn lực".

Kể từ năm 2012, kinh tế tập thể của làng Hậu Bát bước vào thời kỳ phát triển bùng nổ, liên tiếp đầu tư xây dựng Quảng trường Quốc tế Hâm Kỳ (tổ hợp thương mại), hệ thống trường học liên cấp 15 năm, viện dưỡng lão y học cổ truyền, khách sạn cao cấp, giải quyết việc làm cho hàng ngàn lao động địa phương và người nhập cư. Đến năm 2017, tài sản của doanh nghiệp tập thể làng đã chạm mốc 3,5 tỷ NDT (khoảng 13.587,63 tỷ đồng VN).

Giai đoạn này được coi là bước nhảy vọt thứ ba của kinh tế tập thể làng Hậu Bát: Từ 300 triệu NDT lên 3,5 tỷ NDT.

5. Cải cách: Kiên định mục tiêu thịnh vượng chung

Năm 2017, cả nước phát động cuộc cải cách chế độ quyền sở hữu tài sản tập thể nông thôn. Làng Hậu Bát là đơn vị tiên phong của tỉnh Sơn Đông hoàn thành cuộc cải cách này, thành lập Hợp tác xã kinh tế cổ phần tập thể làng, tiến hành cấp phát cổ phần cho toàn thể người dân và nhân viên. Qua công tác kiểm toán và định giá tài sản, làng đã xác nhận có 1.576 thành viên tổ chức kinh tế tập thể (bao gồm 1.441 người dân gốc và 135 nhân viên doanh nghiệp làng làm việc đủ hai năm), tiến hành quy đổi và định lượng toàn bộ quyền phân phối lợi nhuận từ khối tài sản kinh doanh tập thể trị giá 1,2 tỷ NDT (khoảng 4.658,62 tỷ đồng VN) đến từng cá nhân. Mỗi cổ phần trị giá 300.000 NDT (khoảng 1,16 tỷ đồng VN), trung bình mỗi hộ gia đình được chia số cổ phần tương đương 4 đến 5 triệu NDT (khoảng 15,53 tỷ đến 19,41 tỷ đồng VN), cuối năm nhận cổ tức theo tỷ lệ cổ phần nắm giữ.

Trong cuộc cải cách này, ông Tống Vĩ đã đưa ra một quyết định mang tính then chốt: Đem toàn bộ phần đầu tư cá nhân đứng tên mình tại các doanh nghiệp và công ty làng trước đây – vốn được kiểm toán xác nhận là tài sản cá nhân hợp pháp chiếm 30% cổ phần và nguồn vốn trị giá 1,3 tỷ NDT (khoảng 5.046,83 tỷ đồng VN) – hiến tặng vô điều kiện cho tập thể làng.

Hành động này đã hiện thực hóa triết lý mà ông từng chia sẻ trước đại hội dân làng: "Một mình tôi giàu thì chưa phải là giàu, toàn bộ người dân trong làng cùng giàu mới là cái giàu thực sự." "Thịnh vượng chung" trở thành mục tiêu cơ bản mà làng Hậu Bát kiên trì theo đuổi.

Năm 2023, Tập đoàn đã ban hành quy định mới: "Nâng độ tuổi không được hưởng cổ tức tập thể đối với những người dân trong độ tuổi từ 20-45 không làm việc tại các doanh nghiệp tập thể lên mức 20-50 tuổi". Quy định này nhằm triệt tiêu hiện tượng một bộ phận thanh niên thờ ơ với sự phát triển kinh tế tập thể, lười lao động, ngồi mát ăn bát vàng, không chịu tiến thủ, sa đà vào hưởng lạc và thiếu tinh thần cống hiến – bởi thế hệ kế cận tương lai của ngôi làng sẽ được sinh ra chính từ thế hệ trẻ này.

Thông qua cuộc cải cách chế độ quyền sở hữu tài sản tập thể và sự hiến tặng vô điều kiện của ông Tống Vĩ, làng Hậu Bát đã hiện thực hóa triệt để mô hình "làng doanh nghiệp hợp nhất", đưa sự phát triển kinh tế tập thể bước vào làn đường cao tốc, cho đến nay đã chính thức vượt qua cột mốc 10 tỷ NDT (khoảng 38.821,8 tỷ đồng VN).

Giai đoạn này được coi là bước nhảy vọt thứ tư của kinh tế tập thể làng Hậu Bát: Từ 3,5 tỷ NDT lên hơn 10 tỷ NDT.

6. Quản trị: Kết nối hài hòa giữa truyền thống và hiện đại

Từ năm 2005 đến nay, tư duy phát triển "Đảng dẫn đường, lấy đức hiếu nuôi dưỡng con người, công nghiệp mang lại lợi ích cho dân" luôn được thực hiện nhất quán. Song song với việc kinh tế tập thể liên tục đạt được sự phát triển nhảy vọt và không ngừng "mang lại lợi ích cho dân", hệ thống quản trị nông thôn cũng đồng thời được xây dựng và hoàn thiện liên tục.

- Đảng dẫn đường vững chắc

Xuất thân là một người lính, ông Tống Vĩ hiểu rõ tầm quan trọng cốt tử của công tác tư tưởng chính trị. Ban quản lý mới kiên trì xem công tác tư tưởng chính trị là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt để quản trị và phát triển làng, lồng ghép sâu sắc các lý luận đổi mới của Đảng vào quản trị làng quê, sáng tạo ra phương pháp làm việc "Đảng dẫn đường + Bốn hợp" bao gồm: "Hợp nhất tổ chức, hòa hợp đức trị, tích hợp tài nguyên, gắn hợp lòng dân", đưa vai trò dẫn đường của Đảng xuyên suốt vào toàn bộ quá trình phát triển kinh tế tập thể, quản trị nông thôn và xây dựng văn hóa.

Ví dụ, ông Tống Vĩ đã kết hợp văn hóa đỏ của quân đội với công tác Đảng ở nông thôn, thúc đẩy làng xây dựng quy định dành cho cán bộ làng mang tên "Ba kỷ luật, tám điều chú ý": "Thứ nhất, tâm nguyện ban đầu không đổi, kiên định đi theo Đảng; thứ hai, liêm chính công tâm phải luôn giữ vững; thứ ba, công bằng chính trực làm việc thực chất...", xây dựng và duy trì vững chắc vai trò "chim đầu đàn" của đội ngũ cán bộ ban quản lý làng.

- Quản trị làng bằng hiếu thiện

Như đã trình bày ở trên, năm 2007 làng Hậu Bát thành lập Hội khuyến khích kính lão kính già, ông Tống Vĩ tự làm hội trưởng. "Đạo hiếu", "đức hiếu" trở thành đòn bẩy đầu tiên để quản trị làng và giáo dục con người, hình thành nên các biện pháp hỗ trợ toàn diện:

Ưu tiên phân phối: Ngoài việc những người chọn ở chung với cha mẹ được ưu tiên chọn nhà và diện tích lớn khi lên nhà tầng, làng còn thiết lập riêng cổ phần chăm sóc dinh dưỡng và cổ phần cứu chữa y tế cho người già, hỗ trợ thanh toán toàn bộ chi phí điều trị các bệnh hiểm nghèo. Thông qua thiết kế cơ chế, làng đã cụ thể hóa đạo đức truyền thống "trong trăm cái thiện, hiếu đứng đầu" thành những sắp xếp ưu tiên trong phân phối lợi ích.

Hệ thống đánh giá công khai: Hằng năm, làng đều tổ chức bình chọn "Mười ngôi sao hiếu thảo", "Mẹ chồng tốt, nàng dâu hiền", "Gia đình văn minh", kết quả được công bố công khai và tổ chức biểu dương rầm rộ tại quảng trường văn hóa làng. Đồng thời, làng lập ra "Bảng phê bình những hành vi thiếu thiện", công khai phê phán những hành vi bất hiếu với cha mẹ, bất hòa với hàng xóm láng giềng, khiến cho những hành vi thiếu văn minh không còn đất dung thân.

Bảo đảm bằng quy chế và phúc lợi: Quy ước của làng yêu cầu con cái bắt buộc phải phụng dưỡng cha mẹ, con cái đã trưởng thành phải nộp thống nhất khoản tiền phụng dưỡng 50 NDT/tháng (khoảng 194.109 đồng VN/tháng), mỗi tuần phải nấu ăn cho cha mẹ hai lần, dùng những quy định cứng để nuôi dưỡng hành vi hiếu thuận. Làng triển khai chương trình "Bữa ăn dinh dưỡng một NDT", người già trên 60 tuổi mỗi ngày chỉ cần bỏ ra đúng 1 NDT (khoảng 3.882 đồng VN) là có thể thưởng thức bữa sáng và bữa trưa ngon lành tại nhà ăn của viện dưỡng lão. Tập đoàn Hâm Kỳ hằng tháng chi trả khoản lương hiếu thảo trị giá 1.200 NDT (khoảng 4,66 triệu đồng VN) cho cha mẹ của nhân viên, yêu cầu cha mẹ phải đích thân đến nhận, không cho phép nhận thay; nhân viên hằng tháng được tăng thêm một ngày nghỉ hưởng nguyên lương để dành thời gian ở bên cạnh bầu bạn với cha mẹ. Cha mẹ nhân viên khi vào ở viện dưỡng lão y học cổ truyền Hâm Kỳ cũng được hưởng những ưu đãi rất lớn.

Văn hóa đạo hiếu lan tỏa: Sáng tác bài hát của làng mang tên "Bài ca hiếu đức", thông qua việc truyền hát rộng rãi để thúc đẩy "đạo hiếu", "đức hiếu" hình thành nên hiệu ứng văn hóa, thấm sâu vào tâm khảm của từng người dân.

- Quản trị làng bằng văn hóa

Làng Hậu Bát thông qua các hình thức như trường học ban đêm cho người dân, chuyên mục "Tiếng nói Hâm Kỳ", hệ thống loa phát thanh địa phương... để thúc đẩy sự kết hợp chặt chẽ giữa chấn hưng văn hóa nông thôn với quản trị nông thôn, nâng tầm những lời kêu gọi tinh thần và giáo huấn đạo đức thành sự tự giác văn hóa. Cho đến nay, làng Hậu Bát đã hình thành nên một hệ thống văn hóa nông thôn mang bản sắc độc đáo của riêng mình, bao gồm văn hóa hiếu thiện, văn hóa đỏ, văn hóa đồng lòng, văn hóa tình nguyện, lần lượt đóng vai trò bồi đắp nền tảng, định hình tư tưởng, thúc đẩy sự nghiệp và đúc kết linh hồn cho ngôi làng.

Qua đó có thể thấy, hệ thống quản trị đặc sắc của làng Hậu Bát vừa hấp thụ và phát huy tối đa vai trò tích cực của văn hóa truyền thống, vừa kết hợp một cách hữu cơ với văn hóa hiện đại và các cơ chế quản trị tiên tiến; đặc biệt thông qua việc xây dựng chế độ doanh nghiệp hiện đại của Tập đoàn Hâm Kỳ, giúp cho quản trị nông thôn kết nối hài hòa, thông suốt giữa truyền thống và hiện đại.

7. Tìm đường: Thực tiễn cơ sở của sự "kết hợp hai hài hòa"

Thực tiễn vĩ đại của làng Hậu Bát đã tái hiện sinh động quá trình lội ngược dòng của một "ngôi làng rỗng" – từ tập thể làng, bản thân ngôi làng cho đến từng người dân đều đạt được sự nhảy vọt về chất và sự phát triển vượt bậc.

Sự chuyển mình lớn đầu tiên là "Từ yếu thành mạnh": Tài sản tập thể làng từ chỗ nợ nần 200.000 NDT vào năm 2005 đã bứt phá vượt 10 tỷ NDT vào năm 2025, thu nhập thuần bình quân đầu người của dân làng từ mức chưa đầy 3.000 NDT tăng mạnh lên 60.000 NDT, hiện thực hóa trọn vẹn mục tiêu "hộ hộ có vốn, nhà nhà làm cổ đông, năm năm nhận cổ tức".

Sự chuyển mình lớn thứ hai là "Từ loạn thành trị": Trong hơn 20 năm qua, làng Hậu Bát đã liên tiếp được công nhận với hơn 30 danh hiệu cấp quốc gia như Làng văn minh toàn quốc, Làng kiểu mẫu về dân chủ và pháp trị toàn quốc, Tổ chức Đảng cơ sở tiên tiến toàn quốc, cùng vô số bằng khen, danh hiệu của các cấp tỉnh, thành phố.

Trong hơn hai mươi năm kiên cường tiến bước, làng Hậu Bát đã dò dẫm và tìm ra một con đường chấn hưng nông thôn dựa vào khai thác quỹ đất để tự chủ quyền phát triển của làng, gặt hái được những thành quả vô cùng phong phú, đồng thời cung cấp những kinh nghiệm và bài học quý báu cho các ngôi làng khác:

- Thứ nhất: Phát triển kinh tế tập thể vừa là bước đi tiên phong, vừa là trục tọa độ cốt lõi.

Sự phát triển kinh tế tập thể của làng Hậu Bát đã trải qua các giai đoạn thành lập doanh nghiệp tập thể, thành lập tập đoàn công ty, cải cách cổ phần hóa... Trong suốt tiến trình phát triển đó, vai trò chủ đạo của tập thể làng luôn được giữ vững – từ việc lập xí nghiệp đến mở công ty, tất cả đều thuộc sở hữu của tập thể làng.

Dù trước năm 2017 ông Tống Vĩ từng tự ứng vốn và nắm giữ lượng cổ phần đáng kể, nhưng nhìn từ thực tiễn, ông Tống Vĩ tương đương với việc "nắm giữ hộ" cổ phần cho tập thể làng, sáng tạo nên một nền kinh tế hỗn hợp mang tính chất "đất công hữu trong tay tư nhân". Sau cuộc cải cách chế độ sở hữu tài sản tập thể, ông Tống Vĩ hiến tặng vô điều kiện toàn bộ cổ phần cá nhân và doanh thu tiền mặt, Tập đoàn Hâm Kỳ trở thành một thực thể kinh tế tập thể kiểu mới thuần túy, làng Hậu Bát hiện thực hóa triệt để mô hình "làng doanh nghiệp hợp nhất".

Trong toàn bộ tiến trình phát triển, các mảng ngành nghề không thực hiện khoán thầu cho các hộ lớn, cũng không thu hút đầu tư từ bên ngoài, không bị thao túng bởi các hộ lớn hay người ngoài làng, kinh tế tập thể của làng luôn nằm vững chắc trong khuôn khổ quản trị và phát triển của ngôi làng.

Khi cải cách cổ phần hóa, ngoài việc lập riêng ba loại cổ phần phúc lợi đặc biệt là "cổ phần nuôi dưỡng trẻ nhỏ", "cổ phần dinh dưỡng", "cổ phần bảo kiện" cùng cổ phần đóng góp, các cán bộ trong ban quản lý làng bao gồm cả ông Tống Vĩ đều bình đẳng như mọi người dân, không có cổ đông lớn, làng Hậu Bát không ngừng tìm tòi nội hàm và cơ chế quản trị dân chủ của nền kinh tế tập thể.

- Thứ hai: Cốt lõi của Đảng dẫn đường nằm ở sự "nhúng sâu" trở lại của tổ chức vào cấu trúc làng xã.

Thời điểm ông Tống Vĩ mới lên nhậm chức, lòng dân toàn làng ly tán, bộ máy quản lý gần như tê liệt. Sau khi lên chức, thông qua các biện pháp phát triển kinh tế tập thể, thay đổi diện mạo làng quê, đẩy mạnh quản trị làng bằng đức hiếu... đặc biệt là bắt đầu từ đội ngũ cán bộ làng để tăng cường công tác tư tưởng chính trị, xây dựng quy định "Ba kỷ luật, tám điều chú ý", tổ chức Đảng đã được nhúng sâu trở lại vào cấu trúc của làng xã, cán bộ làng trở về giữa lòng nhân dân, đi sâu vào nhà dân và chiếm trọn niềm tin trong lòng người dân.

Điểm tựa phát triển của làng Hậu Bát là "Đảng dẫn đường, lấy đức hiếu nuôi dưỡng con người, công nghiệp mang lại lợi ích cho dân", xem công nghiệp và quản trị là hai bàn tay cụ thể hóa công tác Đảng. Trong thực tiễn, sự dẫn đường của Đảng đã thúc đẩy mối quan hệ phản hồi tích cực, liên tục giữa phát triển công nghiệp và quản trị làng quê, kinh tế tập thể đạt được sự nhân cấp và nhảy vọt liên tục, từ chỗ nợ nần chồng chất vươn lên quy mô mười tỷ NDT chỉ trong vòng vỏn vẹn hai mươi năm.

Điều rất đáng nhắc đến là "tốc độ Hậu Bát" nổi tiếng với đặc điểm thời gian thi công ngắn, chi phí thấp, chất lượng cao được thể hiện xuyên suốt – "Dốc toàn lực 100 ngày hoàn thành chợ đầu mối nông sản", "Mở xong một con đường chỉ trong vòng một đêm", "Xây dựng xong hệ thống trường học nội trú chất lượng cao từ mầm non đến trung học phổ thông quy mô 130.000 mét vuông chỉ trong vòng 12 tháng"...

Nguồn gốc chủ yếu của những kỳ tích này là nhờ có một đội ngũ cán bộ đảng viên thống nhất về tư tưởng, có năng lực chiến đấu cực kỳ mạnh mẽ. Có thể nói, "tốc độ Hậu Bát" chính là biểu hiện trực tiếp của việc tổ chức Đảng nhúng sâu và gắn kết chặt chẽ vào đời sống nhân dân.

- Thứ ba: Vượt qua muôn vàn khó khăn, sáng tạo hiện thực hóa quyền tự chủ phát triển của ngôi làng.

Sự khởi đầu và cất cánh của kinh tế tập thể làng Hậu Bát tình cờ bắt kịp làn sóng bùng nổ của ngành bất động sản Trung Quốc. Có ý kiến cho rằng, việc làng Hậu Bát tích lũy được khối tài sản quy mô mười tỷ NDT hoàn toàn là nhờ vào việc hưởng lợi từ thời đại – thực ra không hẳn như vậy.

Từ việc mở xí nghiệp tập thể, đến việc tái định cư toàn làng, rồi đến việc tự chủ phát triển toàn diện ngôi làng, mỗi một cái ngưỡng mà làng Hậu Bát bước qua, mỗi một phần lợi ích mà họ giành được, đều là kết quả của việc ông Tống Vĩ cùng tập thể làng không quản ngại khó khăn, kiên cường "đánh chiếm từng ngọn núi" mà có được.

Ông Tống Vĩ thường nói: "Người đã từng đi lính thì không bao giờ sợ phải đánh chiếm các ngọn núi." Tại rất nhiều thời điểm thắt nút then chốt, bản thân ông thậm chí đã đem toàn bộ gia sản của mình ra để bảo lãnh, dốc hết sinh mệnh để làm việc cho làng. Để thu được nhiều lợi ích hơn từ việc phát triển đất đai đòi hỏi phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng và đáp ứng hàng loạt điều kiện vô cùng khắt khe, chính vì thế nhiều ngôi làng khi tháo dỡ mặt bằng thường chọn phương án nhận tiền đền bù một lần cho xong chuyện.

Làng Hậu Bát thì hoàn toàn ngược lại, ngay từ giai đoạn đầu của dự án toàn làng lên nhà tầng đã kiên quyết lựa chọn phương án tự mình xây dựng, tự mình khai thác; đối mặt với lô chỉ tiêu sử dụng đất dôi dư đầu tiên được giải phóng ra, họ không chọn cách nhận tiền đền bù bằng tiền mặt một cách đơn giản, mà chủ động tham gia vào quy trình đấu thầu, đấu giá trên thị trường, sáng tạo nên quyền tự chủ phát triển của ngôi làng trong nền kinh tế thị trường.

Có thể nói, hành trình phát triển của làng Hậu Bát là một sự vận dụng một cách tự phát lý luận địa tô của Marx – thông qua việc phát triển mạnh mẽ nền kinh tế tập thể để thu về nhiều địa tô chênh lệch hơn, tạo lập nền tảng kinh tế vững chắc hơn cho sự phát triển của làng xã. Nhìn từ tư tưởng xã hội hóa địa tô của Henry George, sự phát triển kinh tế tập thể và các nguyên tắc phân phối hướng tới mục tiêu thịnh vượng chung của làng Hậu Bát đã hiện thực hóa một sự kết hợp hữu cơ giữa "giá trị tăng thêm thuộc về công cộng" và "giá trị tăng thêm làm giàu cho nông dân".

Do đó, làng Hậu Bát xứng đáng là một hình mẫu điển hình về việc sáng tạo hiện thực hóa quyền tự chủ phát triển của làng xã, thúc đẩy thịnh vượng chung và chấn hưng nông thôn.

- Thứ tư: Hệ thống văn hóa quản trị là sự kết hợp hữu cơ giữa truyền thống và hiện đại.

Làng Hậu Bát vô cùng coi trọng việc học tập của người dân và sự chấn hưng văn hóa, ngay từ năm 2007 đã lập ra trường học ban đêm cho người dân và duy trì bền bỉ cho đến tận ngày nay. Trường học ban đêm chia toàn bộ người dân trong làng từ 18 đến 70 tuổi thành 15 lớp đào tạo để tiến hành tập huấn luân phiên; hiện nay nhà nhà đều được lắp đặt loa phát thanh nhỏ, hình thành nên một hệ thống truyền thông đồng bộ "một trường học, một tờ báo, một đài phát thanh".

Qua nhiều năm, kết hợp giữa thực tiễn phát triển và quản trị, làng Hậu Bát đã tìm tòi và hình thành nên một hệ thống văn hóa nông thôn vững chắc với bốn trụ cột chính: Văn hóa hiếu thiện, văn hóa đỏ, văn hóa đồng lòng, văn hóa tình nguyện. Trong đó vừa có văn hóa truyền thống, vừa có văn hóa hiện đại, đồng thời lồng ghép sâu sắc văn hóa đỏ của cách mạng, tạo nên sự hòa nhập và thông suốt toàn diện giữa truyền thống và hiện đại.

Dựa trên những quan sát nêu trên, con đường chấn hưng nông thôn phát triển nền kinh tế tập thể kiểu mới, hướng tới mục tiêu thịnh vượng chung của làng Hậu Bát có thể nói là một ví dụ vô cùng sinh động về thực tiễn ở cấp cơ sở của sự "kết hợp hai hài hòa", mang nội hàm cực kỳ phong phú và sâu sắc.

Bài viết này mới chỉ là những đúc kết sơ bộ mang tính chất khái quát, khó tránh khỏi những thiếu sót hoặc chưa bao quát hết mọi khía cạnh. Đúng như lời nhận xét của một số chuyên gia nghiên cứu xã hội: "Thực tiễn của làng Hậu Bát Lý Câu đã mang lại cho chúng ta những gợi mở mang tính cởi mở chưa từng có từ trước đến nay." Để thấu hiểu một cách trọn vẹn nội hàm kinh nghiệm và thực tiễn của Hậu Bát, chắc chắn sẽ cần thêm nhiều chuyến khảo sát chuyên sâu cũng như sự quan tâm, theo dõi và đúc kết liên tục trong thời gian tới.

Chú thích ảnh: Trong bài phân tích về Thông điệp năm mới 2024 của ông Tập Cận Bình, Mạng Truyền hình Toàn cầu Trung Quốc (CGTN - China Global Television Network) đã dùng tên và hình ảnh của làng Hậu Bát Lý Câu làm ảnh minh họa cho bài báo, xem như một ví dụ thực tế tiêu biểu cho chính sách phát triển nông thôn của ông Tập Cận Bình, để khẳng định định hướng vĩ mô của ông Tập Cận Bình về phát triển lấy người dân làm trung tâm và thúc đẩy phát triển nông thôn là hoàn toàn đúng đắn và thành công.


Tài liệu đọc thêm:

https://english.news.cn/20231222/16995a34dc794cd0903d32e1ad6448e3/c.html

https://english.news.cn/20231222/b9f09394960e4ffa9580bb2e1597f6ca/c.html

https://news.cgtn.com/news/2024-01-01/Xi-s-New-Year-message-People-centric-development-as-defining-theme-1q0bHqth8aI/p.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét