Vì sao quan chức miền Nam thường giỏi làm kinh tế ?
1. Trung Quốc: Vì sao quan chức miền Nam giỏi làm kinh tế hơn?Báo mạng Trung Quốc đang thảo luận một chủ đề khá hay: Vì sao quan chức miền Nam giỏi làm kinh tế hơn quan chức miền Bắc ? Đa số cho rằng quan chức miền Nam giỏi làm kinh tế hơn quan chức miền Bắc. Báo mạng cho biết khi quan chức miền Nam được điều động lên công tác ở một thành phố miền Bắc, tình hình kinh tế xã hội của thành phố đó sẽ tốt hơn khá rõ.
Ngược lại ở các tỉnh miền Nam, nhất là tại Hàng Châu, thậm chí cụ thể hơn, là Dư Hàng, đặc biệt là trong khu vực đồng bằng sông Trường Giang, kinh tế thị trường rất phát triển dưới sự lãnh đạo của các quan chức gốc Nam. Một số người quan sát thấy, ở nơi đây, chính phủ dường như có mặt ở khắp mọi nơi, nhưng khi người dân có việc gì cần đến chính phủ, nó lại ở rất xa bạn.
Về mặt lịch sử, miền Bắc là trung tâm chính trị, với lưu vực sông Hoàng Hà là trung tâm của các thành phố thủ đô. Trung tâm chính trị này thúc đẩy chế độ quan liêu, tập trung vào đấu tranh quyền lực và nhắm vào con người chứ không phải nhiệm vụ. Do đó, người miền Bắc thường giỏi làm quan, nhưng lại không giỏi hoàn thành công việc. Tuy nhiên, khi người miền Bắc chuyển đến miền Nam, môi trường thay đổi, và họ thường thành công.
Quan chức miền Nam mang theo một nền văn hóa khác biệt, và bạn sẽ phát hiện ra rằng: nơi sinh của một người không quan trọng đến vậy, điều then chốt là người đó có từng làm việc ở miền Nam hay không, tức là kinh nghiệm công tác quan trọng hơn nơi sinh. Thực ra trong giới học thuật, những thảo luận này cũng luôn tồn tại, mọi người lật lại xem các nghiên cứu những năm gần đây, cũng có thể thấy những quan điểm tương tự đang dần nổi lên.
Sự chênh lệch giữa miền Bắc và miền Nam có liên quan đến lịch sử. Bởi vì trong một thời gian rất dài, miền Bắc luôn là nơi diễn ra chiến tranh, chiến loạn không ngừng, mỗi khi triều đại thay đổi, nơi đầu tiên bất ổn luôn luôn là miền Bắc. Miền Nam thực ra chiến loạn tương đối ít hơn, cho dù có, thì quy mô và tần suất cũng rất xa mới bằng miền Bắc.
Từ thời nhà Minh, hệ thống gia tộc địa phương bắt đầu được thiết lập, và chủ yếu là ở khu vực miền Nam, trong khi miền Bắc đại gia tộc không hình thành được. Một nguyên nhân rất quan trọng là miền Bắc thường xuyên có chiến tranh, hệ thống gia tộc vừa mới xây dựng lên đã bị chiến tranh phá hủy, căn bản không thể duy trì.
Vì vậy, miền Nam đã hình thành một truyền thống tập thể chủ nghĩa. Nhưng loại tập thể chủ nghĩa này lại khá lý tính hay duy lý, không phải kiểu tụ tập mù quáng. Đặc biệt sau năm 1860, toàn bộ khu vực ven biển Trung Quốc mở cửa, văn minh thương nghiệp phương Tây du nhập vào, hai yếu tố này kết hợp với nhau, khiến chủ nghĩa tập thể của miền Nam mang theo tính lý tính, chú trọng quy tắc, chú trọng khế ước, chú trọng hiệu quả.
Còn miền Bắc có lẽ thiên về loại hình cá nhân chủ nghĩa hơn, mang chút "hoang dã". Vì vậy, văn hóa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc có sự khác biệt rất lớn. Văn hóa miền Bắc là loại "văn hóa sói". Bởi vì trong lịch sử, các dân tộc du mục không ngừng xâm nhập, tính hoang dã, phóng khoáng ấy, ở mức độ lớn cũng đại diện cho một loại tinh thần của người Trung Quốc: hào sảng, trực tiếp, không phục thì làm.
Còn ở miền Nam, trong hơn một nghìn năm lịch sử vừa qua, hoạt động chính là xây dựng: trị thủy, khai khẩn ruộng bậc thang, hưng thịnh thương mại, thế hệ này qua thế hệ khác đều suy ngẫm làm thế nào để cuộc sống được bền vững, chảy mãi như nước. Điều này có truyền thống lịch sử rất dài, không phải bây giờ mới như vậy.
Một fbker viết: Về cá nhân tôi, có lẽ chỉ có một quê hương, chính là nông thôn Giang Tây. Tôi lớn lên ở nông thôn Giang Tây, chính mảnh đất ấy, con đường làng ấy, những cánh đồng lúa và ao hồ ấy, mới khiến tôi cảm thấy đó là cội rễ của mình.
Tôi sẽ không coi Tây An là quê hương của mình, mặc dù đã sống ở đó rất lâu, nhưng tôi ở Tây An chỉ là một kẻ qua đường. Bắc Kinh cũng vậy, tôi đã ở Bắc Kinh bốn mươi năm, cũng không cảm thấy Bắc Kinh là quê hương của mình, đi trên phố vẫn cảm thấy đây là thành phố của người khác.
Vì vậy, sau này tôi thường nhớ đến câu nói của Tô Đông Pha: "Nơi nào tâm an, nơi ấy là quê hương"; đi đâu đến đâu, trong lòng thấy vững vàng, thì nơi đó có thể an cư, lập nghiệp. Nhưng nơi thực sự xứng đáng gọi là quê hương, thực ra chỉ có một.
2. Việt Nam: Vì sao quan chức miền Nam thường có tư duy kinh tế sắc bén hơn?
Một số trang khác cho rằng các quan chức miền Nam thường gặp khó khăn khi ra miền Bắc. Giống như một cây cam lớn lên ở miền Nam lại trở thành một quả cam đắng khi chuyển đến miền Bắc. Nhiều quan chức miền Nam không có khả năng hoàn thành bất cứ việc gì ở miền Bắc.
Về mặt lịch sử, miền Bắc là trung tâm chính trị, với lưu vực sông Hoàng Hà là trung tâm của các thành phố thủ đô. Trung tâm chính trị này thúc đẩy chế độ quan liêu, tập trung vào đấu tranh quyền lực và nhắm vào con người chứ không phải nhiệm vụ. Do đó, người miền Bắc thường giỏi làm quan, nhưng lại không giỏi hoàn thành công việc. Tuy nhiên, khi người miền Bắc chuyển đến miền Nam, môi trường thay đổi, và họ thường thành công.
Quan chức miền Nam mang theo một nền văn hóa khác biệt, và bạn sẽ phát hiện ra rằng: nơi sinh của một người không quan trọng đến vậy, điều then chốt là người đó có từng làm việc ở miền Nam hay không, tức là kinh nghiệm công tác quan trọng hơn nơi sinh. Thực ra trong giới học thuật, những thảo luận này cũng luôn tồn tại, mọi người lật lại xem các nghiên cứu những năm gần đây, cũng có thể thấy những quan điểm tương tự đang dần nổi lên.
Sự chênh lệch giữa miền Bắc và miền Nam có liên quan đến lịch sử. Bởi vì trong một thời gian rất dài, miền Bắc luôn là nơi diễn ra chiến tranh, chiến loạn không ngừng, mỗi khi triều đại thay đổi, nơi đầu tiên bất ổn luôn luôn là miền Bắc. Miền Nam thực ra chiến loạn tương đối ít hơn, cho dù có, thì quy mô và tần suất cũng rất xa mới bằng miền Bắc.
Từ thời nhà Minh, hệ thống gia tộc địa phương bắt đầu được thiết lập, và chủ yếu là ở khu vực miền Nam, trong khi miền Bắc đại gia tộc không hình thành được. Một nguyên nhân rất quan trọng là miền Bắc thường xuyên có chiến tranh, hệ thống gia tộc vừa mới xây dựng lên đã bị chiến tranh phá hủy, căn bản không thể duy trì.
Vì vậy, miền Nam đã hình thành một truyền thống tập thể chủ nghĩa. Nhưng loại tập thể chủ nghĩa này lại khá lý tính hay duy lý, không phải kiểu tụ tập mù quáng. Đặc biệt sau năm 1860, toàn bộ khu vực ven biển Trung Quốc mở cửa, văn minh thương nghiệp phương Tây du nhập vào, hai yếu tố này kết hợp với nhau, khiến chủ nghĩa tập thể của miền Nam mang theo tính lý tính, chú trọng quy tắc, chú trọng khế ước, chú trọng hiệu quả.
Còn miền Bắc có lẽ thiên về loại hình cá nhân chủ nghĩa hơn, mang chút "hoang dã". Vì vậy, văn hóa miền Bắc và miền Nam Trung Quốc có sự khác biệt rất lớn. Văn hóa miền Bắc là loại "văn hóa sói". Bởi vì trong lịch sử, các dân tộc du mục không ngừng xâm nhập, tính hoang dã, phóng khoáng ấy, ở mức độ lớn cũng đại diện cho một loại tinh thần của người Trung Quốc: hào sảng, trực tiếp, không phục thì làm.
Còn ở miền Nam, trong hơn một nghìn năm lịch sử vừa qua, hoạt động chính là xây dựng: trị thủy, khai khẩn ruộng bậc thang, hưng thịnh thương mại, thế hệ này qua thế hệ khác đều suy ngẫm làm thế nào để cuộc sống được bền vững, chảy mãi như nước. Điều này có truyền thống lịch sử rất dài, không phải bây giờ mới như vậy.
Một fbker viết: Về cá nhân tôi, có lẽ chỉ có một quê hương, chính là nông thôn Giang Tây. Tôi lớn lên ở nông thôn Giang Tây, chính mảnh đất ấy, con đường làng ấy, những cánh đồng lúa và ao hồ ấy, mới khiến tôi cảm thấy đó là cội rễ của mình.
Tôi sẽ không coi Tây An là quê hương của mình, mặc dù đã sống ở đó rất lâu, nhưng tôi ở Tây An chỉ là một kẻ qua đường. Bắc Kinh cũng vậy, tôi đã ở Bắc Kinh bốn mươi năm, cũng không cảm thấy Bắc Kinh là quê hương của mình, đi trên phố vẫn cảm thấy đây là thành phố của người khác.
Vì vậy, sau này tôi thường nhớ đến câu nói của Tô Đông Pha: "Nơi nào tâm an, nơi ấy là quê hương"; đi đâu đến đâu, trong lòng thấy vững vàng, thì nơi đó có thể an cư, lập nghiệp. Nhưng nơi thực sự xứng đáng gọi là quê hương, thực ra chỉ có một.
Ở Việt Nam, chủ đề “cán bộ miền Nam thường có tư duy kinh tế thực tiễn hơn” không chỉ là câu chuyện bàn trà, mà còn là một hiện tượng được nhiều nhà nghiên cứu, doanh nghiệp và dư luận quan tâm. Miền Nam, đặc biệt là TP.HCM, là trung tâm kinh tế lớn nhất nước, nơi có nền kinh tế thị trường phát triển sớm và năng động. Quan chức ở khu vực này thường có phong cách làm việc thực tế, trọng hiệu quả, dám nghĩ dám làm và nhạy bén với kinh tế thị trường.
Thực tế cho thấy, nhiều đời Thủ tướng và lãnh đạo chủ chốt phụ trách điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam đều có gốc gác hoặc quá trình công tác dài hạn gắn liền với các tỉnh phía Nam. Điều này không phải là ngẫu nhiên, mà bắt nguồn từ những trải nghiệm lịch sử, di sản thể chế và văn hóa quản trị khác biệt giữa hai miền.
Thứ nhất, khác biệt nằm ở di sản thể chế kinh tế. Miền Bắc trải qua hơn ba thập kỷ (1954–1986) vận hành theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, với tư duy quản lý hành chính – mệnh lệnh là chủ đạo. Trong khi đó, miền Nam trước 1975 đã hình thành một nền kinh tế thị trường tương đối phát triển, với khu vực tư nhân năng động, hệ thống ngân hàng thương mại, và thói quen giao dịch dựa trên hợp đồng, lợi nhuận và cạnh tranh. Ngay cả trong giai đoạn 1975–1986, khi cả nước sống trong thời kỳ bao cấp, các hoạt động kinh tế ngoài nhà nước ở miền Nam vẫn âm thầm duy trì dưới dạng “thị trường ngầm” hoặc bán hợp pháp, chiếm tỷ trọng khá lớn trong lưu thông hàng hóa và tạo việc làm. Chính trải nghiệm này giúp cán bộ gốc Nam hoặc từng công tác lâu năm tại phía Nam quen thuộc với nhịp đập thị trường, hiểu rõ giới hạn của mệnh lệnh hành chính và biết cách “mở đường” cho khu vực tư nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp lý.
Thứ hai, sự khác biệt về trọng tâm quản trị. Truyền thống lịch sử khiến miền Bắc lâu nay gắn liền với vai trò trung tâm chính trị – quốc phòng, nơi tư duy “ổn định là trên hết”, coi trọng tính đúng hướng, kỷ luật tổ chức và an ninh chính trị. Ngược lại, miền Nam – với lịch sử đô thị hóa sớm, giao thương quốc tế rộng và đời sống dân sinh đa dạng – thường ưu tiên tư duy “hiệu quả là thước đo”.
Thứ nhất, khác biệt nằm ở di sản thể chế kinh tế. Miền Bắc trải qua hơn ba thập kỷ (1954–1986) vận hành theo mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, với tư duy quản lý hành chính – mệnh lệnh là chủ đạo. Trong khi đó, miền Nam trước 1975 đã hình thành một nền kinh tế thị trường tương đối phát triển, với khu vực tư nhân năng động, hệ thống ngân hàng thương mại, và thói quen giao dịch dựa trên hợp đồng, lợi nhuận và cạnh tranh. Ngay cả trong giai đoạn 1975–1986, khi cả nước sống trong thời kỳ bao cấp, các hoạt động kinh tế ngoài nhà nước ở miền Nam vẫn âm thầm duy trì dưới dạng “thị trường ngầm” hoặc bán hợp pháp, chiếm tỷ trọng khá lớn trong lưu thông hàng hóa và tạo việc làm. Chính trải nghiệm này giúp cán bộ gốc Nam hoặc từng công tác lâu năm tại phía Nam quen thuộc với nhịp đập thị trường, hiểu rõ giới hạn của mệnh lệnh hành chính và biết cách “mở đường” cho khu vực tư nhân hoạt động trong khuôn khổ pháp lý.
Thứ hai, sự khác biệt về trọng tâm quản trị. Truyền thống lịch sử khiến miền Bắc lâu nay gắn liền với vai trò trung tâm chính trị – quốc phòng, nơi tư duy “ổn định là trên hết”, coi trọng tính đúng hướng, kỷ luật tổ chức và an ninh chính trị. Ngược lại, miền Nam – với lịch sử đô thị hóa sớm, giao thương quốc tế rộng và đời sống dân sinh đa dạng – thường ưu tiên tư duy “hiệu quả là thước đo”.
Cán bộ từng lăn lộn với thực tiễn kinh tế phía Nam thường tiếp cận vấn đề theo hướng thực dụng, linh hoạt, quen với việc tháo gỡ vướng mắc thể chế, cắt giảm thủ tục, và coi kết quả đầu ra (việc làm, tăng trưởng, thu ngân sách, thu hút đầu tư) là tiêu chí đánh giá năng lực. Tư duy này không phủ nhận vai trò lãnh đạo toàn diện, nhưng biết cách phân định rõ ranh giới giữa “nhà nước kiến tạo” và “thị trường vận hành”.
Thứ ba, lịch sử cải cách kinh tế Việt Nam phản ánh rõ nét lợi thế trải nghiệm này. Chính những cán bộ từng gắn bó với thực tiễn kinh tế – xã hội miền Nam trước và sau 1975 là lực lượng tiên phong đề xướng, thử nghiệm và bảo vệ chủ trương Đổi mới (1986).
Thứ ba, lịch sử cải cách kinh tế Việt Nam phản ánh rõ nét lợi thế trải nghiệm này. Chính những cán bộ từng gắn bó với thực tiễn kinh tế – xã hội miền Nam trước và sau 1975 là lực lượng tiên phong đề xướng, thử nghiệm và bảo vệ chủ trương Đổi mới (1986).
Nhiều quan chức miền Nam đi lên từ thực tiễn sản xuất, kinh doanh, hoặc nắm giữ các chức vụ quan trọng tại các địa phương có tốc độ phát triển kinh tế cao, nhờ đó họ có kinh nghiệm vững chắc về quản lý tài chính, thu hút đầu tư và cải cách hành chính.
Khi được giao trọng trách điều hành vĩ mô, họ thường ưu tiên các chính sách “cởi trói cho sản xuất”: khoán hộ trong nông nghiệp, thí điểm doanh nghiệp tư nhân, thu hút FDI, cải cách thuế và ngân sách, và mở cửa thương mại. Nhiều đột phá thể chế kinh tế của Việt Nam trong 30 năm qua đều mang dấu ấn của tư duy “lấy thực tiễn làm chuẩn”, vốn được nuôi dưỡng từ môi trường thị trường sớm hơn tại các đô thị và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
Tuy nhiên, cần tránh quy chụp theo kiểu “miền Nam giỏi kinh tế, miền Bắc giỏi chính trị”. Đây là hệ quả của lịch sử thể chế, không phải đặc tính vùng miền cố định. Trong bối cảnh hiện nay, ranh giới này đang mờ dần nhờ cơ chế luân chuyển cán bộ, đào tạo tập trung tại Học viện Chính trị Quốc gia và các chương trình bồi dưỡng quản lý kinh tế hiện đại. Nhiều cán bộ miền Bắc đã chứng tỏ năng lực điều hành kinh tế xuất sắc khi được tiếp cận môi trường thị trường thực tế và trao quyền chủ động thí điểm. Ngược lại, nếu thiếu kỷ luật pháp lý và tầm nhìn chiến lược, tư duy “thương mại thuần túy” cũng dễ dẫn đến tư lợi cục bộ, bỏ qua an sinh xã hội hoặc phát triển thiếu bền vững. Bài học từ cả hai miền cho thấy: một nhà quản trị kinh tế giỏi cần sự kết hợp giữa tính chính trị vững vàng, tư duy thị trường sắc bén và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Kết luận: Khi nói “quan chức miền Nam thường có tư duy kinh tế thực tiễn hơn”, thực chất là nói đến lợi thế về trải nghiệm thể chế và văn hóa quản trị được tôi luyện trong môi trường thị trường sớm hơn. Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số và hội nhập sâu rộng, việc học hỏi kinh nghiệm thực tiễn, tôn trọng quy luật thị trường, và trao quyền chủ động cho địa phương và người lãnh đạo bất kể xuất thân miền Bắc hay miền Nam, mới là chìa khóa để phát huy nội lực quốc gia.
Tuy nhiên, cần tránh quy chụp theo kiểu “miền Nam giỏi kinh tế, miền Bắc giỏi chính trị”. Đây là hệ quả của lịch sử thể chế, không phải đặc tính vùng miền cố định. Trong bối cảnh hiện nay, ranh giới này đang mờ dần nhờ cơ chế luân chuyển cán bộ, đào tạo tập trung tại Học viện Chính trị Quốc gia và các chương trình bồi dưỡng quản lý kinh tế hiện đại. Nhiều cán bộ miền Bắc đã chứng tỏ năng lực điều hành kinh tế xuất sắc khi được tiếp cận môi trường thị trường thực tế và trao quyền chủ động thí điểm. Ngược lại, nếu thiếu kỷ luật pháp lý và tầm nhìn chiến lược, tư duy “thương mại thuần túy” cũng dễ dẫn đến tư lợi cục bộ, bỏ qua an sinh xã hội hoặc phát triển thiếu bền vững. Bài học từ cả hai miền cho thấy: một nhà quản trị kinh tế giỏi cần sự kết hợp giữa tính chính trị vững vàng, tư duy thị trường sắc bén và trách nhiệm giải trình rõ ràng.
Kết luận: Khi nói “quan chức miền Nam thường có tư duy kinh tế thực tiễn hơn”, thực chất là nói đến lợi thế về trải nghiệm thể chế và văn hóa quản trị được tôi luyện trong môi trường thị trường sớm hơn. Trong giai đoạn hiện nay, khi Việt Nam chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo, kinh tế số và hội nhập sâu rộng, việc học hỏi kinh nghiệm thực tiễn, tôn trọng quy luật thị trường, và trao quyền chủ động cho địa phương và người lãnh đạo bất kể xuất thân miền Bắc hay miền Nam, mới là chìa khóa để phát huy nội lực quốc gia.
Lịch sử không chia cắt, mà chỉ dạy cách kết nối những ưu điểm của người dân mỗi vùng miền để kiến tạo một bộ máy quản trị hiện đại, hiệu quả và vì dân.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét