Việt Nam đang trong giai đoạn đột phá chiến lược với nhiều bất an
Dưới đây là một bài viết khá hay của tác giả La Nghi Phức, Viện Kinh tế Thế giới và Chính trị Quốc tế, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Trung Quốc. Ông đã có những lập luận khá chặt chẽ xoay quanh ba trụ cột tăng trưởng sắp tới của Việt Nam: (i) tự chủ công nghệ bán dẫn, (ii) hạ tầng đường sắt, và (iii) ngoại giao kinh tế đa phương. Ảnh: Sáng ngày 16/4, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Tô Lâm rời Bắc Kinh bằng tàu cao tốc, khởi hành đến Quảng Tây, tiếp tục hành trình thăm Trung Quốc. Nguồn: Tân Hoa Xã
Cách tiếp cận này cho phép liên kết được các vấn đề rời rạc (các chuyến thăm của lãnh đạo, các dự án công trình cụ thể, các hiệp định ký kết) thành một bức tranh tổng thể về chiến lược phát triển sắp tới của Việt Nam, đồng thời cũng làm nổi bật mâu thuẫn nội tại giữa "hiệu quả kinh tế" và "an ninh chiến lược", một nghịch lý then chốt không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đang phát triển khác cũng đang phải đối mặt.
Đặc biệt ông đã chỉ ra được sự giằng co trong tư duy phát triển của Việt Nam: "Việt Nam đang đánh đổi một phần hiệu quả kinh tế để lấy cái gọi là 'cảm giác an toàn địa chính trị'.". Đây là một nhận định sắc sảo, phản ánh đúng thực tế: việc lựa chọn Siemens thay vì Trung Quốc cho đường sắt cao tốc Bắc-Nam có thể hợp lý về mặt chiến lược, nhưng lại đi kèm chi phí cơ hội lớn về thời gian, tài chính và khả năng kết nối hệ thống mạng lưới đường sắt và giao thông quốc gia.
Dưới đây là toàn văn bài viết.
Gần đây, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Tô Lâm đã kết thúc chuyến thăm Trung Quốc. Trong hành trình kéo dài bốn ngày, việc ông Tô Lâm đi tàu cao tốc Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận trong và ngoài nước. Về tính đặc biệt của sự việc này, tờ Liên hợp Tảo báo (Singapore) đã có một câu tóm tắt rất xác đáng:
"Chính khách nước ngoài đi tàu cao tốc trong thời gian dài, vượt qua hàng nghìn km từ bắc xuống nam Trung Quốc, là điều hiếm thấy; tổng thời gian lên tới 12 giờ cũng lập kỷ lục trong số các nhà lãnh đạo nước ngoài thăm Trung Quốc."
1. Hai chủ đề lớn và tăng trưởng GDP vượt quá 10%.
Kể từ khi Chính phủ Việt Nam công bố "Chiến lược phát triển ngành bán dẫn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050" vào tháng 9/2024, ngành bán dẫn nội địa quả thực đã đạt được nhiều thành tích nổi bật:
Tháng 12/2025, tập đoàn hàng đầu về CNTT của Việt Nam là FPT đã giao lô chip nguồn đầu tiên cho một công ty điện tử hàng đầu Nhật Bản. Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp Việt Nam đưa sản phẩm chip thương mại ra thị trường Nhật Bản, nơi có yêu cầu cực cao về chất lượng và độ tin cậy.
Tháng 1/2026, Tập đoàn Viễn thông Việt Nam (Viettel) đã khởi công xây dựng nhà máy sản xuất chip đầu tiên của Việt Nam tại Hà Nội, dự kiến thử nghiệm sản xuất vào cuối năm 2027, đánh dấu việc Việt Nam, sau khi đã có chỗ đứng trong khâu đóng gói và kiểm thử của chuỗi công nghiệp bán dẫn, bắt đầu tiến tới khâu sản xuất wafer ở phía trước hơn.
Đồng thời, với tư cách là nhà máy đóng gói và kiểm thử bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam hoàn toàn do doanh nghiệp nội địa sở hữu và vận hành, nhà máy của FPT tại tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc đã chính thức đi vào sản xuất; chip hệ thống (SoC) với nút công nghệ 28nm~32nm do FPT và Viettel cùng phát triển đã đạt đột phá trong thiết kế sơ bộ, chủ yếu hướng tới các kịch bản ứng dụng điện toán biên AI, như camera, máy bay không người lái, thiết bị thông minh, v.v.
Những thành tích này được giới quan sát trong và ngoài Việt Nam diễn giải là biểu hiện quan trọng cho thấy tính tự chủ của ngành bán dẫn đang ngày càng gia tăng, cũng như là thực tiễn thành công của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền kinh tế quốc gia đồng thời mở rộng hội nhập.
Tuy nhiên, sự gia tăng có hạn của tính tự chủ công nghiệp không có nghĩa là Việt Nam có thể hoàn toàn thoát khỏi sự phụ thuộc công nghệ.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu bán dẫn của Việt Nam chiếm khoảng 5%-6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, tuy có tăng trưởng so với các năm trước, nhưng nếu so sánh ngang, tỷ lệ xuất khẩu bán dẫn của Malaysia trong tổng kim ngạch xuất khẩu luôn duy trì ở mức 20%-25%, cho thấy Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất lớn để đuổi kịp các đối thủ cạnh tranh.
Không chỉ vậy, theo phân tích dữ liệu năm 2025 của Cục Thống kê và Bộ Công Thương Việt Nam, tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong kim ngạch xuất khẩu bán dẫn và linh kiện điện tử liên quan của Việt Nam vẫn cao trên 95%. Sự tăng trưởng mang tính nhúng sâu của vốn ngoại này khiến ngành bán dẫn Việt Nam thể hiện rõ đặc trưng "vùng đất công nghiệp biệt lập" (industrial enclave). Mặc dù doanh nghiệp nội địa Việt Nam đã có chút thành tựu ở các khâu hạ nguồn như đóng gói kiểm thử và sản xuất wafer, nhưng các phần cốt lõi như phần mềm EDA, thiết bị quang khắc then chốt và vật liệu hóa chất độ tinh khiết cao vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung từ Mỹ, Nhật Bản và châu Âu.
Sự phụ thuộc công nghệ còn thể hiện ở việc dựa dẫm vào nhân tài từ bên ngoài. Mặc dù Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẽ đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030, nhưng hiện tại, phần lớn sinh viên tốt nghiệp từ hệ thống giáo dục nội địa chỉ tập trung ở các khâu vận hành và kiểm thử cấp thấp, số lượng nhân tài cấp cao có thể tham gia vào thiết kế cốt lõi và nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ rất ít ỏi, do đó chỉ có thể dựa rất lớn vào sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu và kỹ sư nước ngoài. Sự sai lệch trong cấu trúc nhân tài này khiến Việt Nam càng khó khăn hơn khi phải cạnh tranh với các đối thủ như Malaysia trong việc thu hút dòng chảy ngược của khâu đóng gói cao cấp và thiết kế.
Hiện nay Việt Nam đang nâng tầm tự cường công nghệ lên vị trí chiến lược nhằm củng cố nền tảng độc lập quốc gia. Trong hai năm gần đây, ông Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh trong các luận điểm chiến lược về "Kỷ nguyên mới" rằng, chuyển đổi số và tự cường khoa học công nghệ không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chính trị; việc thiếu hụt chủ quyền công nghệ sẽ khiến quốc gia mất đi quyền tự chủ chiến lược khi tham gia tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu.
3. Hạ tầng đường sắt: Sự lựa chọn khó khăn giữa hiệu quả kinh tế và chiến lược địa chính trị
Nếu coi ngành bán dẫn là động lực tăng trưởng kinh tế then chốt của Việt Nam trong những năm tới, thì hạ tầng cơ sở chính là sự bảo đảm tất yếu cho tăng trưởng kinh tế, trong đó đặc biệt ưu tiên hạ tầng đường sắt.
Kể từ khi nhậm chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đẩy mạnh thúc đẩy dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam và ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối Trung-Việt, và đã đạt được những tiến bộ mang tính biểu tượng trong gian nan:
Tháng 12/2025, dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, với tổng chiều dài khoảng 390,9 km và tổng vốn đầu tư vượt quá 8,37 tỷ USD, đã khởi công giai đoạn một; công tác nghiên cứu quy hoạch cho hai tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng - Hà Nội và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng cũng đang được thúc đẩy đồng bộ trong khuôn khổ hợp tác song phương.
Bước đột phá này chủ yếu bắt nguồn từ yêu cầu cực đoan của các ngành công nghiệp như bán dẫn và điện tử đối với tốc độ phản ứng của chuỗi cung ứng. Vì phần lớn nguyên liệu trung gian, hóa chất then chốt và thiết bị sản xuất cần thiết cho sản xuất chế tạo của Việt Nam hiện nay vẫn phải điều vận từ khu vực Hoa Nam, Trung Quốc, nếu không thể thực hiện kết nối "một đường ray" cùng khổ đường sắt, lợi thế về hiệu quả thời gian chuỗi cung ứng của Việt Nam có thể bị suy yếu đáng kể.
Khác với việc Việt Nam đẩy nhanh thúc đẩy đường sắt xuyên biên giới Trung-Việt chủ yếu dựa trên cân nhắc về hiệu quả kinh tế, dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam của Việt Nam tồn tại những lo ngại chiến lược địa chính trị lớn hơn.
Trong thời gian dài, Việt Nam có xu hướng áp dụng công nghệ Shinkansen của Nhật Bản, logic cốt lõi nằm ở việc dùng cái giá đắt để đổi lấy không gian chiến lược "phi Trung Quốc hóa", đồng thời sử dụng tính dài hạn của ODA Nhật Bản để đối xung rủi ro tài chính.
Tuy nhiên, dự án tàu điện ngầm số 1 TP.HCM do Nhật Bản viện trợ xây dựng liên tục bị hoãn tiến độ, sau khi đưa vào vận hành lại xuất hiện tranh chấp khiếu nại đòi bồi thường từ nhà thầu Nhật Bản và mâu thuẫn về chỉnh sửa kỹ thuật, khiến mức độ tin cậy của Chính phủ và xã hội Việt Nam đối với mô hình hạ tầng Nhật Bản giảm rõ rệt. Nhược điểm về chu kỳ xây dựng quá dài (thường trên 20 năm) của phương án Nhật Bản, trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang khẩn trương cần nâng cấp công nghiệp, càng trở nên khó chấp nhận.
Ngược lại, tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của Việt Nam do doanh nghiệp Trung Quốc thầu xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật chuỗi công nghiệp toàn diện của Trung Quốc (tuyến Cát Linh - Hà Đông, Hà Nội) đã được xây dựng hiệu quả và đưa vào vận hành; cộng thêm hiệu ứng trình diễn các tàu cao tốc Trung Quốc tại Đông Nam Á (như đường sắt Trung-Lào, đường sắt cao tốc Jakarta-Bandung), khiến phía Việt Nam có cảm nhận trực quan và sâu sắc hơn về thực lực và hiệu quả xây dựng hạ tầng của Trung Quốc. Có thể nói, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế, Trung Quốc chắc chắn là đối tác hợp tác tốt nhất của Việt Nam trong việc xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam.
Tuy nhiên, tranh chấp địa chính trị phức tạp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, cùng với những lo ngại trong nội bộ Việt Nam về cái gọi là "rơi vào bẫy nợ Trung Quốc" và "phụ thuộc quá mức vào hạ tầng Trung Quốc", khiến Việt Nam luôn giữ thái độ thận trọng đối với phương án Trung Quốc trong xây dựng các tuyến đường trục cốt lõi.
Là lựa chọn thay thế ngoài doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản, Siemens (Đức) cuối cùng đã trở thành nhà cung cấp công nghệ cho đường sắt cao tốc Bắc-Nam, trong khi VinSpeed, công ty con thuộc tập đoàn Vingroup của Việt Nam, đã trở thành đơn vị thi công.
Việc Việt Nam chuyển hướng sang Siemens là kết quả của sự hợp lực giữa ba yếu tố: nhu cầu nội địa hóa công nghệ, cảm giác an toàn địa chính trị và chiến lược cân bằng ngoại giao.
Một mặt, thái độ cởi mở của Siemens có sức hấp dẫn hơn so với việc chuyển giao công nghệ tương đối bảo thủ của Nhật Bản. Tháng 5/2024, Giám đốc điều hành Siemens Mobility gặp gỡ Thủ tướng Việt Nam khi đó là ông Phạm Minh Chính, đã tuyên bố rõ ràng Siemens không chỉ sẵn sàng cung cấp tàu và công nghệ, mà còn sẵn sàng thiết lập trung tâm nghiên cứu phát triển và nhà máy sản xuất tại Việt Nam, đồng thời thực hiện chuyển giao công nghệ chiều sâu.
Mặt khác, đối với Việt Nam, Đức không liên quan đến xung đột địa chính trị và cạnh tranh nước lớn, việc đưa công nghệ châu Âu vào có thể trở thành lực lượng cân bằng hữu hiệu ngoài Trung Quốc và Nhật Bản, phù hợp với nguyên tắc ngoại giao "không chọn bên đứng phe" của Việt Nam.
Nhưng mô hình xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam hiện tại cũng đồng nghĩa với chi phí xây dựng cao hơn, chu kỳ thi công dài hơn (so với phương án Trung Quốc), trình độ kỹ thuật kém ổn định hơn, và khó hình thành mạng lưới vận tải đường sắt phối hợp thống nhất hơn trong lãnh thổ Việt Nam. Nói ngắn gọn, Việt Nam đang đánh đổi một phần hiệu quả kinh tế để đổi lấy cái gọi là "cảm giác an toàn địa chính trị".
Ảnh: Ngày 12/4, tuyến đường sắt cao tốc xuyên vùng đầu tiên của Việt Nam – tuyến Hà Nội – Quảng Ninh chính thức khởi công. Cùng ngày, Thủ tướng mới của Việt Nam Lê Minh Hưng (giữa) đã tham dự lễ khởi công. Nguồn: Vietnam News
3. Thông qua ngoại giao kinh tế có trọng điểm để hóa giải nghịch cảnh cấu trúc
Những nghịch cảnh nêu trên là vấn đề cố hữu gắn liền với giai đoạn phát triển và vị trí địa chính trị mà Việt Nam đang trải qua hiện nay.
Xét từ góc độ giai đoạn phát triển, với tư cách là quốc gia thu nhập trung bình, Việt Nam đang đối mặt với sự áp sát từng bước của "bẫy thu nhập trung bình": lợi tức dân số suy giảm biên, tốc độ tăng chi phí lao động vượt quá tốc độ tăng trưởng của năng suất nhân tố tổng hợp. Nếu các ngành công nghệ cao như bán dẫn không thể nhanh chóng và liên tục tạo ra hiệu ứng lan tỏa, và nền kinh tế không thể duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao liên tục, Việt Nam có thể lặp lại vết xe đổ của một số quốc gia Đông Nam Á: Trước khi bước vào giai đoạn thu nhập cao, đã mất đi lợi thế chế tạo do chi phí tăng lên.
Xét từ góc độ vị trí địa chính trị, Việt Nam nằm ở tuyến đầu của cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ, nên để tránh hại tìm lợi, Việt Nam không thể thể hiện xu hướng thiên vị rõ ràng về bất kỳ phía nào trong các biện pháp chiến lược liên quan.
Để giảm bớt nghịch cảnh nêu trên, kể từ khi bước vào ông Tô Lâm làm Tổng bí thư, Việt Nam đã thường xuyên tiến hành ngoại giao kinh tế, nỗ lực giành lấy thời gian phát triển và chiếm lĩnh không gian phát triển.
Từ năm 2025 đến nay, ông Tô Lâm đã thăm dày đặc Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, cùng các quốc gia châu Âu như Pháp, Anh, Phần Lan... Nhìn vào dấu chân công du của bản thân ông Tô Lâm và các lãnh đạo cấp cao khác của Việt Nam, có thể phát hiện ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, mỗi chuyến công du đều mang mục đích kinh tế cực mạnh, tức là xoay chặt quanh các chủ đề như hợp tác bán dẫn và hạ tầng, đồng thời bố trí một lượng lớn quan chức kỹ thuật và lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam cùng đi.
Thứ hai, chủ động đàm phán và giữ thế cân bằng giữa các cường quốc, dưới áp lực cấp bách của khủng hoảng. Điều này có nghĩa là ngoại giao của Việt Nam thời gian gần đây không đơn thuần là đi thăm hỏi ngoại giao, mà là những nước đi có tính toán ("ngoại giao cây tre"), được thúc đẩy bởi sự cấp thiết phải bảo vệ nền kinh tế trước các cú sốc toàn cầu. Việt Nam đang tận dụng vị thế "địa chính trị hiếm có" để vừa hợp tác, vừa cân bằng quan hệ với Mỹ, Trung Quốc và các nước lớn khác, nhằm tranh thủ công nghệ và thị trường mà không bị lệ thuộc vào bên nào.
Đối mặt với áp lực "giảm thiểu rủi ro" của chuỗi cung ứng toàn cầu, những chuyến công du then chốt nhiều lần của ông Tô Lâm nhằm xóa bỏ cảm giác không tin cậy của các nước lớn đối với lập trường của Việt Nam. Đúng như ông nhấn mạnh khi thăm Trung Quốc rằng "Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu trong ngoại giao của Việt Nam", và khi thăm Mỹ lại nhấn mạnh "Việt Nam là đối tác thị trường minh bạch", lần lượt đáp ứng những quan tâm cốt lõi của Trung Quốc và Mỹ đối với Việt Nam.
Đáng chú ý là, trong quá trình ông Tô Lâm thăm Mỹ và thăm Trung Quốc lần lượt vào tháng 2 và tháng 4/2026, sự khác biệt giữa Bản ghi nhớ hợp tác khoa học công nghệ Mỹ-Việt được ký tại Mỹ và Tuyên bố chung Trung-Việt về tăng cường quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện được ký tại Trung Quốc, đã trở thành bức chân dung chân thực của "ngoại giao cây tre" Việt Nam:
Văn kiện trước nhằm đổi lấy "phần giá trị gia tăng". Ông Tô Lâm cố gắng tận dụng tính khan hiếm địa chính trị của Việt Nam để đòi hỏi Mỹ về lợi tức công nghệ và đặc quyền thị trường, hy vọng thông qua văn kiện này thực hiện nâng cấp vượt bậc cho ngành công nghiệp, tránh rơi vào vị trí nhà máy gia công cấp thấp vĩnh viễn;
Văn kiện sau nhằm đối xung "lo âu". Sau khi có được cam kết từ phía Mỹ, ông Tô Lâm quay lại tìm kiếm sự đối xung chi phí và cân bằng rủi ro. Đó là vì đối với Việt Nam, nếu không có tốc độ xây dựng hạ tầng, điện lực chi phí thấp và nguyên liệu đa chủng loại từ Trung Quốc, tầm nhìn công nghệ mà Việt Nam đạt được với Mỹ sẽ chỉ là lâu đài trên cát.
Thứ ba, nhấn mạnh ưu tiên chủ quyền công nghệ. Ông Tô Lâm đã nhiều lần đưa ra yêu cầu chuyển giao công nghệ trong các chuyến thăm, phản ánh khát vọng mãnh liệt của ông trong việc tận dụng lợi thế địa lý của Việt Nam để chuyển đổi từ nhà máy gia công thuần túy sang đối tác cùng nghiên cứu phát triển.
Đặc biệt là chuyến thăm Hàn Quốc của ông Tô Lâm vào tháng 8/2025. Trong chuyến thăm này, ông đã thuyết phục Hàn Quốc đồng ý mở rộng chức năng của trung tâm nghiên cứu phát triển Samsung tại Hà Nội từ phần mềm thiết bị đầu cuối di động hiện tại sang thiết kế mạch bán dẫn và quy trình đóng gói tiên tiến, đồng thời chuyển giao một phần công nghệ quy trình thiết kế của các quy trình trưởng thành (sử dụng và xác thực công cụ EDA) cho Việt Nam trong vòng ba năm. Ông cũng thúc đẩy Samsung Electronics ký kết thỏa thuận hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội, thông qua mô hình "đào tạo theo đơn đặt hàng", phía Hàn Quốc cung cấp giáo trình, thiết bị thí nghiệm và kỹ sư cấp cao, trực tiếp đào tạo tại Việt Nam những kỹ sư có khả năng tham gia vào thiết kế trung-cao cấp. Những kế hoạch hợp tác này lần lượt đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của Việt Nam trong phát triển ngành bán dẫn.
4. Lời kết
Năm 2026, Việt Nam đang đứng tại ngã rẽ then chốt trong tiến trình hiện đại hóa quốc gia. Cùng với những đột phá ban đầu trong nội địa hóa ngành bán dẫn, việc phương án đường sắt cao tốc Bắc-Nam cuối cùng cũng được định đoạt sau gian nan, và thực tiễn chiều sâu của "ngoại giao cây tre" trong thời đại tăng tốc hiện nay, tiềm năng của Việt Nam với tư cách là trung tâm mới nổi của chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu ngày càng nổi bật.
Tuy nhiên, đằng sau sự phồn vinh của các dữ liệu vĩ mô, Việt Nam đang chìm sâu trong lo âu chuyển đổi cấu trúc và lo âu đuổi kịp: một mặt là sự kìm kẹp nội tại của "bẫy thu nhập trung bình" và sự thiếu hụt chủ quyền công nghệ; mặt khác là nghịch cảnh bên ngoài khi không gian tự chủ chiến lược bị chèn ép trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng. Sự lo âu đuổi kịp này đã định sẵn rằng, trong một khoảng thời gian khá dài, Việt Nam vẫn sẽ ở trong "giai đoạn đột phá chiến lược" với nhiều bất an.
Cách tiếp cận này cho phép liên kết được các vấn đề rời rạc (các chuyến thăm của lãnh đạo, các dự án công trình cụ thể, các hiệp định ký kết) thành một bức tranh tổng thể về chiến lược phát triển sắp tới của Việt Nam, đồng thời cũng làm nổi bật mâu thuẫn nội tại giữa "hiệu quả kinh tế" và "an ninh chiến lược", một nghịch lý then chốt không chỉ Việt Nam mà nhiều quốc gia đang phát triển khác cũng đang phải đối mặt.
Đặc biệt ông đã chỉ ra được sự giằng co trong tư duy phát triển của Việt Nam: "Việt Nam đang đánh đổi một phần hiệu quả kinh tế để lấy cái gọi là 'cảm giác an toàn địa chính trị'.". Đây là một nhận định sắc sảo, phản ánh đúng thực tế: việc lựa chọn Siemens thay vì Trung Quốc cho đường sắt cao tốc Bắc-Nam có thể hợp lý về mặt chiến lược, nhưng lại đi kèm chi phí cơ hội lớn về thời gian, tài chính và khả năng kết nối hệ thống mạng lưới đường sắt và giao thông quốc gia.
Dưới đây là toàn văn bài viết.
Gần đây, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Tô Lâm đã kết thúc chuyến thăm Trung Quốc. Trong hành trình kéo dài bốn ngày, việc ông Tô Lâm đi tàu cao tốc Trung Quốc đã thu hút sự quan tâm rộng rãi của dư luận trong và ngoài nước. Về tính đặc biệt của sự việc này, tờ Liên hợp Tảo báo (Singapore) đã có một câu tóm tắt rất xác đáng:
"Chính khách nước ngoài đi tàu cao tốc trong thời gian dài, vượt qua hàng nghìn km từ bắc xuống nam Trung Quốc, là điều hiếm thấy; tổng thời gian lên tới 12 giờ cũng lập kỷ lục trong số các nhà lãnh đạo nước ngoài thăm Trung Quốc."
Chuyến đi này của ông Tô Lâm tập trung cao độ vào hai chủ đề lớn: công nghệ cao và hạ tầng cơ sở. Điều này thực ra không phải là ngẫu nhiên, mà phù hợp với tư duy ngoại giao kinh tế mà giới lãnh đạo cấp cao Việt Nam đã hướng tới các quốc gia hoặc khu vực chủ chốt trên thế giới trong những năm gần đây, ẩn chứa tâm lý khẩn trương mong muốn thực hiện chuyển đổi kinh tế Việt Nam thông qua nâng cấp công nghiệp (chủ yếu là sự trỗi dậy của các ngành công nghệ cao như bán dẫn) và cải thiện hệ sinh thái công nghiệp (trọng tâm là tăng cường xây dựng hạ tầng). Hơn nữa, cuộc chuyển đổi này không chỉ đơn giản là "tiến thêm một bậc thang", mà là một bước nhảy vọt về mô hình, từ phụ thuộc tiến tới tự chủ.
Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), năm 2025, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt mức cao 8,02%, là một trong những quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tốt nhất toàn cầu trong cùng kỳ. Ngoài ra, xét thấy GNI bình quân đầu người của Việt Nam năm 2024 đã đạt 4.490 USD, rất gần với ngưỡng tối thiểu của nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao do Ngân hàng Thế giới xác định (4.496 USD), năm 2025 về cơ bản có thể được xem là điểm ngoặt khi Việt Nam chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Trong bầu không khí lạc quan khi nền kinh tế đang phát triển thịnh vượng, ông Tô Lâm thậm chí đã đặt ra mục tiêu siêu cao: tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 vượt quá 10%.
Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý I/2026 "khởi đầu thấp" (7,83%), cộng đồng quốc tế ngày càng nghi ngờ về khả năng duy trì "đà tăng cao" của Việt Nam trong tương lai. Sự đan xen giữa lạc quan và nghi ngại này cũng phản ánh trực tiếp trạng thái mâu thuẫn thể hiện trong quá trình phát triển ngành bán dẫn và xây dựng hạ tầng cơ sở của Việt Nam thời gian gần đây.
2. Công nghiệp bán dẫn: Bước đi trên ranh giới giữa tự chủ công nghiệp và phụ thuộc công nghệ
Theo thống kê của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), năm 2025, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt mức cao 8,02%, là một trong những quốc gia có tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tốt nhất toàn cầu trong cùng kỳ. Ngoài ra, xét thấy GNI bình quân đầu người của Việt Nam năm 2024 đã đạt 4.490 USD, rất gần với ngưỡng tối thiểu của nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao do Ngân hàng Thế giới xác định (4.496 USD), năm 2025 về cơ bản có thể được xem là điểm ngoặt khi Việt Nam chính thức bước vào hàng ngũ các quốc gia có thu nhập trung bình cao. Trong bầu không khí lạc quan khi nền kinh tế đang phát triển thịnh vượng, ông Tô Lâm thậm chí đã đặt ra mục tiêu siêu cao: tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2026-2030 vượt quá 10%.
Tuy nhiên, cùng với việc tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong quý I/2026 "khởi đầu thấp" (7,83%), cộng đồng quốc tế ngày càng nghi ngờ về khả năng duy trì "đà tăng cao" của Việt Nam trong tương lai. Sự đan xen giữa lạc quan và nghi ngại này cũng phản ánh trực tiếp trạng thái mâu thuẫn thể hiện trong quá trình phát triển ngành bán dẫn và xây dựng hạ tầng cơ sở của Việt Nam thời gian gần đây.
2. Công nghiệp bán dẫn: Bước đi trên ranh giới giữa tự chủ công nghiệp và phụ thuộc công nghệ
Kể từ khi Chính phủ Việt Nam công bố "Chiến lược phát triển ngành bán dẫn đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050" vào tháng 9/2024, ngành bán dẫn nội địa quả thực đã đạt được nhiều thành tích nổi bật:
Tháng 12/2025, tập đoàn hàng đầu về CNTT của Việt Nam là FPT đã giao lô chip nguồn đầu tiên cho một công ty điện tử hàng đầu Nhật Bản. Đây là lần đầu tiên doanh nghiệp Việt Nam đưa sản phẩm chip thương mại ra thị trường Nhật Bản, nơi có yêu cầu cực cao về chất lượng và độ tin cậy.
Tháng 1/2026, Tập đoàn Viễn thông Việt Nam (Viettel) đã khởi công xây dựng nhà máy sản xuất chip đầu tiên của Việt Nam tại Hà Nội, dự kiến thử nghiệm sản xuất vào cuối năm 2027, đánh dấu việc Việt Nam, sau khi đã có chỗ đứng trong khâu đóng gói và kiểm thử của chuỗi công nghiệp bán dẫn, bắt đầu tiến tới khâu sản xuất wafer ở phía trước hơn.
Đồng thời, với tư cách là nhà máy đóng gói và kiểm thử bán dẫn đầu tiên tại Việt Nam hoàn toàn do doanh nghiệp nội địa sở hữu và vận hành, nhà máy của FPT tại tỉnh Bắc Ninh, miền Bắc đã chính thức đi vào sản xuất; chip hệ thống (SoC) với nút công nghệ 28nm~32nm do FPT và Viettel cùng phát triển đã đạt đột phá trong thiết kế sơ bộ, chủ yếu hướng tới các kịch bản ứng dụng điện toán biên AI, như camera, máy bay không người lái, thiết bị thông minh, v.v.
Những thành tích này được giới quan sát trong và ngoài Việt Nam diễn giải là biểu hiện quan trọng cho thấy tính tự chủ của ngành bán dẫn đang ngày càng gia tăng, cũng như là thực tiễn thành công của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền kinh tế quốc gia đồng thời mở rộng hội nhập.
Tuy nhiên, sự gia tăng có hạn của tính tự chủ công nghiệp không có nghĩa là Việt Nam có thể hoàn toàn thoát khỏi sự phụ thuộc công nghệ.
Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu bán dẫn của Việt Nam chiếm khoảng 5%-6% tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa, tuy có tăng trưởng so với các năm trước, nhưng nếu so sánh ngang, tỷ lệ xuất khẩu bán dẫn của Malaysia trong tổng kim ngạch xuất khẩu luôn duy trì ở mức 20%-25%, cho thấy Việt Nam vẫn còn khoảng cách rất lớn để đuổi kịp các đối thủ cạnh tranh.
Không chỉ vậy, theo phân tích dữ liệu năm 2025 của Cục Thống kê và Bộ Công Thương Việt Nam, tỷ lệ đóng góp của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài trong kim ngạch xuất khẩu bán dẫn và linh kiện điện tử liên quan của Việt Nam vẫn cao trên 95%. Sự tăng trưởng mang tính nhúng sâu của vốn ngoại này khiến ngành bán dẫn Việt Nam thể hiện rõ đặc trưng "vùng đất công nghiệp biệt lập" (industrial enclave). Mặc dù doanh nghiệp nội địa Việt Nam đã có chút thành tựu ở các khâu hạ nguồn như đóng gói kiểm thử và sản xuất wafer, nhưng các phần cốt lõi như phần mềm EDA, thiết bị quang khắc then chốt và vật liệu hóa chất độ tinh khiết cao vẫn hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn cung từ Mỹ, Nhật Bản và châu Âu.
Sự phụ thuộc công nghệ còn thể hiện ở việc dựa dẫm vào nhân tài từ bên ngoài. Mặc dù Chính phủ Việt Nam tuyên bố sẽ đào tạo 50.000 kỹ sư bán dẫn vào năm 2030, nhưng hiện tại, phần lớn sinh viên tốt nghiệp từ hệ thống giáo dục nội địa chỉ tập trung ở các khâu vận hành và kiểm thử cấp thấp, số lượng nhân tài cấp cao có thể tham gia vào thiết kế cốt lõi và nghiên cứu phát triển quy trình công nghệ rất ít ỏi, do đó chỉ có thể dựa rất lớn vào sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu và kỹ sư nước ngoài. Sự sai lệch trong cấu trúc nhân tài này khiến Việt Nam càng khó khăn hơn khi phải cạnh tranh với các đối thủ như Malaysia trong việc thu hút dòng chảy ngược của khâu đóng gói cao cấp và thiết kế.
Hiện nay Việt Nam đang nâng tầm tự cường công nghệ lên vị trí chiến lược nhằm củng cố nền tảng độc lập quốc gia. Trong hai năm gần đây, ông Tô Lâm đã nhiều lần nhấn mạnh trong các luận điểm chiến lược về "Kỷ nguyên mới" rằng, chuyển đổi số và tự cường khoa học công nghệ không chỉ là vấn đề kinh tế, mà còn là vấn đề chính trị; việc thiếu hụt chủ quyền công nghệ sẽ khiến quốc gia mất đi quyền tự chủ chiến lược khi tham gia tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu.
3. Hạ tầng đường sắt: Sự lựa chọn khó khăn giữa hiệu quả kinh tế và chiến lược địa chính trị
Nếu coi ngành bán dẫn là động lực tăng trưởng kinh tế then chốt của Việt Nam trong những năm tới, thì hạ tầng cơ sở chính là sự bảo đảm tất yếu cho tăng trưởng kinh tế, trong đó đặc biệt ưu tiên hạ tầng đường sắt.
Kể từ khi nhậm chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, ông Tô Lâm, đã đẩy mạnh thúc đẩy dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam và ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn kết nối Trung-Việt, và đã đạt được những tiến bộ mang tính biểu tượng trong gian nan:
Tháng 12/2025, dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng, với tổng chiều dài khoảng 390,9 km và tổng vốn đầu tư vượt quá 8,37 tỷ USD, đã khởi công giai đoạn một; công tác nghiên cứu quy hoạch cho hai tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Đồng Đăng - Hà Nội và Móng Cái - Hạ Long - Hải Phòng cũng đang được thúc đẩy đồng bộ trong khuôn khổ hợp tác song phương.
Bước đột phá này chủ yếu bắt nguồn từ yêu cầu cực đoan của các ngành công nghiệp như bán dẫn và điện tử đối với tốc độ phản ứng của chuỗi cung ứng. Vì phần lớn nguyên liệu trung gian, hóa chất then chốt và thiết bị sản xuất cần thiết cho sản xuất chế tạo của Việt Nam hiện nay vẫn phải điều vận từ khu vực Hoa Nam, Trung Quốc, nếu không thể thực hiện kết nối "một đường ray" cùng khổ đường sắt, lợi thế về hiệu quả thời gian chuỗi cung ứng của Việt Nam có thể bị suy yếu đáng kể.
Khác với việc Việt Nam đẩy nhanh thúc đẩy đường sắt xuyên biên giới Trung-Việt chủ yếu dựa trên cân nhắc về hiệu quả kinh tế, dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam của Việt Nam tồn tại những lo ngại chiến lược địa chính trị lớn hơn.
Trong thời gian dài, Việt Nam có xu hướng áp dụng công nghệ Shinkansen của Nhật Bản, logic cốt lõi nằm ở việc dùng cái giá đắt để đổi lấy không gian chiến lược "phi Trung Quốc hóa", đồng thời sử dụng tính dài hạn của ODA Nhật Bản để đối xung rủi ro tài chính.
Tuy nhiên, dự án tàu điện ngầm số 1 TP.HCM do Nhật Bản viện trợ xây dựng liên tục bị hoãn tiến độ, sau khi đưa vào vận hành lại xuất hiện tranh chấp khiếu nại đòi bồi thường từ nhà thầu Nhật Bản và mâu thuẫn về chỉnh sửa kỹ thuật, khiến mức độ tin cậy của Chính phủ và xã hội Việt Nam đối với mô hình hạ tầng Nhật Bản giảm rõ rệt. Nhược điểm về chu kỳ xây dựng quá dài (thường trên 20 năm) của phương án Nhật Bản, trong giai đoạn hiện nay khi Việt Nam đang khẩn trương cần nâng cấp công nghiệp, càng trở nên khó chấp nhận.
Ngược lại, tuyến đường sắt đô thị đầu tiên của Việt Nam do doanh nghiệp Trung Quốc thầu xây dựng, áp dụng tiêu chuẩn kỹ thuật chuỗi công nghiệp toàn diện của Trung Quốc (tuyến Cát Linh - Hà Đông, Hà Nội) đã được xây dựng hiệu quả và đưa vào vận hành; cộng thêm hiệu ứng trình diễn các tàu cao tốc Trung Quốc tại Đông Nam Á (như đường sắt Trung-Lào, đường sắt cao tốc Jakarta-Bandung), khiến phía Việt Nam có cảm nhận trực quan và sâu sắc hơn về thực lực và hiệu quả xây dựng hạ tầng của Trung Quốc. Có thể nói, xét từ góc độ hiệu quả kinh tế, Trung Quốc chắc chắn là đối tác hợp tác tốt nhất của Việt Nam trong việc xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam.
Tuy nhiên, tranh chấp địa chính trị phức tạp ở Biển Đông giữa Trung Quốc và Việt Nam, cùng với những lo ngại trong nội bộ Việt Nam về cái gọi là "rơi vào bẫy nợ Trung Quốc" và "phụ thuộc quá mức vào hạ tầng Trung Quốc", khiến Việt Nam luôn giữ thái độ thận trọng đối với phương án Trung Quốc trong xây dựng các tuyến đường trục cốt lõi.
Là lựa chọn thay thế ngoài doanh nghiệp Trung Quốc và Nhật Bản, Siemens (Đức) cuối cùng đã trở thành nhà cung cấp công nghệ cho đường sắt cao tốc Bắc-Nam, trong khi VinSpeed, công ty con thuộc tập đoàn Vingroup của Việt Nam, đã trở thành đơn vị thi công.
Việc Việt Nam chuyển hướng sang Siemens là kết quả của sự hợp lực giữa ba yếu tố: nhu cầu nội địa hóa công nghệ, cảm giác an toàn địa chính trị và chiến lược cân bằng ngoại giao.
Một mặt, thái độ cởi mở của Siemens có sức hấp dẫn hơn so với việc chuyển giao công nghệ tương đối bảo thủ của Nhật Bản. Tháng 5/2024, Giám đốc điều hành Siemens Mobility gặp gỡ Thủ tướng Việt Nam khi đó là ông Phạm Minh Chính, đã tuyên bố rõ ràng Siemens không chỉ sẵn sàng cung cấp tàu và công nghệ, mà còn sẵn sàng thiết lập trung tâm nghiên cứu phát triển và nhà máy sản xuất tại Việt Nam, đồng thời thực hiện chuyển giao công nghệ chiều sâu.
Mặt khác, đối với Việt Nam, Đức không liên quan đến xung đột địa chính trị và cạnh tranh nước lớn, việc đưa công nghệ châu Âu vào có thể trở thành lực lượng cân bằng hữu hiệu ngoài Trung Quốc và Nhật Bản, phù hợp với nguyên tắc ngoại giao "không chọn bên đứng phe" của Việt Nam.
Nhưng mô hình xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam hiện tại cũng đồng nghĩa với chi phí xây dựng cao hơn, chu kỳ thi công dài hơn (so với phương án Trung Quốc), trình độ kỹ thuật kém ổn định hơn, và khó hình thành mạng lưới vận tải đường sắt phối hợp thống nhất hơn trong lãnh thổ Việt Nam. Nói ngắn gọn, Việt Nam đang đánh đổi một phần hiệu quả kinh tế để đổi lấy cái gọi là "cảm giác an toàn địa chính trị".
3. Thông qua ngoại giao kinh tế có trọng điểm để hóa giải nghịch cảnh cấu trúc
Những nghịch cảnh nêu trên là vấn đề cố hữu gắn liền với giai đoạn phát triển và vị trí địa chính trị mà Việt Nam đang trải qua hiện nay.
Xét từ góc độ giai đoạn phát triển, với tư cách là quốc gia thu nhập trung bình, Việt Nam đang đối mặt với sự áp sát từng bước của "bẫy thu nhập trung bình": lợi tức dân số suy giảm biên, tốc độ tăng chi phí lao động vượt quá tốc độ tăng trưởng của năng suất nhân tố tổng hợp. Nếu các ngành công nghệ cao như bán dẫn không thể nhanh chóng và liên tục tạo ra hiệu ứng lan tỏa, và nền kinh tế không thể duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao liên tục, Việt Nam có thể lặp lại vết xe đổ của một số quốc gia Đông Nam Á: Trước khi bước vào giai đoạn thu nhập cao, đã mất đi lợi thế chế tạo do chi phí tăng lên.
Xét từ góc độ vị trí địa chính trị, Việt Nam nằm ở tuyến đầu của cạnh tranh chiến lược Trung-Mỹ, nên để tránh hại tìm lợi, Việt Nam không thể thể hiện xu hướng thiên vị rõ ràng về bất kỳ phía nào trong các biện pháp chiến lược liên quan.
Để giảm bớt nghịch cảnh nêu trên, kể từ khi bước vào ông Tô Lâm làm Tổng bí thư, Việt Nam đã thường xuyên tiến hành ngoại giao kinh tế, nỗ lực giành lấy thời gian phát triển và chiếm lĩnh không gian phát triển.
Từ năm 2025 đến nay, ông Tô Lâm đã thăm dày đặc Trung Quốc, Mỹ, Nga, Hàn Quốc, cùng các quốc gia châu Âu như Pháp, Anh, Phần Lan... Nhìn vào dấu chân công du của bản thân ông Tô Lâm và các lãnh đạo cấp cao khác của Việt Nam, có thể phát hiện ba đặc điểm sau:
Thứ nhất, mỗi chuyến công du đều mang mục đích kinh tế cực mạnh, tức là xoay chặt quanh các chủ đề như hợp tác bán dẫn và hạ tầng, đồng thời bố trí một lượng lớn quan chức kỹ thuật và lãnh đạo doanh nghiệp Việt Nam cùng đi.
Thứ hai, chủ động đàm phán và giữ thế cân bằng giữa các cường quốc, dưới áp lực cấp bách của khủng hoảng. Điều này có nghĩa là ngoại giao của Việt Nam thời gian gần đây không đơn thuần là đi thăm hỏi ngoại giao, mà là những nước đi có tính toán ("ngoại giao cây tre"), được thúc đẩy bởi sự cấp thiết phải bảo vệ nền kinh tế trước các cú sốc toàn cầu. Việt Nam đang tận dụng vị thế "địa chính trị hiếm có" để vừa hợp tác, vừa cân bằng quan hệ với Mỹ, Trung Quốc và các nước lớn khác, nhằm tranh thủ công nghệ và thị trường mà không bị lệ thuộc vào bên nào.
Đối mặt với áp lực "giảm thiểu rủi ro" của chuỗi cung ứng toàn cầu, những chuyến công du then chốt nhiều lần của ông Tô Lâm nhằm xóa bỏ cảm giác không tin cậy của các nước lớn đối với lập trường của Việt Nam. Đúng như ông nhấn mạnh khi thăm Trung Quốc rằng "Trung Quốc là ưu tiên hàng đầu trong ngoại giao của Việt Nam", và khi thăm Mỹ lại nhấn mạnh "Việt Nam là đối tác thị trường minh bạch", lần lượt đáp ứng những quan tâm cốt lõi của Trung Quốc và Mỹ đối với Việt Nam.
Đáng chú ý là, trong quá trình ông Tô Lâm thăm Mỹ và thăm Trung Quốc lần lượt vào tháng 2 và tháng 4/2026, sự khác biệt giữa Bản ghi nhớ hợp tác khoa học công nghệ Mỹ-Việt được ký tại Mỹ và Tuyên bố chung Trung-Việt về tăng cường quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện được ký tại Trung Quốc, đã trở thành bức chân dung chân thực của "ngoại giao cây tre" Việt Nam:
Văn kiện trước nhằm đổi lấy "phần giá trị gia tăng". Ông Tô Lâm cố gắng tận dụng tính khan hiếm địa chính trị của Việt Nam để đòi hỏi Mỹ về lợi tức công nghệ và đặc quyền thị trường, hy vọng thông qua văn kiện này thực hiện nâng cấp vượt bậc cho ngành công nghiệp, tránh rơi vào vị trí nhà máy gia công cấp thấp vĩnh viễn;
Văn kiện sau nhằm đối xung "lo âu". Sau khi có được cam kết từ phía Mỹ, ông Tô Lâm quay lại tìm kiếm sự đối xung chi phí và cân bằng rủi ro. Đó là vì đối với Việt Nam, nếu không có tốc độ xây dựng hạ tầng, điện lực chi phí thấp và nguyên liệu đa chủng loại từ Trung Quốc, tầm nhìn công nghệ mà Việt Nam đạt được với Mỹ sẽ chỉ là lâu đài trên cát.
Thứ ba, nhấn mạnh ưu tiên chủ quyền công nghệ. Ông Tô Lâm đã nhiều lần đưa ra yêu cầu chuyển giao công nghệ trong các chuyến thăm, phản ánh khát vọng mãnh liệt của ông trong việc tận dụng lợi thế địa lý của Việt Nam để chuyển đổi từ nhà máy gia công thuần túy sang đối tác cùng nghiên cứu phát triển.
Đặc biệt là chuyến thăm Hàn Quốc của ông Tô Lâm vào tháng 8/2025. Trong chuyến thăm này, ông đã thuyết phục Hàn Quốc đồng ý mở rộng chức năng của trung tâm nghiên cứu phát triển Samsung tại Hà Nội từ phần mềm thiết bị đầu cuối di động hiện tại sang thiết kế mạch bán dẫn và quy trình đóng gói tiên tiến, đồng thời chuyển giao một phần công nghệ quy trình thiết kế của các quy trình trưởng thành (sử dụng và xác thực công cụ EDA) cho Việt Nam trong vòng ba năm. Ông cũng thúc đẩy Samsung Electronics ký kết thỏa thuận hợp tác với Đại học Quốc gia Hà Nội, thông qua mô hình "đào tạo theo đơn đặt hàng", phía Hàn Quốc cung cấp giáo trình, thiết bị thí nghiệm và kỹ sư cấp cao, trực tiếp đào tạo tại Việt Nam những kỹ sư có khả năng tham gia vào thiết kế trung-cao cấp. Những kế hoạch hợp tác này lần lượt đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của Việt Nam trong phát triển ngành bán dẫn.
4. Lời kết
Năm 2026, Việt Nam đang đứng tại ngã rẽ then chốt trong tiến trình hiện đại hóa quốc gia. Cùng với những đột phá ban đầu trong nội địa hóa ngành bán dẫn, việc phương án đường sắt cao tốc Bắc-Nam cuối cùng cũng được định đoạt sau gian nan, và thực tiễn chiều sâu của "ngoại giao cây tre" trong thời đại tăng tốc hiện nay, tiềm năng của Việt Nam với tư cách là trung tâm mới nổi của chuỗi cung ứng sản xuất toàn cầu ngày càng nổi bật.
Tuy nhiên, đằng sau sự phồn vinh của các dữ liệu vĩ mô, Việt Nam đang chìm sâu trong lo âu chuyển đổi cấu trúc và lo âu đuổi kịp: một mặt là sự kìm kẹp nội tại của "bẫy thu nhập trung bình" và sự thiếu hụt chủ quyền công nghệ; mặt khác là nghịch cảnh bên ngoài khi không gian tự chủ chiến lược bị chèn ép trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn ngày càng gia tăng. Sự lo âu đuổi kịp này đã định sẵn rằng, trong một khoảng thời gian khá dài, Việt Nam vẫn sẽ ở trong "giai đoạn đột phá chiến lược" với nhiều bất an.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét