Thứ Ba, 21 tháng 4, 2026

CHIẾN TRANH KHÔNG CHỈ CÓ HOA HỒNG VÀ KHÚC KHẢI HOÀN

CHIẾN TRANH KHÔNG CHỈ CÓ HOA HỒNG VÀ KHÚC KHẢI HOÀN
Thật khó kìm hãm được xúc động khi đọc những dòng chữ đau thương trong câu chuyện về Anh hùng Phan Châu Mỹ và bà Nguyễn Thị Duyên được nhà báo Mai Thanh Hải viết lại. Đây không chỉ là câu chuyện về một người anh hùng, mà là một bản cáo trạng đanh thép về cái giá tàn khốc mà chiến tranh để lại, ngay cả khi tiếng súng đã tắt từ lâu.
Tôi biết anh Mai Thanh Hải từ khoảng 15-20 năm trước, khi anh tổ chức các chương trình quyên góp ủng hộ ngư dân ra Hoàng Sa, Trường Sa đánh cá để khẳng định chủ quyền Việt Nam với các vùng biển đảo này, hay chương trình Áo ấm Biên cương ủng hộ trẻ em nghèo miền núi... Tôi cũng tham gia những chương trình này nên rất khâm phục tấm lòng của anh và rất thích những bài viết của anh.
 
Đọc câu chuyện về gia đình Anh hùng Phan Châu Mỹ do anh viết lại, chắc không ai không nghẹn lòng. Phía sau tấm Huy hiệu Anh hùng lấp lánh là một thực tại trần trụi và đau đớn đến cùng cực.

1. Sự man rợ âm thầm của hậu chiến Chiến tranh không kết thúc vào ngày 30/4. Với những người lính như ông Mỹ, cuộc chiến ấy vẫn tiếp diễn trong từng cơn sốt rét rừng, trong những tế bào bị hủy hoại bởi ký sinh trùng khiến khát khao làm cha trở thành một hành trình đầy máu và nước mắt. Hình ảnh người vợ 7 lần mang thai để rồi chỉ có 2 đứa con vẹn tròn, hay hình ảnh người anh hùng nấp sau cái nong, nằm dưới cống vì tưởng nhầm vợ con là địch, thực sự là một bi kịch. Đó là sự "man rợ" mà không loại vũ khí nào đong đếm hết được: nó hủy hoại nhân hình, tàn phá tâm trí và giày vò những người thân yêu nhất của họ.

2. Thông tin trên báo, trên mạng, rồi được dạy ở nhà trường rất nhiều, nhưng tại sao vẫn có những người văn hóa hạn hẹp hay quá dốt nát ngoài sức tưởng tượng. Câu hỏi của gã thanh niên trong làng: "Vợ Anh hùng mà mua có chừng này thịt thôi à?" phản ánh một thực tế chua chát. Đôi khi, người ta nhìn vào danh hiệu để phán xét, để tra hỏi và để mỉa mai rất nhẫn tâm, mà quên mất rằng những người bước ra từ cuộc chiến ấy đã hiến dâng tất cả, chỉ còn lại "bàn tay gầy gò, xương xẩu". Họ không chiến đấu để đổi lấy sự giàu sang; họ chiến đấu vì một niềm tin đơn thuần, để rồi nhận về những cơn mê sảng gọi tên đồng đội trong đêm.

3. Bài viết của 
anh Mai Thanh Hải cũng là tiếng chuông nhắc nhở về sự tỉnh táo và lòng trắc ẩn. Chiến tranh không phải là trò đùa để những người chưa từng nếm trải mùi thuốc súng mang ra làm cái cớ cho thái độ hiếu chiến. Những kẻ lớn tiếng đòi "sẵn sàng đánh nhau với Trung Quốc" thường không hiểu rằng: sau mỗi cuộc chiến, dù thắng hay bại, người chịu khổ nhất vẫn là nhân dân, là những người vợ chờ chồng héo hon, là những đứa trẻ sinh ra không được làm người.

4. Lòng tham và sự ngạo mạn của các cường quốc đang đẩy thế giới vào vòng xoáy bất ổn, nhưng người Việt Nam chúng ta, những người hiểu rõ giá trị của hòa bình, cần phải tỉnh táo hơn bao giờ hết. Yêu nước không đồng nghĩa với hiếu chiến hay coi thường các dân tộc khác. Yêu nước thực sự là phải biết xót xa trước những vết thương chưa lành của cha ông, để từ đó gìn giữ hòa bình bằng trí tuệ, bằng ngoại giao, bằng sức mạnh kinh tế, bằng hợp tác cùng phát triển thay vì tiếp tục hy sinh xương máu.

5. Đọc những dòng kể của bà Nguyễn Thị Duyên, tôi không chỉ thấy một câu chuyện cá nhân, mà thấy cả một thế hệ phải gánh chịu di chứng chiến tranh dài hơn cả cuộc đời người. Hãy nhìn xung quanh các bạn đi, trong làm, trong huyện, 50 năm đã trôi qua, vẫn còn bao nhiêu người và con cháu họ đang phải sống chung với những di chứng chiến tranh như bà Duyên và ông Mỹ. Chiến tranh lấy đi không chỉ sinh mạng của người lính, mà còn mãi mãi lấy đi sự bình yên trong tâm hồn những người sống sót.

6. Sự hy sinh thầm lặng của những người ở lại: Cảnh người vợ phải trùm ba lớp chăn, cùng hai con đè lên người chồng đang lên cơn mê sảng; cảnh ông nhầm con là địch, nhầm vũng bùn là chiến hào… đó không phải là "chuyện lạ". Đó là hiện thực của hàng ngàn gia đình Việt Nam sau 1975. 

Chúng ta thường tôn vinh người lính nơi tiền tuyến, nhưng câu chuyện này khiến ta phải cúi đầu trước những người vợ, người mẹ ở hậu phương. Bà Duyên không cầm súng, nhưng bà đã chiến đấu mỗi ngày: chiến đấu với định kiến làng xóm, với tuyệt vọng vô sinh, với nỗi sợ khi chồng lên cơn hoang tưởng, và với tình yêu kiên cường không bỏ cuộc.

Bảy lần mang thai, hai con còn lại..., những con số ấy nói lên tất cả về cái giá của hòa bình.

7. Trân trọng quá khứ để xây dựng tương lai

Câu chuyện về bà Duyên và ông Mỹ là lời nhắc nhở chúng ta rằng: Hòa bình không phải là thứ miễn phí. Nó được mua bằng tuổi xuân bị đánh cắp, bằng những đứa trẻ chưa kịp thành hình và bằng nỗi đau kéo dài cả một đời người. Đừng để lòng tham hay sự thiếu hiểu biết làm chúng ta quên đi cái giá ấy.

Câu chuyện này không nhằm khơi gợi hận thù, mà để chúng ta:

(i) Trân trọng hơn giá trị của hòa bình, thứ được đánh đổi bằng máu, nước mắt và cả những phần đời không lành lặn. Do đó, cần tận dụng mọi cơ hội hòa bình để nhanh chóng phát triển đất nước.

(ii) Thấu hiểu, cảm thông, chia sẻ với những nạn nhân chiến tranh, dù họ ở bất kỳ phía nào, bởi đau khổ không có quốc tịch, không có vùng miền...

(iii) Tỉnh táo hơn trước những lời kêu gọi kích động gây xung đột, bởi lịch sử đã dạy dù ai thắng ai thua thì bao giờ người dân cũng thiệt hại nặng nề nhất.

(iv) Kiên trì hơn trong xây dựng, thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình, tăng cường hợp tác và đối thoại, bởi chỉ có hiểu biết lẫn nhau mới ngăn được những bi kịch lặp lại.

ĐƯỜNG ĐẾN 30-4 (3)

FB Mai Thanh Hải - ... “Vợ Anh hùng mà mua có chừng này thịt thôi à? Mọi người xem vợ Anh hùng mua nhiều thịt chưa này?” – Một thanh niên trong làng lục tung giỏ xe đạp khi tôi đi chợ về, giơ 2 lạng thịt xoay xoay trước mặt.

Vợ Anh hùng phải giàu có lắm. Họ nghĩ vậy chăng.

Tôi nói: “Vợ Anh hùng đánh giặc. Chứ không phải vợ anh hùng ăn cướp”.

Năm 1978, chồng tôi được phong Anh hùng. Xe ô tô về trước ngõ đón 2 vợ chồng ra Quân khu 4. Người làng đi ra đồng đứng lại nhìn. Tôi không biết họ nghĩ gì và cũng không biết cảm giác của mình ra sao.

Xong xuôi buổi chào đón, 1 người trong Bộ Tư lệnh Quân khu mời tôi vào phòng riêng nói chuyện: - Bây giờ cho cô giải quyết 1 việc. Việc gì mà cô thấy quan trọng nhất!.
Tôi ngần ngừ rồi trả lời: - Kinh tế khó khăn là vấn đề chung của cả nước, em không phàn nàn gì. Vợ chồng em chỉ có 1 nguyện vọng là sinh con. Lấy nhau 7 năm rồi mà chưa có con!.

Đấy chính là lý do ông muốn gặp riêng tôi. Vợ chồng ông điều trị nhiều năm ở các bệnh viện nhưng vẫn chưa có con. Những cơn sốt rét ác tính đã tiêu diệt hết tinh trùng. Ông khuyên vợ chồng tôi nên tập trung vào việc chữa bệnh vì tuổi chồng tôi lúc này cũng đã 40.

Vợ chồng tôi khăn gói ra bệnh viện 108 ở Hà Nội, bắt đầu công cuộc tìm con. Đến đây chúng tôi quen thêm nhiều vợ chồng cùng cảnh ngộ.

1 cô giáo có chồng đi bộ đội từ 1958. Ngày đi anh chồng 60kg, lúc về chỉ 38kg, vợ không nhận ra. Anh ấy đã đi hết 2 cuộc kháng chiến và người vợ ở nhà cũng chờ đợi gần hết tuổi sinh con.

1 người chồng khác làm ở bộ phận rađa, tình trạng nặng hơn chồng tôi. Cô vợ nằm bên cạnh chồng, héo hon sầu muộn.

So với cô ấy, thì tôi còn nhiều hy vọng – So với những người kém may mắn hơn. Đó là cách mà người ta an ủi hoàn cảnh mình chưa tồi tệ.

1 người đàn ông hẹn chiều nay ra ngoài cổng bệnh viện, anh chở đi chơi công viên. Đó là bác sĩ điều trị cho chồng tôi.

“Chồng em không có con được đâu” – Anh ta đã nhìn tôi với cái nhìn không phải là bác sĩ dành cho bệnh nhân.

“Em cứ đi chơi cho thoải mái tinh thần. Anh không còn hy vọng vào việc chữa trị đâu” – Chồng tôi nói.

Anh khuyên tôi có thể sinh con với 1 người đàn ông khác. Tôi nắm bàn tay gầy gò, xương xẩu của chồng.

1 năm sau tôi thụ thai. Thai nhi được 2 tháng thì hỏng.

Tôi lại có thai lần thứ 2. Sau 9 tháng giữ gìn. Cơn đau đẻ kéo dài 3 ngày. Ông y sĩ đỡ đẻ không cho tôi nhìn thấy đứa trẻ khi lọt lòng. Nó đã không ra hình dạng con người và chết trong bụng mẹ.

Lần thứ 3, thứ 4 và những lần tiếp theo.
7 lần sinh nở và mang thai. 2 đứa con ở lại với cha mẹ.

Chúng tôi đã có con. Tôi được làm người mẹ hạnh phúc. Căn nhà đã có tiếng trẻ bi bô.
Cơn sốt rét trở lại. Những người đàn ông đàn bà ở chiến trường Lào đều mang về quê nhà ký sinh trùng âm ỉ trong cơ thể hàng chục năm trời.

Chồng tôi mỗi lần sốt rét là mê sảng. 2 đứa con nhìn ba sợ hãi.
- Quyên. Rang cơm cho ba ăn đi họp.
- Hôm nay là chủ nhật mà ba!
- Chống lệnh hả? Bọn mày chống lệnh hả?.

Con Quyên 10 tuổi không hiểu sao khuôn mặt ba bỗng biến sắc. Nó chạy đi tìm mẹ.
Tôi quay về không thấy anh đâu. 3 mẹ con dớn dác đi khắp nhà, đi ra vườn. Tôi gọi tên anh nhưng không nghe thấy trả lời.

- Súng đây rồi. Súng đây rồi các đồng chí ơi!.
Anh nấp sau cái nong lớn dùng phơi lúa. Anh nấp sau và nín thở khi nghe bước chân 3 mẹ con tôi đi qua. 3 mẹ con tôi là địch.

Tôi giữ được cái đòn gánh mà anh tin đó là cây súng. Anh ôm “súng” vùng chạy. Thấy vũng nước vũng bùn là nằm xuống núp. Tôi kéo được anh về.

Tôi trùm chăn lên người anh. 3 chiếc chăn chiên chăn bông. 3 mẹ con nằm đè lên giữ chặt cơ thể anh vẫn đang run bần bật. Qua cơn rét, mồ hô túa ra, anh vùng dậy chạy.
Mẹ con tôi chạy theo nhưng bước chân anh nhanh quá. Anh lao ra đường và mất hút. Em trai tôi và những người hàng xóm đi tìm.

Anh trốn ở đâu?.

Nhớ lại chuyện 1 lần đi trinh sát bị địch truy đuổi, anh chui vào hầm nhà vệ sinh của địch và ngồi trong đó suốt mấy ngày. Tôi lặng lẽ qua hố xí nhà hàng xóm, biết đâu anh lại làm như cách hồi đó.

Một con chó quẫy đuôi bên đường. Tôi chạy ra. Đây là cống thoát nước khi mưa lớn. Em trai tôi vào nhà tìm đèn pin mang ra rọi. Anh nằm co quắp trong cống. Bị lộ, anh chạy ra phía bên kia miệng cống và lao xuống ruộng: - Xung phong. Chạy. Tiến lên anh em ơi!.

Anh chạy bì bõm qua các thửa ruộng. Đến tựa vào 1 bờ ruộng, 2 tay làm tư thế đang ngắm bắn: “Pằng pằng pằng”.
Những người hàng xóm chạy ra xem.

Em trai tôi lại gần: - Về anh. Anh đang ốm mà anh!.
“Bịch!” – Cú đấm giữa mặt khiến thằng em tôi ngã lăn ra đất.

- Mày đầu hàng hả. Thấy quân địch đông quân ta yếu, mày bảo về hả? Về là đầu hàng địch, nghe chưa?.

Ông hàng xóm là chủ tịch xã nhanh trí: - Báo cáo thủ trưởng. Quân địch đông quá mà quân ta ít. Ta phải về họp ban chỉ huy bàn phương án chia ra các mũi đánh, mới hiệu quả!.

- Nói như đồng chí là đúng. Ta về!.
Người anh lấm lem bùn đất. Anh mặc mỗi chiếc quần đi trước, mọi người đi theo sau, như những người lính tuân lệnh.

Ai đó pha cho anh cốc nước chanh đường: - Mời thủ trưởng uống cốc nước cho đỡ mệt
- Đưa cho thằng bị thương uống
- Báo cáo. Đồng chí bị thương đã uống rồi. Mời thủ trưởng uống đi.

Anh cầm cốc nước hất vào mặt người vừa nói: - Định lừa hả? Chưa cho thương binh uống mà dám nói cho uống rồi hà?

Anh gọi tên người đã chết. Những người ra đi cùng với anh ở làng.
Đột nhiên anh khóc: - Các đồng chí ơi. Bác Hồ gửi gạo vào đây rồi. Không bị đói nữa rồi, các đồng chí ơi!..

Tôi cũng khóc. Em trai tôi, ông chủ tịch xã, những người hàng xóm, không ai ngăn được nước mắt.
2 đứa con tôi, sợ quá cũng khóc theo…
----

* Ghi theo lời kể của bà Nguyễn Thị Duyên, vợ Anh hùng LLVT Phan Châu Mỹ (hiện đang ở Phúc Đồng, Hương Khê, Hà Tĩnh); Đừng kể tên tôi, Phan Thúy Hà.

* Anh hùng LLVT Phan Châu Mỹ, sinh năm 1945, dân tộc Kinh. Quê quán X. Phúc Đồng, H. Hương Khê, tỉnh Hà Tĩnh; nhập ngũ tháng 2. 1964. Khi được tuyên dương Anh hùng LLVT, đồng chí là thượng úy - chính trị viên D7 bộ binh, E29, Đoàn 565, Bộ Tư lệnh 559.
Phan Châu Mỹ liên tục chiến đấu ở chiến trường từ năm 1964 đến năm 1975, đồng chí đã tham gia 72 trận đánh, góp phần tích cực chỉ huy đơn vị diệt hơn 1.000 tên địch, phá hủy nhiều phương tiện chiến tranh, riêng Phan Châu Mỹ diệt 31 tên địch, phá hủy 1 khẩu ĐKZ.

Tháng 12.1968, trong trận đánh Ma-Pô-Vát, do địa hình lầy lội không có nơi đặt súng, đồng chí đã làm giá súng đại liên cho đồng đội diệt 2 hỏa điểm tạo điều kiện cho đơn vị xông lên diệt gọn một đại đội địch.

Trong trận đánh Bà Tông tháng 3.1970, tuy địch đông gấp nhiều lần (2 tiểu đoàn) Phan Châu Mỹ vẫn kiên quyết chỉ huy đơn vị tiến công mãnh liệt vào đội hình địch diệt 116 tên, phá huy 1 khẩu ĐKZ. Trận đánh đã phá vỡ cuộc càn của địch vào vùng giải phóng của bạn Lào.

Tháng 12.1968, Phan Châu Mỹ chỉ huy đơn vị tham gia chiến dịch Pô-Lô-Ven, mặc dù số quân ít, lương thực, đạn dược thiếu thốn nhưng đồng chí đã động viên anh em đánh nhiều trận xuất sắc, riêng Phan Châu Mỹ đã dẫn đầu đại đội tập kích tiêu diệt gọn 1 đại đội địch trong trận đánh then chốt quyết định của chiến dịch tạo điều kiện cho toàn đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Tháng 11.1971, 2 tiểu đoàn địch phản kích vào Lao-Ngam hòng chiếm lại khu vực Keng Nhao, Phan Châu Mỹ trực tiếp chỉ huy tiểu đoàn tiến công quyết liệt diệt gần 100 tên địch, giữ vững khu vực được giao.

Phan Châu Mỹ được tặng thưởng 1 Huân chương Chiến công hạng Nhì, 1 Huân chương Chiến công hạng Ba, được tặng thưởng 17 Bằng khen, Giấy khen các loại, 4 lần được bầu là Chiến sỹ Quyết thắng.

Ngày 6.11.1978, Phan Châu Mỹ được Chủ tịch nước tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét