Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2026

Tàu cao tốc Trung Quốc: Bài toán văn minh công cộng

Tàu cao tốc Trung Quốc: Kỳ tích hạ tầng và bài toán văn minh công cộng
Mình đọc báo mạng Trung Quốc thấy bài viết dưới đây của tác giả Tào Dũng kể về những nỗi khổ của ông trong những chuyến đi xa trên tàu cao tốc, đặc biệt là những nghịch cảnh của ghế hạng nhất: Tiền nhiều mà lợi ích thì chẳng bao nhiêu. Tác giả là một nam giới trung niên, có học thức, làm việc trong lĩnh vực nghiên cứu/chính sách hoặc tư vấn doanh nghiệp, và là người có tính cách thẳng thắn, cầu toàn.

Rõ ràng tàu cao tốc là một kỳ tích hạ tầng của Trung Quốc: tốc độ, mạng lưới, độ an toàn đều thuộc hàng đầu thế giới. Nhưng “phần mềm”, tức là ý thức hành khách, thiết kế dịch vụ phân tầng, cơ chế xử lý vi phạm, và văn hóa không gian chung... vẫn đang trong giai đoạn hoàn thiện. So với các nước văn minh, sự khác biệt không nằm ở tốc độ hay độ sạch của tàu, mà ở kỷ luật tập thể và sự tôn trọng ranh giới cá nhân trong không gian chung. Những điều tác giả viết ra đã vạch rõ một hướng phát triển tất yếu: khi hạ tầng đã đạt tầm thế giới, bước tiếp theo chính là nâng tầm “văn hóa tàu cao tốc”.

Tôi không hiểu tại sao đường sắt Trung Quốc lại tệ thế, tôi đã 8 lần đi-về đường sắt Trung Quốc, nhưng toàn toa hạng thường, nên không chú ý có tệ đến vậy không. Hoặc có thể có nhưng bây giờ tôi cũng quên mất. Trung Quốc bây giờ có rất nhiều camera giám sát và phạt cũng khá nặng, nhưng người dân vẫn không biết sợ à ? 

Có ý kiến cho rằng Trung Quốc là một xã hội chủ yếu dựa vào sản xuất công nghiệp và nông nghiệp; lao động chân tay tạo ra một lượng lớn mùi hôi người và tiếng ồn của máy móc; khác với ở các nước giầu có họ chủ yếu sản xuất dịch vụ. Do đó, người dân Trung Quốc có khả năng chịu đựng cao đối với những mùi hôi và tiếng ồn. Vậy Việt Nam có giống thế không ?

Việt Nam và Trung Quốc đang đẩy mạnh hợp tác quy hoạch các tuyến kết nối như Hà Nội – Đồng Đăng, Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng. Dự án ĐSCT Bắc – Nam dự kiến khởi công cuối năm 2026 và hoàn thành vào 2035 chắc cũng sẽ có sự tham gia của Trung Quốc. Trong bối cảnh đó, việc học hỏi kinh nghiệm Trung Quốc là cần thiết, nhưng cần có sự chọn lọc và thích ứng.

Một số bài học then chốt cho Việt Nam từ mô hình ĐSCT Trung Quốc

Một là hạ tầng "cứng" phải đi đôi với phần mềm quản lý. Trung Quốc đã chứng minh năng lực xây dựng thần tốc, nhưng ga tàu lộn xộn, hành khách hút thuốc tràn lan, tiếng ồn không được kiểm soát là những điểm yếu về "phần mềm". Bài học cho VN là thiết kế ngay từ đầu các toa tàu yên tĩnh (quiet car), toa gia đình (family car), quy định rõ giới hạn âm lượng thiết bị cá nhân. Xây dựng bộ quy tắc ứng xử hành khách đường sắt, có chế tài xử phạt rõ ràng (phạt tiền, cảnh cáo, cấm đi tàu). Đào tạo nhân viên kiểm soát không chỉ về kỹ thuật, mà cả về kỹ năng xử lý tình huống xã hội.

Hai là giá vé và khả năng tiếp cận: Cần cân bằng giữa thương mại và an sinh. Giá vé ĐSCT Trung Quốc ở một số tuyến cao hơn vé máy bay, tạo rào cản với lao động thu nhập thấp. Việt Nam nên thiết kế nhiều phân khúc giá: vé thường, vé sinh viên/lao động, vé đặt sớm, vé nhóm, đồng thời có cơ chế trợ giá có mục tiêu cho các tuyến phục vụ vùng sâu, vùng xa (nhưng phải minh bạch nguồn bù đắp).

Ba là cần kết nối đa phương thức. Ga tàu phải là trung tâm chuyển tiếp, không phải điểm chết. Một điểm yếu trong trải nghiệm của tác giả là ga Tự Cống cách trung tâm 1 tiếng di chuyển, làm giảm giá trị thời gian tiết kiệm được của ĐSCT. Việt Nam cần quy hoạch ga ĐSCT phải gắn liền với trung tâm chuyển tiếp đa phương thức: xe buýt, taxi, xe máy điện, đường sắt đô thị. Đặc biệt phải ưu tiên phát triển TOD (Transit-Oriented Development) và khai thác quỹ đất quanh ga để tạo nguồn thu bù đắp đầu tư. Thiết kế lối đi bộ, bãi đỗ xe, khu dịch vụ trong bán kính 500m từ ga để tối đa hóa tiện ích.

Dưới đây là bài viết của tác giả Tào Dũng.

22-4-2026 - Trong 10 ngày gần đây, tôi đã “di chuyển quy mô lớn” bằng ghế hạng nhất tàu cao tốc. Thế nhưng, trải nghiệm n
gày 11 tháng 4 năm 2026 thực sự là một chuyến đi khổ sở.

Tôi xuất phát từ ghế hạng nhất tàu cao tốc ở Bắc Kinh đi Hán Trung, vốn định đi thẳng đến Tự Cống (Tứ Xuyên), nhưng tàu cao tốc mất hơn 10 tiếng, còn tôi lại là kẻ “khó dậy”, sáng dậy không nổi. Từ nơi ở gần ga tàu điện ngầm vòng 2 đến ga Tây Bắc Kinh mất khoảng một tiếng, sáng tôi còn phải ăn sáng, nên đành chọn chuyến khởi hành buổi trưa. Nhưng nếu đi chuyến trưa, đến Tự Cống đã 9, 10 giờ tối, tôi thấy quá muộn. Ga Tự Cống cũng “bất tiện khủng khiếp”, cách trung tâm thành phố gần một tiếng đi xe buýt, đi xe hơi cũng nhanh hơn chẳng đáng là bao, đến nơi sẽ rất trễ giấc. Vì vậy, tôi chia hành trình thành hai chặng: Bắc Kinh đến Hán Trung, rồi Hán Trung đến Tự Cống.

Hán Trung là nơi tôi đã muốn đến từ lâu, bởi đây là thành phố lịch sử văn hóa nổi tiếng. Hán Trung gọi tắt là “Hán”, thuộc tỉnh Thiểm Tây, nhưng thực tế nằm trong khu vực địa lý Tứ Xuyên, văn hóa lịch sử cũng thuộc phạm trù văn hóa Ba Thục, chỉ là về mặt hành chính bị phân về Thiểm Tây. Về chuyến đi Hán Trung, tôi sẽ ghi chép chi tiết trong bài “Du lịch văn hóa tàu cao tốc: Bất ngờ thú vị”.

Tối hôm trước ngày khởi hành, do sự cố nên tôi thức trắng đêm, đành đổi vé chuyến trưa sang chuyến sáng, định ngủ bù trên tàu. Kết quả, phát hiện bất ngờ là vé chuyến sáng vẫn còn dư, không thu phí đổi vé.

Bắt đầu hành trình khổ sở trên tàu cao tốc...

Đúng vậy, ngay trên đường đi Hán Trung, chuyến “khổ lữ” (lữ hành khổ sở) đã mở màn...

Lúc khởi hành từ ga Tây Bắc Kinh, tôi ngồi ghế A hàng cuối. Bất ngờ, một gã đàn ông mặc đồ đen, dáng vẻ bóng nhờn từ khoang ghế phổ thông chạy sang khoang hạng nhất, ngồi “ké” ghế C đối diện tôi. Nhân viên soát vé đến bảo ông ta về khoang ghế phổ thông, ông ta nói chỉ đến Hình Đài, một lát nữa là xuống, nhưng nhân viên vẫn kiên quyết đuổi. Ông ta nhất quyết không nhúc nhích, bảo “chút nữa đi”. Nhân viên đi xong, ông ta ngồi lì nguyên cả một chặng, đến Thạch Gia Trang mới rời đi.

Sau đó nhân viên tàu kể với tôi, chuyện người ta “ké” ghế là thường xuyên; quả đúng vậy, sau đó tôi còn gặp hai cô gái cũng đến ké, bị nhân viên yêu cầu chuyển đi.

Khi gã đàn ông bóng nhờn ngồi đối diện, dù cách nhau lối đi, tôi vẫn ngửi thấy một mùi khó chịu, mãi đến khi hắn rời đi mùi mới tan.

Nhưng họa vô đơn chí, nhà dột lại gặp mưa đêm.

Gã bóng nhờn thì đã đi, nhưng ngay giữa khoang tàu có một đứa trẻ rất nhỏ, hình như chưa biết đi, được một cặp mẹ con trung niên dắt theo. Nhưng cháu bé khóc réo suốt dọc đường; đành chịu, trẻ con thì chỉ có thể nhẫn nại thôi, đúng không? Cứ thế, không tài nào ngủ được. Ban đầu, họ ngồi giữa khoang, nhưng vì đối diện họ có 4 khách nước ngoài, chắc sợ làm phiền “người ngoại quốc”, nên họ dắt cháu ra phía sau, ngồi ngay chỗ gã bóng nhờn vừa rời. Thế là xong, tiếng khóc réo kéo dài đến tận ga Tây Bắc Kinh, trạm trước Hán Trung, họ mới xuống. Tôi thực sự quá khổ, bảy tiếng đồng hồ trên tàu, vừa phải chịu mùi khó chịu, vừa phải nghe tiếng khóc, thật đau đớn...

Tham quan Bảo tàng Hán Trung

Tôi ở lại Hán Trung một đêm, sáng hôm sau đi tham quan Bảo tàng Hán Trung, rồi 2 giờ chiều lên tàu đi Tự Cống, 4 tiếng ghế hạng nhất. Chậc, lên tàu lại gặp một bà cụ (có lẽ là bà nội hoặc bà ngoại) dắt theo một em bé sơ sinh, cũng khóc réo dọc đường. Khi không khóc nữa, bà cụ lại mở điện thoại phát video bài hát thiếu nhi, vừa hát theo nhịp điệu ru cháu. Thế là họ xuống ở ga Nội Giang Bắc, trạm trước Tự Cống. Ái chà, hết nói, gần như cả chặng đường đều ồn ào, khổ sở vô cùng.

Chuyện tôi đi ghế hạng nhất bắt đầu từ trước đại dịch. Hồi đó, một năm tôi dành nửa thời gian ở Giang Tô, do làm giảng viên tại Trung tâm Đào tạo Nhân tài Khởi nghiệp Sáng tạo của Ban Tổ chức Tỉnh ủy Giang Tô, và được mời làm cố vấn cho các doanh nhân tham gia khóa đào tạo, nên tôi có công ty hợp tác ở Nam Kinh. Vì vậy, mỗi tháng tôi đi đi lại lại giữa Bắc Kinh và Nam Kinh. Sau đại dịch thì ngừng, cộng thêm kinh tế suy thoái, doanh nghiệp Nam Kinh làm ăn sa sút nên chấm dứt hợp tác.

Khi đi lại giữa hai nơi, ban đầu tôi đi tàu cao tốc nhiều, đi mãi mới thấy trải nghiệm tệ hơn máy bay: ga tàu lộn xộn, trên tàu cũng không yên tĩnh. Có lần trên đường đi Nam Kinh, lên tàu khoảng năm sáu vị giáo sư đại học ngồi đối diện, nhưng cả đường nói chuyện ồn ào; những tri thức này nếu đi một mình chắc chắn rất điềm tĩnh, nho nhã phong lưu. Nhưng đông người là chẳng màng đến kẻ khác, tụ tập gây ồn. 

Có lần, còn gặp một ông già hơn sáu mươi, dáng vẻ như giáo sư, ông ta vắt áo len lên tay vịn giữa hai ghế. Tôi thắc mắc sao không để sang một bên? Ghế tôi sát cửa sổ, ông ta sát lối đi. Kết quả, cả đường tay gác lên áo len rất khó chịu, nhưng tôi ngại bảo ông ta cất đi, khổ nỗi hơi thở ông ta còn có mùi hôi. Đi máy bay hầu như không ngửi thấy mùi của người bên cạnh hay mùi đồ ăn, vì hệ thống điều hòa trên máy bay hút khí tại chỗ và cấp khí mới. Hơn nữa, cảnh tượng từ mặt đất lên không trung trên máy bay còn đẹp hơn tàu cao tốc, không chỉ vì tiếp viên hàng không xinh hơn nhân viên tàu...

Vì vậy, sau đó tôi chuyển sang bay khứ hồi giữa Bắc Kinh và Nam Kinh mỗi tháng.

Bắc Kinh – Nam Kinh dù sao cũng cự ly ngắn. Chuyến tàu cao tốc đường dài của tôi thế này: vài năm trước từ Thành Đô về Bắc Kinh, chiều đi từng đi giường mềm từ Bắc Kinh đến Thành Đô, khổ sở chết người. Chỉ có tôi là đi trọn chặng, người khác đều lên xuống nửa chặng, cả đường tiếng ngáy khuấy động không tài nào ngủ, từ đó không bao giờ đi giường nằm nữa, giường cứng thì từ lâu đã bỏ.

Tuy vậy, nhắc đến giường cứng, tôi xin kể lại một chuyện “khó ngửi” hồi những năm 90 khi tôi học ở Bắc Kinh, mỗi kỳ nghỉ đông hè đi lại giữa Tự Cống và Bắc Kinh bằng giường cứng. Có lần nghỉ hè kết thúc, tôi về Bắc Kinh, vì ga Tự Cống chỉ mua được vé ghế cứng đi Bắc Kinh, không mua được vé giường cứng từ Thành Đô đi Bắc Kinh. Mà nhà cô tôi đều làm trong ngành đường sắt Thành Đô; cô tôi thời trẻ rất xinh, từng làm trưởng tàu trên chuyến tàu tốc hành Bắc Kinh – Thành Đô, chú tôi là điều độ đầu máy của phân cục đường sắt, tốt nghiệp trường lái tàu Cát Lâm, từng làm lái tàu. 

Tôi đưa vé ghế cứng tàu nhanh cho em họ nhờ người đặt giúp một vé giường cứng, tàu nhanh đến Bắc Kinh mất hơn 30 tiếng. Nhưng em tôi vì tốt bụng, đã đổi đặt cho tôi vé giường cứng tàu tốc hành Bắc Kinh – Thành Đô, 24 tiếng đến Bắc Kinh, phần chênh lệch giữa tàu tốc hành và tàu nhanh là do em tôi bỏ tiền ra. Kết quả lại “hại” tôi, tại sao? Tàu nhanh không có điều hòa, nên dọc đường có thể mở cửa sổ, không khí thoáng. Còn tàu tốc hành có điều hòa, cửa sổ đóng kín, nhưng mùi hôi chân, mùi thuốc lá trong toa tàu khiến tôi khó chịu không tài nào ngủ được...

Giường mềm tôi chỉ đi hai lần, một lần từ Hohhot về Bắc Kinh ngủ trưa, thấy khá thoải mái, nên lần trước từ Bắc Kinh đi Thành Đô tôi mới chọn giường mềm.

Tàu cao tốc Thành Đô – Bắc Kinh tôi đi hai lần, lần đầu đi ghế phổ thông, không thoải mái. Anh thanh niên bên cạnh người cao, chân dài, nên duỗi chân rất dài, lấn sang phía tôi. Tôi rất khó chịu, nhưng vì đã nói chuyện với anh ta, phát hiện ra kiểu “chém người quen”, quen rồi là không kiêng nể gì, tôi cũng ngại nói. Vì vậy, sau này đi đường dài tôi chuyển sang ghế hạng nhất.

Năm ngoái tôi từ Thành Đô về Bắc Kinh, đi trọn chặng ghế hạng nhất, lúc đó chưa gặp trẻ con ồn ào, thấy rất thoải mái. Điều duy nhất không hài lòng là người bên cạnh ăn xong suất cơm trên tàu, cứ để đó không vứt, để nửa ngày tỏa ra “mùi hôi”. Tôi liếc vài lần, thấy để lâu rồi, cũng không hiểu anh ta định làm gì.

Bỏ máy bay chuyển tàu hỏa, thuận theo dòng chảy?

Tóm lại, chỉ vì có một kỷ niệm đẹp về tàu cao tốc đường dài, nên lần này tôi chọn tàu cao tốc ghế hạng nhất về Tứ Xuyên. Vì vé máy bay hạng phổ thông nâng hạng cũng phải hơn một ngàn mấy trăm tệ, tàu cao tốc Bắc Kinh – Tự Cống ghế hạng nhất qua Thành Đô là 1400 tệ, qua Trùng Khánh là 1500 tệ, nhưng tàu cao tốc lên xe ngay trong thành phố, không như máy bay phải ra sân bay, vào sân bay lại lỉnh kỉnh.

Ngoài ra, những năm gần đây vấn đề an toàn hàng không khá nổi cộm, ngoài vụ Đông Hàng, tôi còn xem một tài liệu, nghiên cứu có thẩm quyền chỉ ra mức độ an toàn của máy bay chỉ tương đương xe máy, có bất ngờ không? Cái gọi “máy bay là phương tiện an toàn nhất” hoàn toàn là lời bịa đặt của ngành hàng không, mục đích là dụ người ta chọn máy bay. Tôi đi máy bay chỉ chọn chuyến từ 12 giờ trưa đến 6 giờ chiều, khung giờ này phi công, tiếp viên đều ngủ đủ giấc, tinh thần tương đối sung mãn, hệ số an toàn cao nhất.

Trước đây tôi từng xem nguyên nhân vụ tai nạn chuyến bay Pháp cất cánh lúc 8 giờ sáng, là do cơ trưởng đêm trước thức khuya đi sinh nhật với nhân tình, chỉ ngủ 2 tiếng. Máy bay cất cánh xong, ông ta giao quyền lái cho cơ phó rồi vào khoang nghỉ ngủ. Cơ phó là cựu phi công chuyển sang làm hành chính, bình thường không bay. Nhưng để giữ giấy phép lái, mỗi năm vẫn phải bay đủ giờ nhất định. Mà kinh nghiệm trên loại máy bay này của ông ta chỉ vài chục giờ, còn cơ phó nữa là kỹ sư cơ khí trên không chuyển sang lái, kinh nghiệm trên mẫu máy bay này chỉ hơn 20 giờ. Do thời tiết cực kỳ lạnh giá làm hỏng một đầu dò, đồng hồ không hiển thị trạng thái bay nào đó, kết quả hai người phán đoán sai trạng thái bay dẫn đến thao tác sai, đợi cơ trưởng bị chuông báo thức tỉnh, chạy về buồng lái, vừa cầm lấy cần điều khiển, máy bay đã đâm xuống đất. Sau đó Hãng hàng không Pháp phải mua lô đầu dò đắt tiền hơn thay thế đầu dò “kém chất lượng” trước...

Cơ trưởng Trung Quốc chẳng lẽ không nuôi nhân tình rồi thường xuyên thức khuya sao?

Còn tiếp viên bay chuyến sáng phải chuẩn bị trước 3-4 tiếng, ví dụ cất cánh lúc 7 giờ sáng, thì 2-3 giờ đêm đã phải dậy rửa mặt trang điểm, đến công ty điểm danh, họp, ăn sáng, lên tàu chuẩn bị công việc. Mà 2-3 giờ dậy thì trước đó nhiều người không ngủ được, hoặc sợ ngủ quên. Tôi không ít lần biết qua WeChat v.v. rằng nhiều tiếp viên bay chuyến sáng hầu như không ngủ. Các bạn nghĩ xem, tiếp viên mà thức trắng đêm, lên máy bay gặp tình huống khẩn cấp có thể do thiếu năng lượng dẫn đến thao tác sai không?

Đừng dọa tôi, phi công lại mang mệt mỏi lái máy bay?!

Tệ hơn nữa, gần đây tôi đọc một bài viết, khiến tôi vô cùng kinh ngạc!

Năm 2025, tạp chí “Vận tải Tổng hợp” đăng bài của Bùi Bối, Đặng Soái, Đặng Lệ Phương, điều tra tình trạng mệt mỏi của 315 phi công tuyến đầu thuộc 8 hãng hàng không trong nước (Nam Hàng, Quốc Hàng, Đông Hàng, Hạ Hàng, Cát Tường, Trung Hàng Hóa, Bưu Chính Hàng Không, Thuận Phong Hàng Không).

Kết luận như sau: 78,10% phi công ở trạng thái mệt mỏi. 24,76% phi công ở trạng thái “kiệt sức hoàn toàn, không thể vận hành hiệu quả”. Nói cách khác, trong 4 phi công đang lái máy bay, có 1 người đạt mức mệt mỏi cao nhất theo thang đo.

(“Kiệt sức hoàn toàn” không phải do tôi nói, mà là mô tả chính thức cấp 7 trong Thang đo mệt mỏi Samn-Perelli, thang đo này thiết kế riêng cho phi hành đoàn.)

...... Bài viết đó nói: “Là hành khách, bạn có thể làm gì?” “Thành thật mà nói, bạn hầu như không kiểm soát được chuyện gì xảy ra trong buồng lái. Nhưng bạn có quyền biết con số này tồn tại. Nếu bạn là khách công tác thường xuyên, lần sau chọn chuyến bay đừng quên chú ý đến ‘chuyến bay mắt đỏ’. Nghiên cứu nêu rõ, chuyến bay "đêm đi đêm về" là rủi ro mệt mỏi cực cao với phi công. Không phải kêu bạn không đi máy bay, mà là đừng giả vờ rủi ro không tồn tại.”

Nhắc đến chuyến bay mắt đỏ, nhiều năm trước tôi vào một nhóm WeChat, khi trò chuyện về đi máy bay, một bà chuyên mua hộ đồ nhanh nhảu dặn đi dặn lại đừng đi chuyến mắt đỏ. Tôi chưa bao giờ đi chuyến mắt đỏ, trước đây hiếm khi đi chuyến tối hay sáng.

Tóm lại, việc tôi chọn chuyến bay buổi chiều có vẻ sáng suốt, sau này vẫn sẽ như vậy, đặc biệt sau chuyến tàu cao tốc khổ sở này, sau này đi đường dài vẫn phải đi máy bay.

Chuyến về cũng vô cùng bực bội

Chuyến về cũng vậy, tôi từ Tự Cống đi Thành Đô, rồi đến Hán Trung, vì tàu trực tiếp Tự Cống – Hán Trung là chuyến sáng 7-8 giờ, tôi không đi được. Vì suất cơm 50 tệ trên tàu đa số rất tệ, tôi đành ăn trưa xong, đi đến Thành Đô rồi mới lên Hán Trung. Đặt vé thấy không kín chỗ, nên đi 1 tiếng ghế phổ thông đến Thành Đô — sau đại dịch đi lại ít, hơn 1 vạn điểm tích phân gần hết hạn. Mà giờ đổi vé đều thu phí, quan trọng là từ Bắc Kinh đi tôi đã đổi vé, mất gần 100 tệ phí đổi, phí hủy vé cũng tương đương. Và dù đổi vé đến 8 ngày sau, hủy vẫn thu phí y chang.

Suốt đường mua vé, hủy vé, đổi vé, phí hủy/đổi “chảy máu” không ít...

Lần này vì dọc đường khó đặt vé giờ hợp lý, Hán Trung – Bắc Kinh chỉ có 2 chuyến trực tiếp, đều đến Bắc Kinh rất muộn, tôi đành đi Hán Trung đến Hạc Bích, kết quả ở lại mấy ngày, nên tổng cộng đi về Bắc Kinh – Tự Cống đổi/hủy vé nhiều lần, ước tính mất 2-3 trăm tệ. Sau này tôi rút kinh nghiệm, chỉ mua vé ghế phổ thông một chặng, nhưng không ít lần gặp chặng tiếp theo chỉ còn vé đứng, đành hủy mua lại...

Trên tàu ghế phổ thông Tự Cống – Thành Đô, đối diện tôi là một cặp vợ chồng trung niên, người phụ nữ cởi giày, đặt chân lên bàn nhỏ, ghê tởm thật.

Rồi thì, trên tàu ghế hạng nhất Thành Đô – Hán Trung, hai ghế phía sau là hai mẹ con, đứa trẻ khá lớn, chừng 10 tuổi. Nhưng cháu liên tục mở loa điện thoại, dù âm lượng nhỏ nhưng không ngừng. Tôi vài lần định bảo cháu tắt, nhưng lại nhịn. Vì âm lượng nhỏ, tôi nghĩ thôi, bao dung đi, vì mẹ cháu cũng không quản. Mà nhiều lúc bạn nói, cháu lại không vui, thậm chí cố tình nghịch. Tôi đang ngủ trưa, đột nhiên cháu đạp mạnh phía sau, làm tôi tỉnh giấc. Sau tôi thấy cháu nằm nghiêng, hai chân gác lung tung lên bệ cửa sổ và lưng ghế, nhưng tôi vẫn không nói gì, nhịn! Gia đình ba người cháu, ban đầu bố ngồi ghế phổ thông, sau đoàn tụ ở ghế hạng nhất. Họ cũng xuống trạm trước Hán Trung, “đồng hành” cùng tôi gần hết chặng.

Đồng thời, lại gặp người ngồi cạnh là gã trung niên mặc đồ đen bóng nhờn, hơi thở có mùi. Hắn cầm điện thoại khá xa; viễn thị? Liên tục xoay hướng, lúc quay ra lối đi, lúc quay ra cửa sổ, mà tôi ngồi sát cửa sổ. Khi hắn quay ra cửa sổ, mùi dầu mỡ, mùi thuốc lá từ hơi thở khiến tôi khó chịu, đành đeo khẩu trang N95, vậy mà vẫn không lọc hết...

Ở lại Hán Trung, tôi lại đi tham quan Hưng Hán Thánh Cảnh, một điểm lịch sử tôn vinh văn hóa Hán. Về nơi này vẫn sẽ kể trong “Du lịch văn hóa tàu cao tốc: Bất ngờ thú vị”.

Hưng Hán Thánh Cảnh là khu du lịch cấp 5A quốc gia nằm ở khu Hưng Hán mới, quận Hán Đài, thành phố Hán Trung, tỉnh Thiểm Tây.

Nhưng từ Hán Trung lên tàu ghế hạng nhất đi Hạc Bích, lại “vui mừng” gặp gã “điện thoại” — anh này ngồi hàng sau bên kia sát cửa sổ, tôi ngồi hàng trước bên này sát cửa sổ. Từ lúc tàu chạy đến khi tôi xuống, gã điện thoại liên tục gọi nói lớn tiếng, cô gái ngồi trước đã quay lại nhìn hắn một cái, hắn giảm giọng một chút, nhưng lát sau lại to như cũ. Tôi vài lần định “can thiệp”, nhưng thấy mọi người đều im lặng, tôi cũng thôi. Đến nửa sau hắn mệt, giọng mới nhỏ lại — tôi lạ là nếu nói nhỏ được, sao lúc đầu không làm vậy? Nội dung cuộc gọi: một là bàn công việc với đồng nghiệp đơn vị, hắn làm kỹ thuật... hai là bàn mua xe BMW... ba là hẹn bạn ăn lẩu nướng xiên...

Nói thật, bạn không biết hắn khó chịu thế nào, ồn ào thế nào, ngang ngược thế nào...

Từ Hán Trung về, tôi đến Hạc Bích, Hạc Bích được mệnh danh là nơi khởi nguồn Kinh Thi Trung Quốc, trong Kinh Thi có hơn 30 bài viết về sông Kỳ Hà ở Hạc Bích, vì vậy sông Kỳ Hà được Hiệp hội Thi ca Trung Quốc đặt tên là “Sông Thơ”, độc nhất vô nhị toàn quốc. Cùng lúc đó, Hạc Bích còn xây dựng Vườn Thơ Kỳ Hà ở bờ đông sông Kỳ Hà, dài hơn 2500 mét, tập trung hàng ngàn bài thơ các đời khắc trên hành lang, tôi cũng từng đến chiêm ngưỡng.

Vườn Thơ Kỳ Thủy là khu du lịch sinh thái văn hóa đầu tiên trong nước lấy Kinh Thi làm chủ đề, nằm ở bờ đông sông Kỳ Hà, quận Kỳ Tân, thành phố Hạc Bích, tỉnh Hà Nam.

Những năm 80, 90 thế kỷ trước, khi tôi chuyên ngành Ngôn ngữ Văn học Trung Quốc (thực chất là Hán Ngữ Văn học), học Văn học Cổ đại, Văn học Tiên Tần là phần mở đầu, Kinh Thi và Sở Từ là hai trọng điểm. Kinh Thi và Sở Từ được tôn là hai cột mốc trong lịch sử văn học Trung Quốc, nhưng lúc đó hình như tôi không mấy ấn tượng với Hạc Bích, một trong những nơi khởi nguồn Kinh Thi, thành phố nhỏ Hạc Bích lúc ấy chỉ nổi tiếng vì than.

Hôm đó, khi tôi đi dạo ở quảng trường ga Đông Hạc Bích, đột nhiên thấy biển quảng cáo “Cố hương Kinh Thi”, lập tức tra Baidu mới phát hiện mối duyên khó tả giữa sông Kỳ Hà Hạc Bích và Kinh Thi, liền quyết định gia hạn phòng, ở lại tham quan Vườn Thơ Kỳ Hà...

Các địa điểm dọc tuyến Kinh Quảng như Hàm Đan, An Dương, đều là thành phố lịch sử văn hóa, đều có mối liên hệ sâu sắc với văn hóa Hán, sau này tôi còn muốn đến tìm hiểu thêm.

Trên tàu ghế phổ thông Hạc Bích – Bắc Kinh không kín chỗ, nhưng hai hàng đầu có hai gã mặc đồ đen cãi nhau ồn ào suốt đường, họ ngồi hai bên lối đi hàng đầu, tôi ngồi hàng thứ ba bên phải sát cửa sổ. Nhưng họ nói chuyện lớn tiếng, ngang ngược, tiếng ồn vượt cả gã điện thoại ghế hạng nhất trước đó, đến tận khi xuống Bắc Kinh mới thôi.

Vì họ ồn, cộng thêm “từ kiệm sang sang dễ, từ sang về kiệm khó”, quen ngồi ghế hạng nhất, ngồi ghế phổ thông không tài nào ngủ trưa được, ghế cũng không thoải mái, giống như ngồi hạng phổ thông máy bay vậy, hahaha. Sau này đi tàu cao tốc muốn ngủ tuyệt đối không mua ghế phổ thông...

Tàu cao tốc hiện nay còn một vấn đề, nhiều năm trước, ngành đường sắt để chiều lòng người hút thuốc, đã thiết lập một số điểm hút thuốc tại các ga dừng dọc tuyến, mỗi khi tàu dừng, người hút thuốc có thể tụ tập hút “mây khói”. Các hành khách khác cũng có thể đi dạo trên sân ga, đặc biệt tàu đường dài, bạn nhất định phải xuống đi lại, nếu thời gian dừng hơi dài, không ngồi yên trong khoang sẽ không chịu nổi.

Trước đây, tại điểm hút thuốc trên sân ga tàu cao tốc, người hút thuốc đều tập trung quanh đó hút.

Nhưng giờ không được nữa, mấy tay nghiện thuốc này chẳng tuân thủ quy tắc gì, họ không hút quanh điểm hút thuốc, mà hút khắp sân ga. Cứ lên ga là hút bất cứ chỗ nào, nên bạn không thể ra sân ga, ra là bị khói xông vào người.

Giờ mấy tay nghiện thuốc chẳng thèm giữ luật, hút tùy tiện trên sân ga, vì sợ bị phát hiện, tôi chỉ lén chụp được bức ảnh này...

Nhà vệ sinh ga tàu cao tốc cấm hút thuốc, quy định này thống nhất toàn quốc, nhưng hầu như ga nào cũng có người lén hút trong đó, còn ga Hán Trung thì “cực đỉnh” toàn quốc: Hai nhà vệ sinh tầng 2 ga Hán Trung, vừa vào là mùi khói nồng nặc khiến ngạt thở. Vì vậy trước khi lên tàu, tôi đều nhịn chờ lên tàu mới giải quyết, thực sự không chịu nổi mấy tay nghiện thuốc này, đáng ghét vô cùng!

Còn đi máy bay, dù ở sân bay này hay nơi khác, đặc biệt trên máy bay tuyệt đối không có chuyện này, không khí trên máy bay quả thực vô song.

Tính đến nay, tất cả các loại ghế trên tàu hỏa (cao tốc, động lực, trực tiếp, tốc hành, phổ thông), ghế cứng, ghế mềm, giường cứng, giường mềm, ghế thương vụ, ghế đặc đẳng (hạng sang), ghế hạng nhất, ghế phổ thông và vé đứng..., trừ phòng giường mềm khép kín, tôi đều đã ngồi qua, một số như ghế đặc đẳng, giường cứng/mềm sẽ không ngồi nữa, trừ chặng ngắn (không tính ghế đặc đẳng).


Chuyến đi vừa qua như một lát cắt chân thực về hệ thống đường sắt cao tốc Trung Quốc: hạ tầng “cứng” đã vươn tới đẳng cấp thế giới về tốc độ và quy mô, nhưng “phần mềm” quản lý và văn hóa không gian công cộng vẫn chưa theo kịp. Ghế hạng nhất dù rộng rãi, cũng khó xóa nhòa những bất cập từ ý thức hành khách lẫn cơ chế kiểm soát còn lỏng lẻo. Tiếng trẻ khóc, mùi thuốc lá, hay những cuộc gọi vô tư không chỉ là phiền toái cá nhân, mà phản ánh một nghịch lý: khi đường ray đã chạy nhanh, chuẩn mực văn minh chung lại cần được “tăng tốc” đồng bộ. 

Tôi vẫn ghi nhận sự thuận tiện của tàu cao tốc, nhất là khả năng kết nối trực tiếp vào trung tâm đô thị, nhưng với những hành trình dài đòi hỏi sự yên tĩnh và thoải mái, máy bay vẫn là lựa chọn thực tế hơn. Hy vọng trong tương lai, ngành đường sắt không chỉ đầu tư vào động cơ và đường ray, mà còn chú trọng hoàn thiện quy định, giáo dục ý thức tập thể và thiết kế không gian tôn trọng sự đa dạng nhu cầu. Chỉ khi ấy, mỗi chuyến tàu mới thực sự là hành trình của sự tiện nghi và văn minh, chứ không còn là một “khổ lữ” đầy ngán ngẩm.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét