ĐƯỜNG ĐẾN 30 THÁNG 4 (1)
Đọc để nhớ lại những năm tháng đói khổ mà vui trong chiến tranh. Theo cha ông và anh em đi chiến đấu kể lại, binh lính có những lúc đói nhưng đa số là no. Dọc đường Trường Sơn các kho lương thực thực phẩm rất nhiều, lính qua lại cứ tự động lấy để dùng.Thời đó sống được hôm nào biết hôm đó nên chẳng ai lấy thừa làm gì. Anh Biểu trong bài dưới cũng chỉ "lấy vừa đủ để chống đói" chứ không lấy thừa như cách sống của xã hội bây giờ.
Bài này viết về tình đồng đội giữa lúc khó khăn rất cảm động. Chi tiết Biểu dù đói vẫn dành mì luộc cho bạn, rồi sau này tặng cả chiếc cuốc Mỹ quý giá cho bạn, để thấy tình đồng đội thời chiến không chỉ là chia sẻ miếng ăn, mà là sẵn sàng trao nhau thứ quý nhất mình có. Cái 'cho' ấy không tính toán, không hẹn ngày gặp lại, và chính điều giản dị ấy lại trở thành điểm tựa tinh thần giúp người lính chiến đấu và mới có ngày 30/4.
Điều đáng trân trọng nữa là cách các thủ trưởng đại đội ứng xử rất nhân văn. Họ biết lính đói mà 'ăn trộm' mì, nhưng không kỷ luật, chỉ nhắc nhở nhẹ nhàng khi tạm biệt nhau. Sự bao dung ấy không phải là xuê xoa, mà là thấu hiểu: giữa chiến trường, giữ được mạng sống và tinh thần cho lính quan trọng hơn giữ đúng quy tắc. Đó chính là 'nghệ thuật dùng người' bằng trái tim, mà thời hay hơi bị hiếm.
Chính vì vậy tôi thích cái kết của bài; một cái kết đầy ám ảnh thông quan so sánh, đối chiếu giữa quá khứ và hiện tại, khiến người đọc phải suy ngẫm: Những 'sinh viên ưu tú' năm xưa được quay về trường, nay 'quyền cao chức trọng', trong khi Biểu, người lính nghịch ngợm, chân thật, tốt bụng, đã hy sinh. Câu hỏi 'sao cái giống cây nhựa độc ấy lâu nay ít thấy?' như một lời nhắc nhẹ: đôi khi, những con người thật thà, sống hết mình vì đồng đội lại không đi đến đích của vinh quang trần thế. Nhưng chính họ mới là người viết nên lịch sử bằng máu và nước mắt.
Và đây chính là giá trị nhân văn của bài viết: Không tô hồng chiến tranh, cũng không bi lụy. Chỉ kể về đói, về nghịch, về mất mát, nhưng tất cả đều được kể bằng giọng điệu bình thản, hóm hỉnh. Chính cách kể ấy mới làm nổi bật sức mạnh tinh thần của người lính: dù trong hoàn cảnh nào, họ vẫn giữ được tình người, sự lạc quan và lòng trắc ẩn. Đó mới là di sản quý giá nhất mà thế hệ sau nên nhớ mãi, nhất là vào những ngày cuối tháng 4 này.
----------------------
Vừa bước vào 18 tuổi tây, mình đã đi bộ đội.
Khí thế hừng hực “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” thôi thúc…
Khí thế hừng hực “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” thôi thúc…
Nhưng mình vào bộ đội còn một lý do nữa: Để được ăn no. Ở nhà bữa ăn bữa nhịn, đói vàng mắt. Đi học Sư phạm ngày được 5 lạng gạo, vẫn đói. Vào bộ đội chắc là được ăn no vì tiêu chuẩn 7 lạng gạo một ngày. Vậy là mình đi!.
Đợt ấy nhà trường tổ chức tiễn đưa “8 sinh viên ưu tú lên đường đánh Mỹ” hoành tráng lắm.
Nhưng đến chỗ giao quân thì có 6 “sinh viên ưu tú” với lý do hắc lào, mắt kém, tổ đỉa, ếc- si- ma… bởi nhựa xương rồng, nên lại được quay về trường tiếp tục học tập.
Còn lại 2 thằng là Biểu (quê Ý Yên) và mình thì “ra đi đầu không ngoảnh lại”.
Thằng Biểu này nghịch lắm, hắn chả ngồi yên lúc nào. Hắn có cái đồng hồ Ni- cờ- le (vừa nghe vừa lắc) từ thời Pháp chạy tậm tà tậm tịt.
Thỉnh thoảng thấy hắn ta lại mở nắp gạt gạt xoáy xoáy mà vẫn tậm tịt. Một lần hắn điên tiết tháo tung ra. Khi lắp lại thấy thừa ra một cái bánh xe. Đồng hồ vẫn chạy, được gần một ngày thì chết ngóm.
Lúc ấy cân cả quần áo mới được 41 ki lô, nên mình và Biểu được biên chế về Tiểu đoàn 663- tiểu đoàn lính “thấp bé nhẹ cân” của E19. Tập trung vỗ cho lớn để ra chiến trường.
Ngày 3 bữa cơm độn bột mỳ Liên xô, sáng ra ngoài 1 cái bánh mỳ luộc to bằng cái chén uống nước còn được thêm một cốc sữa nhạt như nước gạo và 2 viên pô- li vi- ta- min.
Nhưng vẫn đói.
Những thằng lính choai đang tuổi ăn tuổi lớn nên lúc nào cũng thèm ăn.
Biểu ở trung đội 2, mình ở trung đội 3 nhưng hai thằng thường trùng phiên gác. Hắn gác đầu xóm, mình cuối xóm…
Một lần vào đêm khuya vừa buồn ngủ vừa đói thì Biểu ta đến chỗ mình gác chìa cho 2 cái mỳ luộc. Chao ơi, ngon ơi là ngon.
Và sau đó thì bận gác nào cũng vậy. Mình hỏi mì ở đâu hắn lắc đầu bí mật: “Thực hiện 3 không: Không biết, không nghe, không nói".
Một đêm đứng gác ở cuối xóm, đang băn khoăn không biết hôm nay thằng Biểu có gác không mà bây giờ không thấy có mỳ luộc, chợt nghe báo động toàn đơn vị: Đồng chí Hạ quản lý bị “ám sát”, may mà chưa việc gì vì tay này đề cao cảnh giác.
Ban Chỉ huy gọi 3 thằng gác là mình, Biểu và một thằng nữa lên làm kiểm điểm. Cả ba thằng đều 3 không: “Không nghe, không thấy, không biết”.
Ban Chỉ huy tra hỏi một hồi, áng chừng các thủ trưởng cũng buồn ngủ nên đành thả cho về.
Sáng hôm sau nghe Biểu kể mình mới biết được sự việc. Thì ra mấy lần có mì ăn đêm là do thằng này lấy trộm mì luộc ở nhà bếp đại đội. Hắn lấy bằng cách giương lê bốn cạnh của khẩu AK xỉa vào cái rổ mỳ luộc dành cho lính ăn sáng.
Cái rổ ấy để gần cửa sổ. Thằng cha Hạ quản lý nằm tít ở góc trong nhà kho, ngủ ngáy khò khò… hớ hênh thế.
Biểu ta chỉ lấy có 4 cái đủ cho 2 thằng, vì số bánh nặn ra bao giờ cũng dôi hơn số quân, mà 3 ngày mới có một phiên gác nên tay Hạ không biết là mất.
Đêm hôm ấy giời nóng quá, Hạ đưa rổ mỳ luộc vào góc trong, bê chõng ra gần cửa sổ rồi vạch bụng nằm cho mát.
Biểu dòm vào: nhà kho tối mò, ngay chỗ cửa sổ lại thấy trắng nhờ nhờ. Rổ mì luộc đây rồi. Vậy là hắn nín thở giương lê và… xiên…
Lạy giời! Hạ đang mơ màng thì thấy lê nhọn kề bụng vội nắm lấy rồi gào toáng lên.
Nhầm rồi! Là cái bụng thằng Hạ, đếch phải bánh mì luộc. Biểu hoảng quá giật súng, chạy biến về vị trí đứng gác.
Rồi không thấy các Thủ trưởng Đại đội nói gì nữa. Nhưng tay Hạ từ đấy trở đi cạch không dám nằm cạnh cửa sổ. Tưởng rằng Biểu chờn, nhưng chỉ tuần sau hắn ta lại có mỳ luộc đưa cho mình…
Hôm bọn mình chia tay các thủ trưởng để đi B, Đại đội trưởng bảo: “Tao lạ đếch gì mấy thằng đói quá rồi ăn trộm mì! May mà lê AK là lê 4 cạnh, đầu không nhọn lắm nên thằng Hạ không việc gì. Nó mà thủng bụng thì chúng mày đi tù”.
Thì ra các thủ trưởng biết hết nhưng thương lính đói nên không nỡ kỷ luật, thậm chí còn lờ chuyện cho bọn mình.
Vào chiến trường thì mỗi thằng một nơi. Biểu về Tiểu đoàn bộ binh còn mình vào đại đội cối 82.
Cuối năm 1973 có lần Đại đội mình phối thuộc với Tiểu đoàn của hắn đánh Gò Rùa thì gặp Biểu. Hắn mừng húm vồ lấy mình: “Tao để dành cho mày, mấy bận định đưa cho mà bây giờ mới gặp” và hắn đưa cho mình một cái cuốc Mỹ chiến lợi phẩm.
Ngày ấy có cái cuốc Mỹ còn quý hơn đồng hồ Selko Nhật, quý hơn vàng vì là cái công cụ đào hầm để giữ gáo. Cuốc Mỹ tốt lắm, đào hầm gặp đá chém phăng phăng. Quý bạn hơn thân mình thì mới tặng cái cuốc Mỹ. Mình ngần ngại không dám lấy: “Mày đưa tao thì lấy gì mà dùng?".
Biểu hề hề: “Tao sẽ kiếm cái khác!".
Mấy tháng sau thì biết tin Biểu hy sinh.
Nhờ cái cuốc Mỹ của Biểu cho mà hôm nay mình mới được ngồi viết chuyện này.
Còn 6 “sinh viên ưu tú” ngày ấy được trở về tiếp tục học tập thì bây giờ quyền cao chức trọng cả.
Có một tay ở Sở về kiểm tra nhà trường mình, béo tốt oai vệ và đạo mạo lắm.
Nghe hắn hùng hồn huấn thị về đạo đức nghề nghiệp tự dưng mình chợt nghĩ về cái cây xương rồng. Mà sao cái giống cây nhựa độc ấy lâu nay ít thấy?.
Hắn không nhận ra mình. Phải thôi. Hơn năm mươi năm rồi!..
Lại nhớ Biểu! Biểu ơi?..
Nguồn: FB
https://www.facebook.com/mthanhhai
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét