Chủ Nhật, 5 tháng 4, 2026

Người đáng yêu nhất và người đáng hổ thẹn nhất ?

Người đáng yêu nhất và người đáng hổ thẹn nhất ?
Mình đang đọc một vài quyển tiểu thuyết lịch sử viết về thời phong kiến ở Việt Nam. Vừa đọc vừa nghĩ nhiều văn học mạng và tiểu thuyết ngôn tình lấy bối cảnh phong kiến Việt Nam thường xây dựng hình tượng vua chúa hoàn mỹ, bỏ qua mặt trái của chế độ quân chủ. Rồi người dân cũng vui vẻ, thích thú tiếp nhận và tôn vinh hình ảnh vua chúa phong kiến một chiều. Rồi phong trào ca ngợi các vị vua nhà Nguyễn và Tả quân Lê Văn Duyệt. Rồi gần đây là ca ngợi, trao giải cho tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh... 
Sáng nay thì mình đăng bài "Giới trẻ Trung Quốc đang gửi gắm tình cảm mãnh liệt vào người xưa". Tất cả làm mình nghĩ đến vai trò của sử học và tiêu chuẩn đánh giá các nhân vật lịch sử. Dĩ nhiên, để đánh giá một nhân vật lịch sử, không thể dùng một chuẩn mực duy nhất như trong phần dưới đây; vì lịch sử cần được nhìn nhận đa chiều và trong bối cảnh cụ thể của thời đại, chứ không nên quy giản về một công thức kinh tế. Tuy nhiên, mình cứ viết ra, coi như một góc nhìn, để các bạn tham khảo.

1. Việt Nam là nước có lịch sử lâu đời, nhưng thực ra, chuyện gì cũng rối như canh hẹ. Đừng nói đến những thứ cao siêu, phức tạp, cứ nói riêng về con người thôi, ngay cả phân biệt tốt xấu cũng không làm được.

Tại sao? Vì không có tiêu chuẩn cụ thể, rõ ràng. Xưa cũng vậy mà nay cũng vậy

Bạn cho là người tốt, người khác lại nghĩ là kẻ xấu; và ngược lại. Chính vì vậy, hễ liên quan đến đánh giá con người, người Việt Nam liền cãi nhau om sòm, loạn cả lên.

Thế nào là người tốt? Thế nào là kẻ xấu?

Tôi là giáo viên dạy kinh tế. Tiêu chuẩn của tôi xuất phát từ góc độ kinh tế học.

Kinh tế học là ngành khoa học xã hội nghiên cứu (tất cả các) cách thức xã hội sử dụng các nguồn lực khan hiếm để sản xuất ra những hàng hoá và dịch vụ cần thiết cho xã hội và (tất cả các) cách thức phân phối chúng giữa các thành viên trong xã hội.

Khi sử dụng các nguồn lực khan hiếm sẵn có để sản xuất ra được nhiều hàng hoá và dịch vụ nhất, tốt nhất, thì được gọi là hiệu quả.

Các nguyên lý của kinh tế học là những cơ sở hay những viên gạch đầu tiên để xây dựng ra ngành kinh tế học, giống như 28 chữ cái ABC và cách ghép vần được dùng để xây dựng nên hệ thống chữ viết tiếng Việt hay 10 số từ 0 đến 9 và các phép tính cộng trừ nhân chia là cơ sở của ngành toán số học thập phân.

Nguyên lý thứ 3 của kinh tế học là "Con người duy lý suy nghĩ tại điểm cận biên" và "Nguyên tắc ra quyết định là Lợi ích cận biên > Chi phí cận biên". Điều này khẳng định một chân lý: Con người kinh tế luôn luôn tính toán lợi ích.

Vì vậy, một người, khi bỏ ra và nhận về bằng nhau; làm bao nhiêu việc, nhận bấy nhiêu tiền. Không chịu thiệt, cũng không chiếm lợi, đó chính là người bình thường;

Một người, khi bỏ ra lớn hơn nhận về, đó là "người tốt"; càng bỏ ra nhiều, càng nhận về ít, thì là người càng tốt; nếu như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: "Nâng niu tất cả chỉ quên mình" (trong bài thơ "Thăm trại nhi đồng miền Nam"), hay "Lo trước thiên hạ, vui sau thiên hạ" (trong sách Bác viết về đạo đức cách mạng), tức là chỉ có cống hiến, không có đòi hỏi, đặt lợi ích của cách mạng, của tập thể lên trên hết, sẵn sàng hy sinh hạnh phúc riêng vì độc lập tự do của dân tộc và hạnh phúc của nhân dân, thì đó chính là người cao thượng, là anh hùng, như những tấm gương sáng ngời của các liệt sĩ, chiến sĩ cách mạng Việt Nam.

Một người, khi bỏ ra nhỏ hơn nhận về, bỏ ra không nhiều nhưng nhận về rất lớn, thậm chí không lao động mà vẫn hưởng, ngồi mát ăn bát vàng, đó chính là "kẻ xấu".

Tiêu chuẩn này có tính phổ quát không? Tôi nghĩ rằng: có.

Ví dụ, tại sao nhân dân các dân tộc ở khắp nơi trên thế giới đều đồng thanh ca ngợi sự vĩ đại của người mẹ ?

Bởi vì, trong một gia đình, người mẹ luôn là người bỏ ra nhiều nhất và nhận về ít nhất. Họ thức dậy sớm nhất, đi ngủ muộn nhất; làm nhiều nhất, ăn ít nhất, ăn kém nhất, ăn muộn nhất... Đối với gia đình và con cái, người cha cũng có những cống hiến và vất vả, nhưng so với người mẹ, chắc chắn kém xa.

Chính vì vậy, thế gian mới không tiếc lời ca ngợi và dành nhiều trang viết để tôn vinh người mẹ, bởi vì tất cả các bà mẹ, đều là những người vì con cái mà cống hiến nhiều nhất, nhận về ít nhất dưới bầu trời này.

Nói cách khác, việc con người ca ngợi sự vĩ đại của người mẹ, chính là xuất phát từ góc nhìn kinh tế, chứ không phải nhìn về tình cảm gia đình. Hơn nữa, sự bao la của tình mẫu tử chính là ở chỗ: sự cống hiến của mẹ dành cho con cái hoàn toàn không tính toán chi phí, tức là miễn phí.

2. Nếu bạn đồng ý với tiêu chuẩn trên, vậy thì người mẹ chính là vĩ đại nhất;

Dùng tiêu chuẩn này để xem ai là kẻ tồi tệ nhất? Lấy ví dụ thời phong kiến; đó chính là Hoàng đế.

Tại sao? Bởi vì, hoàng đế cũng chỉ là một người bình thường, cống hiến của ông ta so với những người khác, so với tất cả mọi người, chẳng có nhiều khác biệt. Nhưng những thứ ông ta nhận về gần như vô hạn. "Khắp trên trời dưới đất, không đâu không là đất của vua"; toàn bộ tài vật trong thiên hạ, bao gồm cả sinh mệnh của dân đen, đều thuộc về ông ta.

Dĩ nhiên, cũng có một số vị vua không trực tiếp cày ruộng và có những đóng góp, nhưng những đóng góp của họ chủ yếu là tạo ra môi trường hòa bình và ổn định để người dân yên ổn sản xuất. Ngoài ra còn có một số vị vua có công lao trong bảo vệ tổ quốc. Tuy nhiên số vị vua này không nhiều.

Chính vì vậy, vua Tự Đức (vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883, thời Pháp bắt đầu xâm lược nước ta) mới có thể sống trong cảnh xa hoa và đưa ra những tuyên bố ngạo nghễ: 'Trẫm có giang sơn gấm vóc, có trăm họ dâng nộp thuế khóa, vốn chẳng cần phải lo nghĩ đến chuyện mở mang buôn bán với phương Tây.'

Vua Tự Đức "có tất cả", từ ngà voi, lụa là, đến cung điện nguy nga, từ quyền lực tuyệt đối đến sự tôn vinh của sử sách, đây chính là những thứ ông ta nhận về, gần như vô hạn.

Vậy sự cống hiến của ông ta thì sao? Sự cống hiến của ông ta còn không bằng một giọt mồ hôi nhỏ xuống dưới luống cày của một lão nông bình thường thời Nguyễn, những người đã phải gánh chịu sưu cao thuế nặng, 'một cổ hai tròng' (chế độ thực dân nửa phong kiến), để nuôi dưỡng sự xa hoa của triều đình, trong khi đất nước thời ông dần dần rơi vào tay thực dân Pháp."

Bỏ ra chẳng bao nhiêu, nhận về vô hạn, người như vậy chẳng phải là kẻ tồi tệ nhất, đáng hổ thẹn nhất hay sao?

Thế nhưng, xã hội Việt Nam, nhiều văn nghệ sĩ, nhà biên kịch phim cung đình, các tác giả tiểu thuyết ngôn tình lịch sử cho đến nhiều độc giả và khán giả bình thường, đều đang say sưa ca tụng công đức của những ông vua, vị chúa mà xét đến cùng, họ cũng chỉ là những người 'nhận về vô hạn trong khi cống hiến chẳng bao nhiêu'!

Bạn nói xem, như vậy có  phải là ngu muội hay không?

3. Công lao của vua trong lịch sử Việt Nam: Giá trị hầu như nằm ở việc chỉ huy giữ nước

Nếu nhìn vào bức tranh kinh tế lịch sử Việt Nam thời phong kiến, sẽ thấy một thực tế khó chối cãi: nền kinh tế phát triển rất chậm, thậm chí trong hơn một nghìn năm phong kiến độc lập tự chủ (938-1945), đời sống kinh tế của người dân hầu như không có những thay đổi lớn. Sản xuất chủ yếu dựa vào nông nghiệp lúa nước tự cung tự cấp, thương nghiệp bị kìm hãm, ngoại thương bị bế quan tỏa cảng, tiểu và thủ công nghệ thô sơ, năng suất lao động thấp. Có thể nói các vị vua gần như không có đóng góp đáng kể nào trong việc phát triển kinh tế và cải thiện đời sống nhân dân.

Trong mô hình này, nhà vua và bộ máy quan lại không phải là lực lượng sáng tạo ra của cải, mà đóng vai trò là trung tâm phân phối và thu gom nguồn lực thông qua thuế khóa, lao dịch và độc quyền. 

Xét theo nguyên lý kinh tế, khi "chi phí xã hội" (sưu cao, thuế nặng, kìm hãm tư duy sản xuất, bóp nghẹt thương mại) lớn hơn "lợi ích mang lại" (cơ sở hạ tầng hạn chế, đời sống dân nghèo quẫn bách), thì đóng góp kinh tế ròng của đa số triều đại thực chất là âm.

Trong bối cảnh đó, nếu vẫn phải tìm một "đầu ra" có giá trị để biện minh cho sự tồn tại của chế độ quân chủ, thì đó chính là khả năng tổ chức kháng chiến chống ngoại xâm. Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một dân tộc nhỏ luôn phải đối mặt với các thế lực xâm lược lớn mạnh. Khi độc lập dân tộc bị đe dọa, sự sống còn của cộng đồng trở thành "lợi ích cận biên" tối thượng. Lúc này, nhà vua mới thực sự phát huy vai trò: tập trung nguồn lực khan hiếm, huy động sức người sức của, lãnh đạo toàn dân đứng lên giữ nước. 

Đây cũng là lý do vì sao trong tâm thức dân tộc, chỉ có mấy vị vua như Ngô Quyền, Lê Lợi, Quang Trung, hay các minh quân thời Lý – Trần thời kỳ đầu là đáng được khắc bảng ghi công và thờ cúng. Công lao của họ không nằm ở việc "ban phát ân huệ" hay "thánh hóa quyền lực", mà ở việc đã dùng bộ máy nhà nước như một công cụ huy động nguồn lực để đổi lấy sự sinh tồn của dân tộc trước kẻ thù nước ngoài.

Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi ông vua đều xứng đáng được ca tụng. Chỉ những vị vua trực tiếp gánh vác trọng trách giữ nước, dám đặt lợi ích quốc gia lên trên ngai vàng và quyền lợi dòng họ, mới có thể được ghi nhận theo chuẩn mực "cống hiến lớn hơn hưởng thụ". 

Còn lại, phần lớn các triều đại phong kiến, đặc biệt là trong giai đoạn tiến tới suy vong, chỉ là những bộ máy bóc lột tinh vi, nơi "bỏ ra chẳng bao nhiêu, nhận về vô hạn". Việc lãng mạn hóa hình ảnh vua chúa, biến họ thành những biểu tượng đạo đức hay văn hóa thuần túy, không chỉ sai lệch về mặt lịch sử, mà còn phủ nhận sự hy sinh thầm lặng của hàng triệu người dân thường, những người mới thực sự là nền tảng kinh tế và xương sống của mọi cuộc kháng chiến.

Bỏ ra chẳng bao nhiêu, nhận về vô hạn, những vị vua chúa như vậy chẳng phải là kẻ tồi tệ nhất, đáng hổ thẹn nhất hay sao?

Thế nhưng, xã hội Việt Nam, nhiều văn nghệ sĩ, nhà biên kịch phim cung đình, các tác giả tiểu thuyết ngôn tình lịch sử cho đến nhiều độc giả và khán giả bình thường, đều thích say sưa ca tụng công đức của những ông vua, vị chúa mà xét đến cùng, họ cũng chỉ là những người 'nhận về vô hạn trong khi cống hiến chẳng bao nhiêu'!

Bạn nói xem, như vậy có phải là ngu muội hay không?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét