Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

Ba sai lầm chiến lược của Mỹ

Ba sai lầm chiến lược của Mỹ 
Tác giả bài dưới đây là ông Vuk Jeremić Nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Serbia, Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 67. Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, luận thuyết "Sự kết thúc của lịch sử" do nhà chính trị học người Mỹ Francis Fukuyama đề xướng đã từng khoác lên trật tự đơn cực do phương Tây dẫn dắt một hào quang "vĩnh cửu". 
Mô hình phương Tây dường như đã trở thành đáp án cuối cùng của nhân loại. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 30 năm ngắn ngủi, thế giới không những không đồng nhất mà còn tăng tốc tiến tới đa cực hóa. Tại sao nước Mỹ lại trượt dốc từ đỉnh cao? Cục diện đa cực của thế giới đã hình thành như thế nào?

Mới đây, ông Vuk Jeremić, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Serbia và nguyên Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, trong bài diễn thuyết mang tên "Hòa bình đa cực và Bài toán đa thể", tại 
Đại học Phúc Đán Trung Quốc, đã chỉ ra rằng: Sự thay đổi này không bắt nguồn từ việc các thách thức bên ngoài đột ngột mạnh lên, mà nằm ở chính một loạt phán đoán sai lầm chiến lược then chốt của Mỹ, vốn đã làm xói mòn nền tảng thực tế của cục diện đơn cực.

Ngày nay, chúng ta đang bước vào một thế kỷ "đa nguyên cộng sinh". Cải cách Liên Hợp Quốc bị cản trở, các tổ chức khu vực trỗi dậy, lửa chiến tranh tại Trung Đông vẫn chưa tắt, liệu đa cực hóa sẽ dẫn đến đối đầu, cân bằng hay hợp tác? Ông Jeremić cũng đã đưa ra ba kịch bản tương lai có thể xảy ra trong bài phát biểu của mình.

Dưới đây là nội dung bài diễn thuyết

Chào buổi chiều quý vị. Theo lời mời của người bạn thân thiết, Giáo sư Trương Duy Vi (Zhang Weiwei), tôi rất vinh dự được trở lại Đại học Phúc Đán. Đây không phải lần đầu tôi đến đây, và mỗi lần ghé thăm tôi đều vô cùng trân trọng. Tôi luôn sắp xếp lịch trình để có thể tới thăm Phúc Đán.

Bất cứ khi nào đến Trung Quốc cũng là một hành trình kỳ diệu, và đối với cá nhân tôi, chuyến thăm lần này đặc biệt có ý nghĩa vì tôi đang giảng dạy khóa học "Nhập môn Địa chính trị đương đại". Có lẽ vì sức hút của bản thân đề tài hơn là vì lý do cá nhân tôi, mà khóa học này nhận được rất nhiều sự quan tâm. Tình hình quốc tế hiện nay biến đổi khôn lường, có rất nhiều vấn đề nóng đáng để thảo luận, và tôi rất sẵn lòng trao đổi sâu hơn với quý vị trong phần phát biểu cũng như phần hỏi đáp sắp tới.

Tôi đồng thời là Tổng biên tập của tạp chí quý Horizons, một ấn phẩm tập trung vào các vấn đề quốc tế mà Giáo sư Trương đã từng ưu ái đóng góp bài viết, cũng như nhiều đồng nghiệp trong giới học thuật đã lần lượt cộng tác. Chủ đề bài phát biểu hôm nay của tôi là "Hòa bình đa cực và Bài toán đa thể", phù hợp với tiêu đề số mới nhất của tạp chí. Số này vừa được phát hành chính thức cách đây một tháng, với nội dung cốt lõi là sự đa cực hóa, quy tụ nhiều bài viết quan trọng từ các học giả như Giáo sư John Mearsheimer, Giáo sư Jeffrey Sachs, Richard Haass, cũng như các chính trị gia như Kishore Mahbubani, nguyên Bộ trưởng Ngoại giao Iran Javad Zarif.

Ông Kishore Mahbubani là nhà ngoại giao kỳ cựu của Singapore và là người bạn thân của tôi. Tôi đã mời ông viết một bài dựa trên bài giảng cho sinh viên của tôi tại Paris vào tháng 11 năm ngoái, và mời ông làm diễn giả chính cho tiết học công khai đầu tiên của tôi với chủ đề: "Châu Á và chủ nghĩa đa phương: Tương lai có thuộc về châu Á?".

Điều thú vị là, trước khán giả tại Paris, ông Mahbubani đã mở đầu bài giảng bằng cách nói: "Nếu buổi diễn thuyết này diễn ra vào năm 1925, tức là một thế kỷ trước, tôi có lẽ sẽ nói rằng: Châu Á là quá khứ, Châu Âu là hiện tại và Châu Mỹ là tương lai. Nhưng đến năm 2025, tôi biết nhận định này có thể gây tranh cãi, song tôi vẫn tin rằng: Châu Âu là quá khứ, Châu Mỹ là hiện tại và Châu Á mới là tương lai". Tôi đã khẩn khoản mời ông đúc kết những nhận định đó thành bài viết để đưa vào số đặc biệt này. Bài viết đã phân tích sâu sắc cấu trúc chiến lược đằng sau các biến động địa chính trị hiện nay.

Có mặt tại Trung Quốc, tôi không cần phải giải thích quá nhiều về lý do chọn chủ đề "Hòa bình đa cực và Bài toán đa thể". Chắc hẳn đa số quý vị ở đây đều biết đến tác phẩm kinh điển Tam Thể của Lưu Từ Hân, cuốn sách mô tả một nền văn minh chật vật dưới sự thiêu đốt của ba mặt trời, tìm cách sinh tồn trong vòng lặp hủy diệt. Đây không chỉ là tưởng tượng khoa học viễn tưởng, mà giống như một lời tiên tri về thực tại: Khi "Hòa bình kiểu Mỹ" (Pax Americana) tan rã, thế giới đang chuyển từ đơn cực sang một thời đại "đa trung tâm" hỗn loạn. Giống như hệ thống ba ngôi sao trong Tam Thể, sự đấu đá vô trật tự của nhiều thế lực khiến tương lai đầy rẫy những biến động và khủng hoảng khó lường, thậm chí có thể nuôi dưỡng các yếu tố bất ổn. Đây chính là thách thức cốt lõi mà toàn cầu đang đối mặt.

Như đã nói ở trên, chúng ta đang từ biệt hệ thống đơn thể do Mỹ dẫn dắt. Hệ thống này là một trật tự đơn cực dựa trên bá quyền của Mỹ, nơi Mỹ chiếm lĩnh vị thế chủ đạo tuyệt đối nhờ quyền lực toàn diện về quân sự, tài chính và công nghệ. Cục diện này được hình thành khi Chiến tranh Lạnh kết thúc.

Sự hạ màn của Chiến tranh Lạnh là một dấu mốc trọng đại trong lịch sử cận đại. Nhiều người đã reo hò vui mừng, thậm chí nảy sinh thuyết "Sự kết thúc của lịch sử". Tin rằng quý vị đều biết khái niệm này do Giáo sư Francis Fukuyama của Đại học Stanford đưa ra. Ông cho rằng chế độ dân chủ tự do và chủ nghĩa tư bản tự do mà Mỹ đại diện đã giành chiến thắng quyết định trong Chiến tranh Lạnh, chứng minh đây là lựa chọn tối ưu và cuối cùng sẽ được các quốc gia toàn cầu tiếp nhận. Mô hình quản trị và giá trị của các nước sẽ dần đồng nhất. Khi đó, giữa các cường quốc sẽ không còn ma sát và chiến tranh, mà bản chất lịch sử nhân loại chính là lịch sử chiến tranh giữa các cường quốc, do đó ông khẳng định lịch sử đã đi đến hồi kết.

Đây là một sai lầm nhận thức cực kỳ phổ biến. Tôi không phải là nhà nghiên cứu lịch sử, nhưng đại đa số các sử gia đều cho rằng "Sự kết thúc của lịch sử" chỉ là một ảo tưởng. Mỗi khi một cuộc xung đột lớn kết thúc, bên chiến thắng thường nảy sinh ảo giác này. Họ tin rằng chiến thắng của mình sẽ tồn tại vĩnh viễn và trật tự do mình đặt ra sẽ không bao giờ thay đổi. Ảo tưởng này từng xuất hiện sau Thế chiến I và Thế chiến II. Nhưng thực tế chưa bao giờ chiều lòng người, những vết nứt luôn âm thầm xuất hiện và bánh xe lịch sử cuối cùng vẫn sẽ tiếp tục lăn bánh.

Thuyết "Sự kết thúc của lịch sử" thịnh hành sau Chiến tranh Lạnh cũng rơi vào sai lầm nhận thức tương tự. Tôi vẫn nhớ Giáo sư Trương Duy Vi từng có cuộc đối thoại với Fukuyama, đó cũng là lần đầu tiên giới học thuật đưa ra những nghi vấn mạnh mẽ và hệ thống đối với quan điểm cốt lõi của Fukuyama. Vào thời điểm đó, dám trực diện thách thức Fukuyama là điều không dễ dàng; nhưng đến nay, hầu hết mọi người đã đồng ý rằng "Sự kết thúc của lịch sử" chẳng qua chỉ là một trào lưu tư tưởng mang tính giai đoạn trong thời kỳ đầu của cuộc đại biến đổi.

1. Nước Mỹ đã đưa ra ba lựa chọn chiến lược sai lầm

Vậy tại sao chỉ trong vài thập kỷ, bá quyền toàn cầu của Mỹ lại suy yếu rõ rệt và không ngừng tan rã? Nguyên nhân căn bản không nằm ở việc hệ thống đồng minh tan vỡ, mà nằm ở chỗ Mỹ đã ở trong trạng thái "độc tôn" quá lâu: sức mạnh vượt xa các đồng minh, hình thành cấu trúc bá quyền đơn cực tập trung cao độ. Và Mỹ lại đưa ra một chuỗi các lựa chọn chiến lược mà họ tự cho rằng có thể củng cố và kéo dài bá quyền đó. Tôi không có ý định phán xét những lựa chọn này đúng hay sai, mà chỉ muốn làm rõ logic nội tại và các giả định tiên quyết đằng sau chúng.

Lựa chọn hàng đầu của Mỹ sau Chiến tranh Lạnh, cũng là điểm rõ ràng nhất, chính là sau khi cục diện toàn cầu đại thể đã định hình, họ chọn loại trừ Nga ra khỏi hệ thống an ninh chính thống. Trong mắt Mỹ, Nga là kẻ thua cuộc trong Chiến tranh Lạnh. Nhưng Nga không chấp nhận định vị này.

Nếu hỏi người dân Nga bình thường, họ sẽ cho rằng: Chiến tranh Lạnh kết thúc là kết quả của việc cả hai bên cùng buông bỏ đối đầu và hướng tới hòa giải; Nga đã chủ động từ bỏ đối đầu để ôm lấy hợp tác. Người Nga ban đầu kỳ vọng sẽ được hòa nhập một cách tự nhiên vào hệ thống quản trị toàn cầu mới, đặc biệt là hệ thống an ninh toàn cầu. Xét cho cùng, tầm vóc của Nga vẫn ở đó: họ sở hữu kho vũ khí hạt nhân lớn nhất thế giới, lãnh thổ trải dài qua hai châu lục với mười một múi giờ, tự thân đã là một mắt xích không thể bỏ qua trong kiến trúc an ninh toàn cầu.

Nhưng lựa chọn của Mỹ lại là gạt Nga ra ngoài. Không chỉ vậy, NATO còn tiến hành nhiều vòng mở rộng về phía Đông, áp sát triển khai quân sự tới biên giới Nga. Chuỗi hành động này trong mắt Nga là nhằm trực diện vào họ, mục đích là để tiếp tục làm suy yếu, ép chắt và phong tỏa Nga. Chính những quyết định này đã gieo mầm cho những bất ổn khu vực và nhiều mâu thuẫn quốc tế sau này.

Bên cạnh đó, Mỹ còn một lựa chọn then chốt mang tầm ảnh hưởng sâu rộng. Thành thật mà nói, cảm nhận tiêu cực ngắn hạn của lựa chọn này không nổi bật, nhưng nó cũng mang nặng tính chủ quan duy ý chí. Mỹ đã từng chủ động tiếp nhận, kết nối với Trung Quốc, thúc đẩy Trung Quốc hội nhập vào hệ thống kinh tế toàn cầu. Mỹ ủng hộ Trung Quốc gia nhập WTO vì họ duy trì một giả định thiếu căn cứ: chỉ cần Trung Quốc thâm nhập sâu vào trật tự kinh tế quốc tế hiện có, họ sẽ diễn tiến theo quỹ đạo của phương Tây, dần dần trở thành một quốc gia có nền dân chủ và thị trường kiểu phương Tây. Nói cách khác, trong hình dung của Mỹ, Trung Quốc sẽ chỉ đi theo mô hình của Mỹ chứ không bao giờ vượt qua được.

Nhưng kết quả cuối cùng của động thái này đã thúc đẩy một phép màu phát triển ngoạn mục nhất trên phạm vi toàn cầu: Trung Quốc đã thực hiện bước nhảy vọt để trỗi dậy, gần như trong chớp mắt trở thành cường quốc kinh tế và công nghệ toàn cầu, sở hữu năng lực cạnh tranh cốt lõi trong nhiều lĩnh vực. Tôi nói "trong chớp mắt" là vì xét trong dòng chảy lịch sử, 30 năm chỉ là một cái búng tay. Và tất cả những điều này không thể tách rời khỏi sự tích lũy lịch sử và kinh nghiệm của chính Trung Quốc.

Nhưng chỉ trong 30 năm, cục diện thế giới đã thay đổi. Trong các lĩnh vực cốt lõi như kinh tế và công nghệ, Mỹ không còn là thế độc tôn nữa, mà đã hình thành cục diện ít nhất hai cường quốc song hành, và chúng ta không loại trừ khả năng trong tương lai sẽ còn xuất hiện thêm nhiều trung tâm quyền lực khác. Kết quả này hoàn toàn nằm ngoài dự tính của Mỹ và phá vỡ hoàn toàn sự sắp đặt của họ. Kết quả này, cùng với một loạt các biện pháp đơn phương mà Mỹ thúc đẩy trên toàn cầu, cuối cùng đã khiến cục diện đơn cực nhanh chóng tan rã.

Quyết định chiến lược thứ ba là thúc đẩy toàn cầu hóa một cách không tiết chế, đồng thời không thiết lập bất kỳ biện pháp bảo vệ hay cơ chế kiềm chế nào. Mỹ hoàn toàn phớt lờ những rủi ro tiềm ẩn mà toàn cầu hóa mang lại cho chính quốc gia mình và các đồng minh cốt lõi. "Chính quốc" ở đây bao gồm cả Mỹ và các đồng minh như EU.

Phía Mỹ chưa bao giờ nhận ra rằng, đằng sau sự vận hành hiệu quả của toàn cầu hóa đồng nghĩa với việc bố cục sản xuất toàn cầu sẽ dịch chuyển, và trung tâm tạo ra của cải cũng sẽ dịch chuyển theo. Cứ như vậy lâu dần, lực lượng lao động nội địa của Mỹ và các nước châu Âu sẽ phải đối mặt với khó khăn và thách thức cực lớn về việc làm. Trong thời kỳ kinh tế đi lên, không ai để ý đến những hiểm họa ngầm này. Nhưng kinh tế không bao giờ chỉ tăng mà không giảm, sẽ luôn có những lúc đi xuống.

Sau khi cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế năm 2008 bùng nổ, sự tương phản trở nên đặc biệt nhức nhối: Một số ít giới siêu giàu dù tài sản trên sổ sách bốc hơi hàng tỷ USD nhưng vẫn giữ được sự giàu có và địa vị; trong khi đó, hàng chục triệu người dân bình thường ở Âu-Mỹ đột ngột mất việc làm, vỡ nợ mua nhà, rơi vào cảnh ly tán. Cuộc khủng hoảng này đã trực tiếp kích nổ những biến động chính trị tại các quốc gia công nghiệp phương Tây, tạo ra một loạt thế lực chính trị và nhân vật chính trường vốn không có cơ hội cầm quyền. Nó đã tái định hình căn bản hệ sinh thái chính trị nội bộ của các nước công nghiệp phương Tây.

Sự kiện Brexit là một hình ảnh thu nhỏ điển hình. Một ví dụ nổi bật khác là Donald Trump, mặc dù bị giới thiết chế chủ lưu và tầng lớp tinh hoa Mỹ phản đối kịch liệt, ông vẫn hai lần đắc cử Tổng thống Mỹ. Trong mắt giới chính trị truyền thống, dù ông đi ngược lại các đồng thuận chính trị cũ, nhưng ông đã khuấy động những thay đổi sâu sắc trên chính trường Mỹ.

2. Chào mừng đến với thế kỷ đa nguyên cộng sinh

Nhìn lại lịch sử, ba bước ngoặt lớn hầu như xảy ra tập trung vào cùng một khoảng thời gian: Nga bị loại trừ khỏi hệ thống quốc tế chính thống, Trung Quốc thực hiện phát triển hòa bình, và chính trị nội bộ các nước phương Tây ngày càng phức tạp hóa. Ba điểm này đủ để giải thích 90% nguyên nhân sụp đổ của cục diện đơn cực. Có thể thấy, đa cực hóa từ lâu đã không còn là một khái niệm học thuật trên giấy tờ, mà là một thực tế khách quan đang diễn ra và sẽ tiếp tục kéo dài.

Điều này có nghĩa là, sự phát triển và tiến bộ của toàn cầu không còn chỉ có một bộ đáp án tiêu chuẩn. Người dân các nước đều mong đợi bản thân, gia đình và quốc gia mình phát triển tốt đẹp hơn, và đa cực hóa chính là cung cấp những con đường phát triển đa nguyên khả thi, thay vì cưỡng cầu một mô hình duy nhất. Đây không phải là sự kết thúc của lịch sử, không phải là thắng lợi tuyệt đối của một chế độ nào đó, càng không phải là sự đồng nhất mô hình toàn cầu như Fukuyama đã nói. Thực tế hoàn toàn ngược lại: các mô hình quản trị phù hợp với quốc tình mỗi nước là khác nhau, hệ thống kinh tế có những ưu thế riêng, nền tảng văn hóa, quan niệm giá trị, thái độ đối với cuộc sống, công việc cũng như thế hệ mai sau có thể trăm hoa đua nở.

Theo quan điểm của tôi, thế kỷ 21 sẽ không phải là thế kỷ do phương Tây đơn độc dẫn dắt, cũng không do phương Đông hay các quốc gia "Phương Nam toàn cầu" đơn độc thống trị, mà là một thế kỷ đa nguyên cộng sinh. Ưu thế của sự đa nguyên cộng sinh này sẽ được thể hiện trong mọi phương diện như hệ thống quản trị, nền tảng kinh tế và gốc rễ văn minh. Có lẽ sẽ có người hỏi: Liệu cấu trúc đa cực có vốn dĩ không ổn định? Nhìn từ góc độ vật lý, "bài toán đa thể" thực sự khó suy diễn quy luật, ví dụ hệ thống "Tam Thể" cực kỳ không ổn định, bài toán đa thể chắc chắn còn bất ổn hơn.

Nhưng đặt vào trong quan hệ quốc tế, quyền lực kiềm chế lẫn nhau thường sẽ hình thành một trạng thái ổn định động, từ đó nuôi dưỡng bầu không khí quốc tế hòa bình. Suy cho cùng, trong xã hội quốc tế, việc một bên độc tôn chưa bao giờ là trạng thái bình thường của lịch sử. Cục diện đơn cực tự thân nó là một ngoại lệ lịch sử. Giờ đây thế giới quay trở lại sự đa nguyên cùng tồn tại, chẳng qua chỉ là quay lại diện mạo vốn có của quan hệ quốc tế.

Tôi không phải là học giả chuyên sâu về tư tưởng Trung Quốc, nhưng tôi từng làm việc ngắn hạn tại đây và cũng lâu dài thỉnh giáo các học giả Trung Quốc. Trong đó, triết lý "Hòa nhi bất đồng" (Hòa hợp nhưng khác biệt) khiến tôi cảm nhận sâu sắc: Thế giới không cần phải rập khuôn một kiểu, không cần phải áp dụng cùng một trật tự hay mù quáng đi theo cùng một con đường. Tôn trọng sự khác biệt, bao dung sự đa dạng mới có thể cùng hướng về nhau, cùng sinh tồn và cùng thắng.

Kinh nghiệm lịch sử cho thấy, sự kiềm chế quyền lực thường dẫn đến một trạng thái cân bằng động; và sự cân bằng này cuối cùng sẽ mang lại hòa bình, hoặc nói cách khác là tạo ra một bầu không khí hòa bình. Thực tế, đây lại là một điều tốt. Bởi lẽ, cục diện do một bên hoàn toàn thống trị là cực kỳ hiếm thấy. Cục diện hiện nay thực chất là sự trở lại trạng thái bình thường của đa nguyên cộng sinh.

Tôi tin rằng khi người ta thảo luận về "tính đa nguyên" ở Trung Quốc, mọi người sẽ không cảm thấy bất an hay lo lắng. Tuy nhiên, nếu nhắc đến "tính đa nguyên" này ở phương Tây, tất cả mọi người sẽ trở nên cảnh giác, thậm chí là căng thẳng. Tôi cho rằng cảnh giới hài hòa "Hòa nhi bất đồng" chính là nguồn mạch có thể mang lại sự phồn vinh cho thế giới.

3. Ba con đường ứng phó với sự thách thức của trật tự quốc tế hiện tại

Tuy nhiên, thách thức thực sự nằm ở chỗ: Dù ở cấp độ quốc gia hay cấp độ toàn cầu, các loại hình tổ chức hiện có của chúng ta đều chưa chuẩn bị sẵn sàng, cũng như không có năng lực thích ứng với "thực tế đa nguyên" này. Các tổ chức quản trị toàn cầu này về bản chất được xây dựng dựa trên một bộ logic khác, những gì chúng phản ánh cũng là một kiểu cân bằng quyền lực hoàn toàn khác.

Tôi đã từng vinh dự đảm nhiệm chức Chủ tịch Đại hội đồng Liên Hợp Quốc. Cách đây đúng 10 năm, với tư cách là ứng cử viên trẻ tuổi nhất lịch sử, tôi đã tranh cử chức Tổng thư ký Liên Hợp Quốc, trải qua 6 vòng bỏ phiếu và cuối cùng về nhì với khoảng cách sít sao. Đối thủ của tôi khi đó là một ứng cử viên cao tuổi nhất. Trong kỳ tranh cử, tôi đã cam kết thúc đẩy cải cách toàn diện Liên Hợp Quốc, nhưng cho đến nay, Liên Hợp Quốc vẫn chưa đón nhận những biến đổi thực chất.

Quay lại năm 2016, khi đó dù giữa các nước có đôi chút bất đồng trong hợp tác, nhưng các tổ chức đa phương về tổng thể đang ở trong "thời đại hoàng kim" của hợp tác toàn cầu và hiểu biết lẫn nhau, đà phát triển rất mạnh mẽ. Đó cũng là khoảng thời gian tốt đẹp khi các nước vừa đạt được đồng thuận về các mục tiêu phát triển bền vững, quản trị khí hậu cũng được các chuyên gia thúc đẩy vững chắc. Nhưng ngay cả trong giai đoạn bầu không khí hài hòa, hợp tác thuận lợi như vậy, các tổ chức quốc tế như Liên Hợp Quốc cũng chưa bao giờ thực hiện được những bước cải cách thực chất.

Tôi luôn duy trì một quan điểm: "Sửa mái nhà khi trời đang nắng". Nhìn từ thực tế địa chính trị, đến tình cảnh như ngày hôm nay khi sự tin tưởng giữa các cường quốc thiếu hụt nghiêm trọng, mâu thuẫn chồng chất, việc muốn thúc đẩy cải cách sâu rộng Liên Hợp Quốc khó khăn thế nào có thể hình dung được. Trong các vấn đề "xương tẩu" như tái cấu trúc chức năng tổ chức quốc tế, các nước rất khó ngồi lại với nhau để hình thành đồng thuận. Có thể nói, đoàn tàu cải cách đã vút qua từ lâu.

Tất nhiên, điều này không có nghĩa là chúng ta từ bỏ các tổ chức quốc tế hiện có. Nhìn vào hiện tại và tương lai, nhân loại chưa có một bộ cơ chế thay thế sẵn có và đáng tin cậy nào. Liên Hợp Quốc vẫn là nền tảng đa phương cốt lõi quan trọng nhất.

Nhưng Liên Hợp Quốc ngày nay hiệu quả thấp, thậm chí rơi vào tê liệt, Hội đồng Bảo an gần như không thể đạt được sự nhất trí về bất kỳ vấn đề gì. Một loạt các tổ chức quốc tế kỳ cựu ra đời dưới hệ thống Bretton Woods cũng phổ biến tình trạng tích tụ tệ đoan từ lâu, thể chế già cỗi. Khi cục diện thực tế lệch pha với các quy tắc quốc tế cứng nhắc, khi quy tắc hiện có không còn phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu, chúng ta nên ứng phó ra sao?

Theo tôi, có ba con đường:

(1) Thúc đẩy cải cách, để các tổ chức quốc tế phản ánh thực tế tốt hơn, phục vụ quản trị toàn cầu.

(2) Nếu cải cách bị cản trở, chúng ta cần thành lập các tổ chức quốc tế mới, hoặc làm sâu sắc thêm sự hợp tác của các tổ chức khu vực hiện có, thay vì đơn thuần dựa vào các tổ chức mang tính toàn cầu. Ví dụ như các nước Đông Nam Á dựa vào ASEAN, các nước châu Phi dựa vào Liên minh châu Phi (AU), cơ chế các nước BRICS cũng là một đại diện điển hình, dù không bao gồm tất cả các nước trên thế giới nhưng nó bao quát đại bộ phận các nền kinh tế và lực lượng chính trị quan trọng nhất thế giới.

(3) Nếu các tổ chức quốc tế hiện có không thể đáp ứng nhu cầu, các quốc gia có thể dựa trên quốc tình và lợi ích căn bản của nhân dân mình để thực hiện hành động tự chủ. Tuy nhiên, các hành động đơn phương thường khiến quốc gia đó phải trả cái giá rất lớn về uy tín quốc tế.

Trong vài năm tới, cùng với sự sâu sắc của cục diện đa cực toàn cầu, ba con đường này sẽ tồn tại song song.

4. Cuộc chiến Mỹ-Israel-Iran, chúng ta sẽ nhận được gì?

Tôi không phải là ngôi sao chính trường, cũng không phải đại học giả, chỉ là một người thực hành các sự vụ quốc tế. Với tư cách đó, tôi muốn thảo luận về chủ đề không thể né tránh trong các vấn đề quốc tế hiện nay, cuộc chiến do Mỹ và Israel khơi mào, vốn đã gây ra thương vong thảm khốc và ảnh hưởng sâu xa. Ở đây, tôi muốn gạt sang bên các khung lý thuyết để nói về cuộc khủng hoảng thực tế này.

Gần đây, khi tôi giao lưu với nhiều học giả và nhân sĩ các giới tại Trung Quốc, có người khuyên tôi nên ôn lại câu danh ngôn mở đầu trong Binh pháp Tôn Tử: "Binh giả, quốc chi đại sự, tử sinh chi địa, tồn vong chi đạo, bất khả bất sát dã" (Việc binh là việc lớn của quốc gia, là chỗ sống chết, là đạo mất còn, không thể không xét kỹ). Và cuộc chiến Mỹ-Israel-Iran đã trở thành một ví dụ điển hình cho bài học đau đớn do "bất sát" (không xét kỹ) gây ra.

Xung đột Trung Đông kéo dài đến nay, tình hình liên tục leo thang, thậm chí ngay khi vòng đàm phán mới vừa được đưa vào chương trình nghị sự thì đã xảy ra các cuộc tập kích nhắm vào cấp cao của nước khác. Cuộc tập kích này không hề thông báo trước cho bất kỳ đồng minh nào, càng không thông báo cho cộng đồng quốc tế.

Nhìn lại năm xưa trước khi Mỹ phát động chiến tranh Iraq, phía Mỹ ít nhất còn nói dối rằng Iraq sở hữu vũ khí hủy diệt hàng loạt và lấy đó làm cái cớ. Lúc đó dù Mỹ thiếu lý do xác đáng để dùng binh, họ vẫn cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế tại Hội đồng Bảo an. Chỉ là sau khi không được ủy quyền, Mỹ vẫn nhất quyết khai chiến và cuối cùng hứng chịu thất bại chiến lược thảm hại. Tất nhiên, đây không phải thất bại chiến lược duy nhất của Mỹ trong thời kỳ cận đại, chiến tranh Afghanistan và chiến tranh Việt Nam cũng tương tự. Và cuộc xung đột hiện tại này e rằng cũng khó có một kết cục tốt đẹp.

Diễn biến chiến tranh đầy rẫy biến số, khó dự đoán chính xác, nhưng một khi Mỹ lặp lại vết xe đổ của Iraq và Việt Nam, chịu thất bại chiến lược, ảnh hưởng của nó sẽ vượt xa trước đây. Điều này có thể hình thành cục diện lần đầu tiên Mỹ vừa không thể khuất phục đối thủ, vừa đánh mất chức năng cốt lõi của mình trong hệ thống quốc tế, vì Mỹ không thể đảm bảo an ninh cho các tuyến hàng hải và chuỗi cung ứng quan trọng toàn cầu.

Nền tảng của toàn cầu hóa đương đại là sự thông suốt của chuỗi cung ứng toàn cầu, mà sự vận hành của kinh tế toàn cầu đến nay vẫn dựa vào vận tải năng lượng xuyên biên giới. Ảnh hưởng trực tiếp nhất của cuộc xung đột này chính là giá năng lượng quốc tế tăng vọt. Nhưng tôi lo ngại hơn là chúng ta hoàn toàn không thể lường hết được những tác động thứ cấp. Cú sốc lần này rất giống thời kỳ đầu đại dịch, rất ít người có thể dự đoán được những tác động toàn diện sau đó.

Cuộc xung đột này chắc chắn mang lại ảnh hưởng sâu xa. Mặc dù có những hậu quả chúng ta không mong muốn, nhưng đồng thời cuộc xung đột này cũng thực sự tạo ra một số hiệu ứng tích cực. Theo tôi, sau này khả năng các nước liều lĩnh thực hiện hành động đơn phương sẽ giảm đi đáng kể, đây chắc chắn là một điều tốt. Còn đối với một quốc gia như Nga, họ rõ ràng vui mừng trước cục diện này vì giá dầu quốc tế đang ở mức cao mà Nga lại là một trong những nhà cung cấp dầu mỏ chính của thế giới. Đối với Trung Quốc, giữ vững trung lập, không chọn bên, tự thân nó đã là một lựa chọn có lợi cho mình. Giống như câu nói nổi tiếng của Napoléon: "Khi kẻ thù của bạn đang phạm sai lầm, đừng bao giờ ngắt lời họ". Tôi không coi Mỹ là kẻ thù, nhưng câu châm ngôn này lại rất phù hợp với tình hình hiện nay.

Nhưng đồng thời, điều này cũng mang lại cú sốc về mặt kinh tế. Giá năng lượng ở mức cao còn có thể kích nổ khủng hoảng kinh tế ở nhiều nơi trên thế giới, và châu Âu sẽ là nơi hứng chịu đầu tiên. Nó sẽ mang lại tác động tiêu cực cực lớn cho kinh tế, từ đó nảy sinh biến động chính trị và lo âu xã hội ở các nước, tiến trình phát triển toàn cầu cũng sẽ vì thế mà chậm lại. Khi cục diện thế giới ngày càng bất ổn, rủi ro xung đột khu vực thậm chí là chiến tranh quy mô lớn cũng sẽ tăng lên.

5. Ba kịch bản của đa cực hóa

Cuối cùng tôi muốn nói, đa cực hóa là xu thế thời đại không thể đảo ngược, tương lai sẽ còn tiếp tục đi vào chiều sâu. Tương lai chúng ta sẽ ở trong kiểu cục diện đa cực nào không chỉ phụ thuộc vào lựa chọn của các cường quốc hiện nay, mà còn liên quan đến lựa chọn chung của toàn nhân loại. Điều này cuối cùng có thể diễn tiến thành ba kịch bản hoàn toàn khác nhau:

(1) "Đối đầu cạnh tranh": Điều này có nghĩa là sự đứt gãy giữa các nước, cạnh tranh công nghệ, cũng như sự leo thang hơn nữa của đối đầu địa chính trị. Tình hình hiện tại của chúng ta đang phát triển theo hướng này.

(2) "Cân bằng chiến lược": Khi đó, các cường quốc chấp nhận thực tế cùng tồn tại, đồng ý thông qua đàm phán để điều phối ảnh hưởng quốc tế của nhau, và chuyển sang hợp tác thực chất trên cơ sở cùng tồn tại.

(3) "Cục diện đa cực hợp tác": Đây là tầm nhìn mà cá nhân tôi kỳ vọng. Trong cục diện này, các nước không chỉ chấp nhận thực tế cùng tồn tại mà còn có thể tôn trọng lẫn nhau, tìm kiếm điểm chung trong khi vẫn giữ sự khác biệt.

Chúng ta sẽ thấy các mô hình quản trị và hệ thống kinh tế khác nhau cùng tồn tại, và với tinh thần trách nhiệm chung, cùng trực diện đối mặt với các loại thách thức phát triển toàn cầu. Trách nhiệm chia sẻ này thể hiện ở việc tái cấu trúc các tổ chức quốc tế, để các quốc gia trên thế giới một lần nữa tham gia vào hợp tác toàn cầu. Tất cả điều này chứng minh rằng: Quyền lực và trách nhiệm luôn gắn liền với nhau.

Chính vì vậy, khi đọc "Sáng kiến Quản trị Toàn cầu" của Trung Quốc, tôi cảm thấy vui mừng thực sự. Thành thật mà nói, với tư cách là một người nước ngoài, tôi chưa chắc đã hiểu thấu đáo toàn bộ nội hàm của văn kiện mang tính cương lĩnh này, nhưng tôi đã nghiên cứu sáng kiến này rất kỹ lưỡng. Theo tôi, "Sáng kiến Quản trị Toàn cầu" liên quan mật thiết đến nhu cầu phát triển của các nước, và có giá trị cực lớn trong việc ứng phó thỏa đáng các thách thức toàn cầu. Tôi hy vọng chúng ta có thể ôm lấy "tầm nhìn thứ ba", tức là cục diện đa cực hợp tác.

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn vì đã có cơ hội giao lưu quý báu này. Cảm ơn tất cả quý vị.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét