Thứ Tư, 1 tháng 4, 2026

Ông là Norman Borlaug

Ông là Norman Borlaug
Tôi vừa đăng bài khẳng định vai trò then chốt và quyết định của khoa học kỹ thuật (nay thay bằng khoa học và công nghệ) đối với sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội và bảo vệ tổ quốc, trong đó có đoạn “nạn đói cũng được giải quyết nhờ khoa học kỹ thuật”.
Dưới đây là một bài viết về một nhà khoa học nông nghiệp. Ông đã cứu sống một tỷ người trên trái đất. Nhưng hôm nay nếu hỏi mười người trên phố ở Mỹ (quê hương ông) và ở những nơi ông đã từng đến làm việc và đã cứu sống những người dân ở đó, thì có lẽ chỉ một người biết tên ông.

Còn ở Việt Nam, nơi nghiên cứu khoa học được coi là nghề phụ, nhà khoa học được xem là vật trang sức của quốc gia, có họ thì đất nước thêm long lanh trong mắt người nước ngoài, không có họ thì đất nước cũng không sao,… thì hỏi triệu người chắc chỉ có một hai người biết tên ông. 

Ông là Norman Borlaug. 

Vinh Quang của con người là những gì con người để lại cho nhân loại khi rời bỏ thế giới này, rời khỏi trái đất này, chứ không phải tiền bạc hay danh hiệu, chức vụ.

Hôm qua tôi đã viết và hôm nay tôi lại viết: “Chỉ khi nào các nhà lãnh đạo chủ chốt của đất nước hiểu được Vinh Quang như trên thì đất nước mới có tương lai”. Lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc ta đã chứng minh chân lý đó.
————

Những năm 1960. Ấn Độ và Pakistan. Nạn đói không còn là dự đoán nữa nó đang thực sự xảy ra.

Dân số tăng nhanh hơn sản lượng lương thực trong nhiều năm. Các chuyên gia không còn phỏng đoán. Họ đã tính toán. Hàng trăm triệu người có thể chết. Phép tính rất đơn giản và đáng sợ.

Rồi một nhà khoa học trầm lặng từ bang Iowa (Mỹ) bước xuống máy bay với những bao hạt giống và một ý tưởng mà ai cũng nói là không thể thành công.

Tên ông là Norman Borlaug.

Ông sinh năm 1914 tại một nông trại nhỏ ở Cresco, Iowa. Ông hiểu thế nào là đói gia đình ông từng sống sót qua thời kỳ Dust Bowl (thảm họa hạn hán và bão bụi ở Mỹ) nhờ ý chí và may mắn. Sau khi lấy bằng tiến sĩ về bệnh học thực vật, năm 1944 ông nhận một nhiệm vụ mà nhiều nhà khoa học xem là tự hủy sự nghiệp: đến Mexico và tìm cách cải thiện lúa mì.

Vấn đề tưởng chừng không thể giải quyết:
• Đất không phù hợp
• Khí hậu thất thường
• Phương pháp lai tạo truyền thống quá chậm

Nhưng Borlaug không quan tâm điều gì bị cho là không thể.

Trong nhiều năm, ông làm việc trên những cánh đồng Mexico dưới cái nắng khắc nghiệt. Ông phát triển kỹ thuật gọi là “lai tạo luân phiên” (shuttle breeding) trồng hai vụ lúa mì mỗi năm ở hai vùng khí hậu khác nhau để tăng tốc quá trình lai tạo. Các nhà khoa học khác cười nhạo ông. Họ nói không thể thúc ép tiến hóa.

Họ đã sai.

Borlaug tạo ra các giống lúa mì:
• Kháng bệnh
• Năng suất rất cao
• Có thể trồng ở nhiều khí hậu

Quan trọng nhất, ông tạo ra lúa mì lùn, cây thấp, thân cứng, có thể mang nhiều hạt mà không bị đổ.
Đến cuối thập niên 1950, sản lượng lúa mì Mexico tăng gấp ba. Một đất nước từng phải nhập khẩu một nửa lương thực nay đã có thể xuất khẩu.

Nhưng Borlaug chưa dừng lại.

Năm 1963, thảm họa treo lơ lửng trên Nam Á. Ấn Độ và Pakistan đối mặt với thiếu lương thực nghiêm trọng đến mức nguy cơ chiến tranh vì thức ăn trở nên có thật.
Borlaug mang hạt giống của mình đến đó.

Khó khăn rất lớn:
• Bộ máy quan liêu chống đối
• Quan chức nghi ngờ
• Truyền thống canh tác phản đối
• Quy định nhập khẩu ngăn cản
• Người chỉ trích gọi ông là ngây thơ, thậm chí nguy hiểm

Nhưng cơn đói không biết thương lượng.

Ấn Độ và Pakistan, vừa tuyệt vọng vừa hoài nghi, đã đồng ý thử giống lúa mì của ông.
Năm 1965, Borlaug đưa vào 250 tấn hạt giống bằng 35 xe tải và phân phát cho nông dân những người có mọi lý do để không tin ông.

Điều xảy ra sau đó đã thay đổi lịch sử nhân loại.

Pakistan:
• 1965: 4,6 triệu tấn lúa mì
• 1970: 7,3 triệu tấn
→ Gần như tăng gấp đôi chỉ trong 5 năm
→ Đến 1968 nước này đã tự túc lương thực

Ấn Độ:
• 1965: 12,3 triệu tấn
• 1970: 20,1 triệu tấn
→ Đến 1974 đất nước tự túc ngũ cốc
→ Đến năm 2000: hơn 76 triệu tấn lúa mì mỗi năm

Sự thay đổi này được gọi là “Cuộc Cách mạng Xanh.”

Nó đã cứu khoảng một tỷ người khỏi chết đói.

Năm 1997, tạp chí The Atlantic Monthly viết:
“Norman Borlaug đã cứu nhiều mạng sống hơn bất kỳ ai từng sống.”

Hãy đọc lại điều đó.
Một tỷ người.

Năm 1970, ông nhận Giải Nobel Hòa bình. Trong bài phát biểu, ông nói một câu đáng được khắc vào đá:

“Chúng ta không thể xây dựng hòa bình thế giới trên những chiếc bụng đói.”

Sau đó ông còn nhận:
• Huân chương Tự do của Tổng thống Mỹ
• Huy chương Vàng Quốc hội Mỹ

Ông trở thành một trong chỉ 7 người Mỹ nhận đủ ba vinh dự dân sự cao nhất.
Thế nhưng, nếu bạn đi trên một con phố ở Mỹ và hỏi Norman Borlaug là ai đa số sẽ không biết.

Ông dành những thập kỷ cuối đời để mang Cách mạng Xanh đến châu Phi, đào tạo hàng nghìn nông dân, chống lại sự trì trệ cho đến khi sức khỏe không cho phép nữa.
Ông làm việc đến 95 tuổi.

Norman Borlaug qua đời năm 2009. Không tiêu đề lớn. Không quốc tang. Lặng lẽ như cách ông đã sống.

Nhưng các giống lúa mì của ông vẫn đang nuôi sống hàng tỷ người. Ngay bây giờ. Ngày hôm nay.
Hãy nghĩ về quy mô đó:
Một tỷ người được cứu.

Nhiều hơn tổng số bệnh nhân mà tất cả các bác sĩ trong lịch sử đã cứu. Nhiều hơn ảnh hưởng của các tướng lĩnh, chính trị gia hay người nổi tiếng cộng lại.

Một cậu bé nông dân từ Iowa, dành hàng chục năm trên đồng ruộng, tay lấm đất, lai tạo từng thế hệ cây trồng, chống lại sự hoài nghi, chứng minh rằng khoa học kiên nhẫn và thầm lặng có thể đánh bại một trong những kẻ thù lâu đời nhất của loài người: nạn đói.

Ông làm điều đó:
• Không tìm kiếm danh tiếng
• Không tích lũy tài sản
• Không đòi hỏi sự công nhận

Ông chỉ tiếp tục làm việc.
Vì ông hiểu điều mà nhiều người không hiểu:
Cơn đói không chờ sự cho phép.
Chính trị không còn quan trọng khi trẻ em đang chết đói.

Và một con người với kiến thức và quyết tâm có thể thay đổi tương lai của cả loài người.

Norman Borlaug đã chứng minh rằng nuôi sống con người là hành động hòa bình sâu sắc nhất.

Và rằng những anh hùng quan trọng nhất thường là những người mà lịch sử quên không viết tên.

Cho đến khi có ai đó kể lại câu chuyện của họ.

Theo Curiously Unusual Wonder
My Lan Phạm

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét