Tấm gương lao động trí tuệ và dũng khí: Tiến sĩ Lê Đăng Doanh
Hôm nay mình tham dự một hội thảo khoa học, được ngồi cạnh Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, đồng nghiệp và sau đó là thủ trưởng một số năm của mình (nhưng những năm đó mình sống ở nước ngoài), nói chuyện với ông, mình khâm phục ông vẫn khỏe mạnh, rất minh mẫn và đặc biệt vẫn tiếp tục miệt mài làm việc dù đã ở tuổi 84. Đúng là một trong những trường hợp rất hiếm ở nước ta.

Trong dòng chảy tư duy kinh tế của Việt Nam từ khi đổi mới tới nay, ít có người kết hợp được sự minh mẫn của học giả, tinh thần dấn thân của người làm chính sách và lòng trung thực đến mức dám “nói đúng sự thật” như Tiến sĩ Doanh.
Đọc bài dưới đây của ông, mình khâm phục ông đến nay vẫn giữ nguyên được nhiệt huyết của một “kiến trúc sư thầm lặng” của thời kỳ Đổi mới những năm 1980-1990. Chính ông là người đã tham gia xé bỏ nhiều rào cản thể chế để mở đường cho hàng trăm nghìn, thậm chí hàng triệu doanh nghiệp tư nhân ra đời trong những năm đó.
Cuộc phỏng vấn dưới đây của ông trước thềm Đại hội XIV không chỉ là hồi ức về quá khứ, mà là lời nhắn gửi sâu sắc cho tương lai: “Hãy dám nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật, nói đúng sự thật”; phương châm ấy đã được thực hiện rất tốt trong hai thập kỷ đầu Đổi mới và đang còn nguyên giá trị như kim chỉ nam cho những thập kỷ vươn mình tới đây.
Điều khiến ông Doanh trở nên đặc biệt không chỉ nằm ở trí tuệ, mà còn ở bối cảnh lịch sử đã hun đúc nên con người ông. Tôi đã làm việc cùng cơ quan với ông từ khi tốt nghiệp đại học ra trường năm 1982, và chúng tôi đã chứng kiến những năm 1980–1990 là thời kỳ hiếm hoi trong lịch sử đương đại khi nhiều cán bộ, nhà khoa học, trí thức dám nói thẳng, nói thật. Bởi lẽ, họ thuộc thế hệ đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, những con người gần như “không biết sợ”, vì đã từng đối mặt với cái chết ngoài chiến trường, thậm chí có những người đã bị chính quyền Sài Gòn kết án tử hình, nhưng may mắn chưa bị thi hành án. Mặt khác, xã hội lúc đó nói chung ai cũng nghèo, không ai có tài sản đáng kể sợ sẽ mất, nên cũng chẳng phải e dè im lặng vì lợi ích cá nhân. Và quan trọng hơn, không khí dân chủ nội bộ, tinh thần tranh luận cởi mở luôn luôn sẵn có trong suốt hai thập kỷ đó, nhất là trước và trong Đại hội Đảng lần thứ VI hay trong các phiên họp Tổ tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, sau này là của Thủ tướng Phan Văn Khải, đã tạo điều kiện cho những tiếng nói phản biện được lắng nghe, thậm chí nhiều ý kiến phản biện đã trở thành chính sách.
Trong bối cảnh ấy, ông Doanh nổi bật như một biểu tượng của sự trung thực trí thức: dám chất vấn quy định vô lý, dám đề xuất bãi bỏ hàng trăm giấy phép con, dám ngồi cùng bàn với chuyên gia chế độ cũ và kiều bào ở nước ngoài vì mục tiêu chung là nói thật, làm thật để cứu nền kinh tế đang khủng hoảng trầm trọng, dám phát biểu thẳng thắn để rồi "phải rời Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương" như ông tâm sự trong bài dưới đây, thực chất là mất chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Rất may là dù sao thời đó ông Doanh không đơn độc, còn có những người khác dám như ông, nhưng ông là đại diện tiêu biểu của một thế hệ vàng, nơi lòng yêu nước được thể hiện bằng tư duy độc lập và hành động dũng cảm dám nói ra sự thật.
Giờ đây, khi đất nước đã chính thức bước vào “Kỷ nguyên vươn mình”, bài học từ ông và thế hệ của ông càng trở nên cấp thiết: đổi mới thể chế không thể thành công nếu thiếu môi trường dân chủ thực chất, nơi người dân dám nói thật và được bảo vệ, chứ không bị quy kết và xử phạt. Ông tâm sự trong bài dưới đây: “Mình không làm gì sai thì cứ tiếp tục thực hiện thôi”. Đó không chỉ là thái độ sống, mà là di sản tinh thần cho các thế hệ làm chính sách hôm nay.
Xin cảm ơn Tiến sĩ Lê Đăng Doanh và một thế hệ những người đã dám nói thẳng nói thật, nhờ đó đất nước mới có những thập kỷ Đổi mới rất thành công.
Điều mong ước nhất của ông trong bài này cũng chính là mong ước của tôi: Kỷ nguyên vươn mình phải đặt trên nền tảng và phương châm: "Nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật và nói đúng sự thật". Đây là điều cốt yếu. Chúng ta không chỉ trích dẫn lý thuyết hay nghị quyết một cách máy móc, mà hãy nhìn thẳng vào thực tiễn cuộc sống đang diễn ra như thế nào, người dân đang cần thay đổi ra sao.
TS Lê Đăng Doanh: Từ chuyện "bếp núc" tại Tổ tư vấn của Thủ tướng đến những điều kỳ vọng tại Đại hội XIV - 12/01/2026 - Đại hội XIV như một cột mốc mang ý nghĩa chiến lược đặc biệt đối với tương lai phát triển của đất nước trong một thế giới đầy rẫy sự bất định và cạnh tranh gay gắt.
Trong bối cảnh đó, Đại hội XIV không đơn thuần là một kỳ sinh hoạt chính trị định kỳ, mà là một thời khắc lựa chọn chiến lược, nơi những chủ trương, quyết sách đưa ra sẽ định hình quỹ đạo phát triển của Việt Nam trong ít nhất một thập niên tới. Sự kiện này trở thành điểm hội tụ của kỳ vọng xã hội, nơi người dân mong chờ những định hướng rõ ràng cho phát triển bền vững, cho một nền kinh tế tự cường.
Chiều đầu năm 2026, nắng vàng hanh hao trong thời tiết rét ngọt của Hà Nội, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh đến điểm hẹn một mình. Ở tuổi 84, vóc dáng nhỏ nhắn nhưng ông vẫn giữ được sự lanh lẹ, minh mẫn đáng kinh ngạc. Là người từng làm thư ký kinh tế cho văn phòng của các nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh; thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải, ông đã dành cho Dân Việt một cuộc trò chuyện thân tình, cởi mở và rất thẳng thắn về hành trình 40 năm Đổi mới cũng như những kỳ vọng vào Đại hội XIV.

Thưa Tiến sĩ Lê Đăng Doanh, chỉ còn ít ngày nữa sẽ diễn ra Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Một trong những nội dung trọng tâm được nhắc đến nhiều là tổng kết 40 năm công cuộc Đổi mới. Là người trong cuộc, từng công tác ở Văn phòng Tổng Bí thư thời kỳ đồng chí Nguyễn Văn Linh, ông có thể chia sẻ những ký ức về giai đoạn cam go chuyển mình từ kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường?
- Thời kỳ đó kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất nhiều, có thể nói là phụ thuộc hoàn toàn vào sự trợ giúp của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. Từ xăng dầu, sắt thép, xi măng, ô tô, máy móc cho đến cả việc nhập khẩu lúa mì đều trông chờ vào nguồn viện trợ.
Khi ấy, do chính sách kinh tế kế hoạch hóa tập trung thời chiến vẫn được áp dụng máy móc trong thời bình, chúng ta đã mắc phải những sai lầm nghiêm trọng như thu mua thóc của nông dân dưới giá thành hay phát hành tiền mặt quá mức kiểm soát. Hệ quả là lạm phát phi mã lên đến 700%. Người dân cứ thấy hàng hóa gì là mua gom, tích trữ, từ dầu hỏa, gạo, cho đến xà phòng, bột giặt... tất cả đều trở thành tài sản tích trữ vì đồng tiền mất giá từng ngày.
Nền kinh tế lúc nào cũng căng như dây đàn. Cung cầu mất cân đối nghiêm trọng. Ngoài cửa hàng mậu dịch, không hề có tư nhân, không có mua bán tự do. Chính vì thế, khi Đổi mới bắt đầu, chúng ta đã thực hiện một chính sách cực kỳ táo bạo: Nâng lãi suất tiền gửi tiết kiệm lên 12%/tháng. Lập tức, toàn bộ tiền mặt trong dân chảy vào ngân hàng, nạn tích trữ chấm dứt, thị trường dần ổn định.
Thêm vào đó là chính sách "Khoán". Người nông dân được gieo trồng và thu hoạch theo kết quả thực. Nếu đảm bảo chỉ tiêu nộp tô, phần dư ra họ được quyền bán theo giá thị trường. Người nông dân phấn khởi sản xuất, người tiêu dùng vui mừng vì lần đầu tiên được mua bán tự do, được lựa chọn hàng hóa. Không khí tích cực lan tỏa khắp xã hội. Đồng thời, chúng ta mở cửa cho Kiều bào, người dân đi lao động ở Liên Xô, Đông Âu mang hàng hóa về nước không đánh thuế. Vì vậy, thị trường trở nên phong phú và người dân rất phấn khởi. Với tình hình ấy, chúng ta đã tiến một bước rất quan trọng cho việc mở rộng kinh doanh cho người dân và tạo điều kiện cho đời sống của người dân được cải thiện hơn.

Để đi đến những quyết sách cởi trói ấy, hẳn chúng ta đã phải trải qua những cuộc đấu tranh tư tưởng rất quyết liệt trong nội bộ đội ngũ lãnh đạo lúc bấy giờ, thưa ông?
- Đúng vậy, cuộc đấu tranh đó là được tiến hành trên cơ sở thảo luận và căn cứ là: Nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật và nói đúng sự thật. Tức là đừng nói lý thuyết nữa, đừng trích dẫn ông A ông B nữa, mà nhìn thẳng vào sự thật.
Như là khoán ruộng ở Vĩnh Phúc, khi đó sản lượng tăng vọt hẳn lên. Long An dũng cảm bỏ tem phiếu, thực hiện cơ chế một giá, trả lương bằng tiền mặt. Người dân không còn cảnh xếp hàng rồng rắn, cán bộ viên chức được tự do mua sắm theo nhu cầu và chất lượng hàng hóa. Đến khi Thủ tướng Võ Văn Kiệt lên nhậm chức thì chính sách đó được mở rộng hơn.
Chính cuộc Đổi mới ấy đã tránh cho Việt Nam một sự sụp đổ và thay đổi chế độ như ở Liên Xô và các nước Đông Âu. Đóng góp lớn nhất thuộc về những đồng chí lãnh đạo từ TP.HCM, những người đã sống và hiểu thế nào là kinh tế thị trường. Thời làm Thủ tướng, đồng chí Võ Văn Kiệt đã có sáng kiến lập Tổ tư vấn, mời cả những chuyên gia của chế độ cũ như nguyên Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Oánh, luật sư Trương Thị Hòa, cùng các trí thức Việt kiều như Tiến sĩ Vũ Quang Việt, Giáo sư Trần Văn Thọ... cùng với chúng tôi thảo luận rất dân chủ, cởi mở. Chính sự đoàn kết và tôn trọng trí thức ấy đã giúp chúng ta vượt qua khó khăn.

Ông từng là thành viên Tổ tư vấn kinh tế qua hai đời Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải. Từ "bếp núc" của việc hoạch định chính sách, ông đúc kết được điều gì về cách dùng người và quy trình ra quyết định để tạo nên những đột phá?
- Tôi luôn dành sự ngưỡng mộ và đánh giá rất cao vai trò của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Có thể khẳng định đồng chí đã có nhiều đóng góp lớn trong quá trình đổi mới và phát triển đất nước.
Ông là người không phân biệt chuyên gia kháng chiến, chuyên gia đào tạo từ Liên Xô hay chuyên gia từ chế độ cũ. Tất cả đều được thảo luận bình đẳng. Khi thảo luận như vậy, Thủ tướng Võ Văn Kiệt ghi chép, rồi sau đó kết luận “Về ý này thì đồng chí A viết cho tôi ba trang, ba ngày nữa gửi lại cho tôi. Về ý này thì đồng chí B viết cho tôi ba trang như thế này, như thế kia”. Và đồng chí xem xét rất kỹ lưỡng.
Đến thời Thủ tướng Phan Văn Khải, tinh thần ấy tiếp tục được phát huy. Có những vấn đề cấp bách, Thủ tướng yêu cầu anh em làm xuyên đêm, đúng 6 giờ sáng hôm sau, khi ông ăn sáng thì báo cáo phải được đặt trên bàn. Mối quan hệ giữa lãnh đạo và Tổ tư vấn dựa trên sự tin cậy tuyệt đối, thẳng thắn và cởi mở. Vì vậy công việc diễn ra một cách hào hứng, anh em rất tâm huyết, làm việc suốt đêm để kịp yêu cầu của Thủ tướng.
Một quy định "bất thành văn" nhưng rất hiệu quả của cả hai vị Thủ tướng là trong các cuộc họp, mỗi người chỉ được phát biểu không quá 5 phút và người trẻ được nói trước. Điều này buộc các chuyên gia phải suy nghĩ cực kỳ kỹ lưỡng, chắt lọc những gì tinh túy nhất, nói thẳng vào vấn đề, không vòng vo, không rào đón. Tác phong ấy đã rèn giũa chúng tôi tư duy làm việc nghiêm túc, thẳng thắn.
Như tôi đã nói, phương châm: Nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật, nói đúng sự thật. Đấy là điều rất quan trọng. Theo tôi phương châm ấy đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị và cần phải vận dụng.
Năm 1998, Thủ tướng Phan Văn Khải đã nâng cấp Tổ nghiên cứu đổi mới thành Ban Nghiên cứu của Thủ tướng. Trong ảnh: TS Lê Đăng Doanh (x). Ảnh: Tư liệuTừ câu chuyện quá khứ, nhìn về hiện tại, trong bối cảnh thế giới đầy biến động và bất định, ông kỳ vọng gì vào sự đột phá trong mô hình tăng trưởng để Việt Nam thực hiện mục tiêu hai con số đã đặt ra?
- Thế giới hiện nay đã thay đổi hoàn toàn, không còn phân cực rõ ràng mà đa trung tâm, đầy rẫy sự bất định và cạnh tranh gay gắt, đặc biệt là giữa các cường quốc. Vì thế, chính sách kinh tế của chúng ta phải cực kỳ linh hoạt. Ngoài các thị trường truyền thống, chúng ta phải khai thác những thị trường mới như Trung Đông với các tiêu chuẩn Halal, hay tận dụng nguồn lực từ Nhật Bản.
Đặc biệt, kinh tế số và kinh tế xanh đang là xu thế không thể đảo ngược. Kinh tế số dẫn đến chính phủ số, doanh nghiệp số và công dân số. Đây là cơ hội để minh bạch hóa mọi hoạt động, từ đó đẩy lùi tham nhũng. Cuộc chiến "đốt lò", chống tham nhũng đã đạt được những kết quả quan trọng. Cần khuyến khích người dân sử dụng internet và nền tảng kinh tế số để đóng góp ý kiến một cách thẳng thắn, xây dựng; phát hiện những điều bất hợp lý để Đảng, Chính phủ kịp thời lắng nghe và cải cách.
Tôi rất mong Đảng và Chính phủ sớm có quy định cụ thể về việc công khai thông tin, những gì cần công bố để dân biết, những gì người dân được phép bàn luận và giám sát. Sự công khai, minh bạch sẽ tạo cơ sở để người dân tranh luận tích cực, từ đó củng cố thêm niềm tin vào sự lãnh đạo. Khi niềm tin được khơi dậy và cơ chế thông thoáng, không chỉ người dân trong nước mà cả trí thức, Kiều bào ở nước ngoài cũng sẽ sẵn sàng trở về, mang theo nguồn lực, ngoại tệ và trí tuệ để đóng góp cho công cuộc xây dựng đất nước.

Thưa ông, qua thực tiễn hơn 1 năm triển khai Nghị quyết 57 và gần 1 năm Nghị quyết 68 đi vào cuộc sống, tư duy coi kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế đang ngày càng được khẳng định. Ông nhìn nhận thế nào về sự thay đổi mang tính chiến lược này trong việc huy động các nguồn lực phát triển đất nước?
- Trong thời kỳ kháng chiến, chúng ta đã từng làm nên kỳ tích nhờ huy động tối đa nguồn lực trong dân. Thời ấy, tài sản quý giá nhất của người dân là chiếc xe đạp, nhưng họ đã tự nguyện mang ra làm xe thồ để tải gạo, tải đạn lên Điện Biên Phủ. Chính nhờ sức dân ấy đã làm nên điều khiến người Pháp phải kinh ngạc: nuôi sống được nhiều đại đoàn quân chủ lực ở chiến trường xa xôi và giành chiến thắng, điều mà đối phương cho là bất khả thi về mặt hậu cần.
Bài học lịch sử ấy cho thấy, việc huy động được nguồn lực nhân dân sẽ tạo ra những chuyển biến vĩ đại. Ngày nay, việc xác định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng chính là sự kế thừa bài học đó trong thời bình. Tôi rất hoan nghênh và tâm đắc với kết luận này của Đảng.
Bởi lẽ, bản chất kinh tế tư nhân chính là nhân dân. Đó không chỉ là tiền bạc, là sức lao động, mà còn là trí tuệ, là sáng kiến và tâm huyết của hàng triệu người, từ các nhà khoa học đến cộng đồng doanh nhân trong và ngoài nước. Thực tiễn những năm tháng Đổi mới ở Vĩnh Phúc hay Long An đã chứng minh, chính những sáng kiến "xé rào", những mô hình sản xuất linh hoạt của người dân và doanh nghiệp như cơ chế khoán hay kế hoạch ba phần đã giúp đất nước tháo gỡ bế tắc, vượt qua khủng hoảng.
Trong bối cảnh mới, chúng ta càng cần phải huy động nguồn lực này một cách thực chất và mạnh mẽ hơn nữa. Đặc biệt, sự phát triển của kinh tế số, với công dân số và doanh nghiệp số, sẽ là chìa khóa giúp sự tương tác giữa Nhà nước và người dân trở nên trực tiếp, minh bạch, giảm bớt chi phí về thời gian và tiền bạc.
Bộ Chính trị cũng vừa ban hành nghị quyết với nhiều điểm mang tính bước ngoặt về kinh tế nhà nước. Ông đánh giá thế nào về những định hướng mới nhằm khẳng định và phát huy vai trò của khu vực kinh tế này?
- Việc xác định đúng đắn và kịp thời vị thế của kinh tế nhà nước là vô cùng quan trọng, bởi đây là khu vực đang nắm giữ những huyết mạch của nền kinh tế như năng lượng, viễn thông, tài nguyên khoáng sản và quản lý nguồn lực đất đai sở hữu toàn dân.
Tuy nhiên, để kinh tế nhà nước thực sự phát huy vai trò dẫn dắt tại các vị trí then chốt, chúng ta cần một cơ chế kết hợp chặt chẽ giữa doanh nghiệp nhà nước với các trường đại học, viện nghiên cứu. Mục tiêu cốt lõi là phải nhanh chóng đưa các sáng kiến, phát minh từ phòng thí nghiệm vào ứng dụng thực tiễn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế.
Chúng ta đã xác định khoa học là then chốt. Giờ là lúc cần những chính sách, biện pháp cụ thể để hiện thực hóa điều đó, dũng cảm vượt qua mọi rào cản, định kiến cũ kỹ từng gây trì trệ để giải phóng nguồn lực và thúc đẩy đổi mới.
Ông được xem là một trong những "kiến trúc sư" của Luật Doanh nghiệp năm 1999 - văn bản pháp lý mang tính lịch sử mở đường cho tư nhân phát triển. Ông có thể kể lại việc đã xóa bỏ những rào cản thời đó và bài học cho công cuộc cải cách thủ tục hành chính hiện nay?
- Trước khi Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời, Luật doanh nghiệp và luật công ty trước đây quy định đích danh Chủ tịch tỉnh phải ký cho phép thành lập doanh nghiệp. Tại Hà Nội thời đó, dù lãnh đạo rất có tinh thần đổi mới nhưng quy trình quá chặt chẽ - phải họp từ tổ dân phố lên - khiến mỗi tuần thành phố chỉ cấp phép được cho khoảng hai doanh nghiệp. Tôi từng thống kê một con số giật mình: Để thành lập một doanh nghiệp cần đến 32 chữ ký, 28 con dấu, tốn khoảng 2.000 USD và mất từ 6 tháng đến 3 năm chờ đợi.
Vượt qua cửa ải thành lập, doanh nghiệp lại lạc vào ma trận "giấy phép con" với những quy định vô lý đến khó tin. Ví dụ như giấy phép bán báo phải xin lại 3 tháng một lần vì sợ bán báo "lậu", hay giấy phép thu mua sắt vụn, thủy tinh vỡ vì sợ người dân... gom nhầm bom mìn. Tôi từng chất vấn cơ quan quản lý rằng: "Làm gì có ai dám mang bom về nhà, nhỡ nó nổ đùng một cái thì chết cả nhà chứ còn làm ăn gì nữa?".
Sau những tranh luận thẳng thắn đó, chúng tôi đã đề xuất và được Thủ tướng Phan Văn Khải ký quyết định bãi bỏ ngay lập tức 262 giấy phép con, đồng thời xác lập nguyên tắc phải đối thoại với cộng đồng doanh nghiệp (VCCI) trước khi ban hành quy định mới.
Trong bối cảnh hiện nay, chìa khóa của cải cách nằm ở kinh tế số và sự công khai, minh bạch. Chúng ta phải tận dụng công nghệ để người dân và doanh nghiệp giám sát: Tại sao chi phí thủ tục lại cao như vậy? Tại sao có ông Chủ tịch xã bỏ họp đi chơi Pickleball, hay có trường hợp đi công tác nước ngoài đắt đỏ không cần thiết? Mọi thứ càng minh bạch bao nhiêu thì bộ máy càng trong sạch, năng động bấy nhiêu, giúp tiết giảm tối đa chi phí thời gian và tiền bạc cho xã hội.
Thưa ông, thời gian qua Đảng ta đã có những đổi mới mạnh mẽ về tư duy và hành động, từ việc tinh gọn bộ máy đến các quyết sách mang tính chiến lược. Theo ông, những nền tảng này sẽ tạo đà bứt phá như thế nào cho "Kỷ nguyên vươn mình" mà chúng ta đang hướng tới trong nhiệm kỳ tới?
- Để bước vào "Kỷ nguyên vươn mình", đòi hỏi chúng ta phải vận dụng triệt để kinh tế số, thực thi công khai minh bạch và đặc biệt là tổ chức giám sát quyền lực một cách thực chất ở mọi cấp độ.
Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, giám sát quyền lực phải gắn liền với giám sát chi tiêu ngân sách và kiểm soát lãng phí công nhằm ngăn chặn việc sử dụng nguồn lực quốc gia sai mục đích. Tôi đặt câu hỏi: Hiện nay Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp đã giám sát những gì và kết quả ra sao? Những thông tin này cần được công bố rộng rãi.
Song song với việc làm trong sạch bộ máy, chúng ta cần phát huy tối đa trí tuệ và sự đóng góp của nhân dân. Chúng ta đã có chủ trương lớn, giờ là lúc cần những quy định pháp lý cụ thể để hiện thực hóa chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm: Phải bảo vệ bằng được những người dám nghĩ, dám làm, những người mạnh dạn đổi mới và đóng góp ý kiến xây dựng cho đất nước. Khi bộ máy hoạt động hiệu quả, minh bạch và biết trân trọng ý kiến phản biện, chúng ta sẽ huy động được sức mạnh tổng hợp để bứt phá.
Mọi mục tiêu vĩ mô cuối cùng đều phải được hiện thực hóa bởi con người. Theo ông, chúng ta cần chính sách gì để thu hút và trọng dụng nhân tài một cách rộng rãi, đáp ứng được những kỳ vọng lớn lao mà đất nước đang đặt ra?
- Gần đây, việc phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho các doanh nhân tư nhân như bà Thái Hương hay bà Nguyễn Thị Phương Thảo là những tín hiệu ghi nhận rất tích cực và quan trọng.
Tuy nhiên, để thu hút nhân tài, đặc biệt là trí thức từ nước ngoài và nguồn nhân lực chất lượng cao trong nước, chúng ta cần một chính sách đãi ngộ hợp lý hơn nữa. Chúng ta có thể chưa đủ tiềm lực để trả mức lương cao ngất ngưởng như các nước giàu có, nhưng mức đãi ngộ phải đủ để họ yên tâm cống hiến và cảm thấy được tôn trọng.
Song, điều quan trọng hơn cả vật chất là môi trường cống hiến. Tôi rất kỳ vọng Kiều bào và các nhà khoa học sẽ phát huy tinh thần yêu nước để trở về, nhưng Nhà nước cũng phải tạo ra một bầu không khí cởi mở và tin cậy như thời Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã làm. Đó là mô hình nơi các chuyên gia, trí thức được trực tiếp lắng nghe, được giao trọng trách và được tạo mọi điều kiện để tham gia giải quyết các vấn đề của đất nước. Khi kết hợp được chính sách trọng dụng nhân tài đúng đắn với công cụ của chính phủ điện tử và kinh tế số, chúng ta sẽ gặt hái được những thành quả to lớn.

Là một người luôn theo sát tình hình thời sự, ông đánh giá thế nào về sự quan tâm của người dân và cán bộ đảng viên đối với sự kiện trọng đại sắp tới là Đại hội XIV?
- Tôi nhận thấy người dân đang đặt rất nhiều kỳ vọng và sự quan tâm sâu sắc. Cá nhân tôi mong rằng Đại hội XIV sẽ đẩy mạnh hơn nữa công cuộc cải cách thể chế như Tổng Bí thư Tô Lâm đã chỉ đạo. Tiếp đó là kiên quyết chống tham nhũng đi đôi với thực hiện công khai minh bạch.
Cần phát huy tốt hơn nữa sự tham gia, đối thoại trực tiếp giữa bộ máy Nhà nước, lãnh đạo Đảng với các chuyên gia, doanh nhân và người dân ở cả trong và ngoài nước. Nếu chúng ta biết lắng nghe ý kiến, đối thoại trên tinh thần xây dựng và cởi mở, tôi tin rằng chúng ta sẽ hiện thực hóa được "Kỷ nguyên vươn mình" và thúc đẩy công cuộc cải cách thể chế đạt hiệu quả cao hơn.

Về mặt kinh tế, theo ông, đâu là điểm nhấn quan trọng nhất để tạo ra bước ngoặt phát triển cho Việt Nam trong thời gian tới, hướng tới các mục tiêu 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước?
- Điều tôi mong ước nhất là cải cách và thực hiện triệt để phương châm: "Nhìn thẳng vào sự thật, làm rõ sự thật và nói đúng sự thật". Đây là điều cốt yếu. Chúng ta không nên chỉ trích dẫn lý thuyết hay nghị quyết một cách máy móc, mà hãy nhìn thẳng vào thực tiễn cuộc sống đang diễn ra như thế nào, cần thay đổi ra sao.
Trong bối cảnh thế giới và trong nước đã hòa nhập sâu rộng, phải nhìn sang các nước láng giềng xem họ làm được gì, tại sao họ tiến nhanh như vậy? Những gì họ làm tốt mà mình chưa làm được thì phải học hỏi để làm tốt hơn. Tôi rất mong Đại hội sẽ ban hành những nghị quyết, và Chính phủ có những chính sách cụ thể để phát huy tối đa trí tuệ, sự sáng tạo và tính năng động của người dân.
Tôi muốn nhấn mạnh thêm một thực tế: Chúng ta hiện có 101 triệu dân mà mới chỉ có khoảng 1 triệu doanh nghiệp tư nhân. Tỷ lệ này là quá thấp, trung bình hơn 100 người mới có một doanh nghiệp thì khó mà giàu mạnh nhanh chóng được.
Thêm vào đó, chúng ta tốn tiền nuôi con em khôn lớn, nhưng rồi nhiều người lại ra nước ngoài làm việc, đóng góp trí tuệ cho xứ người. Vì vậy, cần cải cách giáo dục và y tế để đào tạo nhân tài hiệu quả và giữ chân họ. Riêng về y tế, chúng ta hoàn toàn có thể trở thành điểm đến thu hút bệnh nhân quốc tế, vì hiện nay đã có người nước ngoài đến Việt Nam chữa bệnh do chi phí rẻ và tay nghề bác sĩ cao. Chúng ta cần có chính sách giá hợp lý với người nước ngoài để vừa tránh bù lỗ, vừa giữ được lợi thế cạnh tranh. Chúng ta có những chuyên gia ngoại khoa rất giỏi, kế thừa truyền thống của Giáo sư Tôn Thất Tùng, cần phải phát huy vốn quý đó. Tôi mong Đại hội XIV sẽ có những quyết sách thích hợp để hiện thực hóa điều này càng sớm càng tốt.
Trong quá trình công tác, ông đã từng dự và theo dõi nhiều kỳ Đại hội Đảng. Những lần đó để lại cho ông suy nghĩ gì?
- Tôi từng dự Đại hội VI, một kỳ đại hội để lại ấn tượng sâu sắc vì các cuộc thảo luận diễn ra rất gay gắt và thẳng thắn. Khi đó, đồng chí Trường Chinh đã quyết định loại bỏ bản dự thảo báo cáo chính trị cũ, lập tổ biên tập mới và huy động trí thức soạn thảo một báo cáo hoàn toàn mới, thể hiện trọn vẹn tinh thần đổi mới.
Tôi rất cảm kích trước không khí cởi mở và tinh thần trao đổi thẳng thắn ấy, nó đã dẫn đến những quyết định lịch sử. Tôi nghĩ chúng ta cần rút kinh nghiệm từ bài học đó để đưa ra tại Đại hội XIV một báo cáo chính trị thực sự sáng tạo, mạnh dạn, thể hiện tinh thần đổi mới mạnh mẽ. Đó sẽ là nguồn động lực to lớn khơi dậy tính năng động của toàn dân.

Sau khi thôi nhiệm vụ tại Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, công việc và cuộc sống của ông diễn ra như thế nào?
- Sau khi rời Tổ tư vấn, tôi làm cố vấn cho các Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư như anh Đỗ Quốc Sam, anh Võ Hồng Phúc. Đó là những người rất thiện chí và cởi mở. Tôi vẫn mong mỏi bộ máy hành chính hãy lắng nghe doanh nhân nhiều hơn, khuyến khích cạnh tranh lành mạnh vì đó là động lực đổi mới, nếu thiếu cạnh tranh sẽ dẫn đến trì trệ.
Hiện nay, tôi vẫn tiếp tục làm việc. Tôi học theo kinh nghiệm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, phải để đầu óc làm việc thì cơ thể mới khỏe mạnh. Tôi vẫn tham gia Ủy ban Chính sách phát triển của Liên Hợp Quốc, tư vấn cho Bộ Tài chính Nhật Bản về tỷ giá và ngoại hối, tham gia các hội đồng khoa học trong và ngoài nước. Đặc biệt, tôi thường xuyên trao đổi với báo chí, đó là những cuộc trao đổi rất bổ ích và tôi cũng học hỏi được nhiều từ các bạn.

Được biết, trong quá trình công tác cũng như sau khi nghỉ hưu, ông là người có nhiều phát biểu thẳng thắn, không ngại va chạm vào những vấn đề gai góc, kể cả với báo chí nước ngoài. Ông có từng gặp phiền toái hay cản trở gì vì điều này không?
- Tôi coi những phiền toái hay "gạch đá" dọc đường là chuyện bình thường trong cuộc sống. Khi sự việc xảy ra, tôi vui vẻ thảo luận, làm rõ vấn đề. Mình không làm gì sai thì cứ tiếp tục thực hiện thôi.
Như năm ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, đồng chí Tô Huy Rứa - Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương là có mời tôi báo cáo về kinh tế. Có một người trong Ban Tổ chức Trung ương lại bí mật ghi âm rồi đưa lên trên mạng. Cuối cùng, thay vì xử lý người làm lộ lọt, người ta lại truy trách nhiệm tôi, khiến tôi phải rời Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Tôi nghĩ bụng, bây giờ mình kêu ca cũng không ăn thua gì, thôi thì chấp nhận việc thay đổi và tìm cách lại tiếp tục hoạt động. Tôi chấp nhận sự thay đổi đó và tìm cách khác để tiếp tục cống hiến.
Để giữ được tâm thế vững vàng và kỷ luật làm việc như vậy, hẳn ông chịu ảnh hưởng từ những người lãnh đạo mà ông từng giúp việc. Ai là người ảnh hưởng đến ông nhất?
- Người tôi quý trọng nhất là Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Ông là người dấn thân, sẵn sàng can thiệp, sẵn sàng chịu trách nhiệm để đổi mới. Tôi rất tiếc vì ông xin nghỉ quá sớm, nếu ông tiếp tục công tác, tôi tin đất nước còn thay đổi tích cực hơn nữa. Dù đã nghỉ, ông vẫn viết hàng trăm bức thư tâm huyết gửi Bộ Chính trị, đó đều là những đóng góp rất chân thành.
Người thứ hai là Đại tướng Võ Nguyên Giáp, dù gặp chuyện gì đi nữa, Đại tướng không bao giờ tỏ ra phiền lòng, luôn suy nghĩ tích cực và đóng góp cho đất nước. Tôi học được ở hai ông cách ứng xử sòng phẳng, thiện chí, đúng luật pháp nhưng không gay gắt.
Trong các tư liệu, được biết ông rất gần gũi với Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Ông có kỷ niệm và ấn tượng gì trong quá trình làm việc đó?
- Tôi rất quý trọng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh. Đó là một nhà lãnh đạo rất gần dân và có phong cách sống vô cùng bình dị. Anh Linh luôn tự mình viết bài, tự xem xét và quyết định công việc. Hồi ấy, anh thường viết bài cho Báo Nhân Dân với bút danh N.V.L. Khi Báo Nhân Dân hỏi thì anh bảo: "Đấy là Nói Và Làm, chứ không phải là Nguyễn Văn Linh".
Kỷ niệm đáng nhớ nhất là khi Đông Âu sụp đổ, tôi đang tháp tùng Tổng Bí thư sang Berlin (Đức) công tác. Rất không may, hôm đó có lịch dự duyệt binh vào 9 giờ tối. Từ sáng, tôi đã dặn đồng chí bảo vệ phải mang theo áo ấm cho anh Linh. Nhưng cậu bảo vệ thấy chiếc áo dày và cồng kềnh quá nên chủ quan không mang theo. Kết quả là Tổng Bí thư chỉ mặc bộ com-lê mỏng, trong khi nhiệt độ buổi tối ngoài trời tụt xuống chỉ còn 9 độ C.
Lên đến khán đài, anh Linh quay lại bảo tôi: "Doanh ơi tao lạnh quá, mày kiếm giúp tao cái áo". Tôi nhìn quanh thấy Thiếu tướng Bert - sĩ quan cảnh vệ Đức - đang đứng đó, liền bảo “Mày cho tao mượn cái áo giúp sếp của tao”, anh ta đồng ý. Xong buổi lễ, tôi trả áo rồi hai thầy trò đi về.
Sáng hôm sau, anh Linh gọi tôi bảo: "Tao không nhắm được mắt và không nuốt được nữa rồi". Hóa ra do bị nhiễm lạnh sâu, ông bị liệt dây thần kinh số 7. Ông phải ở lại Berlin chữa trị 19 ngày mới về nước được. Về đến nơi, ông lại phải vào miền Nam tiếp tục chữa trị, châm cứu một thời gian mới bình phục hoàn toàn.

Qua những chia sẻ vừa rồi, có thể thấy ông cũng từng gặp rất nhiều những điều bất như ý, với thế hệ trẻ, từ những kinh nghiệm sống của mình, ông có lời khuyên gì?
- Chúng ta phải xác định rõ mục tiêu của chúng ta, đánh giá đúng trở ngại, hành động thiếu thiện chí, người này ghen tị, người kia gièm pha… Như Đại tướng Võ Nguyên Giáp, hãy thản nhiên và làm tốt việc của mình, họ nói là việc của họ.
Tôi học ở Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Đại tướng Võ Nguyên Giáp rất nhiều điều, nhất là về cách ứng xử. Những người thiếu sự khoan dung và rộng mở, dù có chức quyền cũng khó làm việc hiệu quả.
Thủ tướng Phan Văn Khải cũng là một người rất là cầu thị. Ông lắng nghe, sau đó luôn nói: "Doanh, ba ngày nữa viết 3 trang, 6 giờ sáng gửi. Cái này gấp, làm đêm đi, sáng mai đưa". Thế là làm suốt đêm.
Tôi làm việc ở Văn phòng Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh chỉ có một năm rưỡi nhưng cũng học được nhiều điều. Nhiều việc quan trọng và tế nhị, có những việc tôi chủ ý không tham gia. Phải hết sức giữ mình. Có rất nhiều cám dỗ mua chuộc cả từ trong nước và ngoài nước, nhất là liên quan đến vấn đề nhân sự. Nếu rơi vào đó, cái giá phải trả sẽ rất đắt.
Xin trân trọng cảm ơn ông về cuộc trò chuyện đầy ý nghĩa này!
Tiến sĩ Lê Đăng Doanh sinh năm 1942, quê Phủ Lý, Hà Nam (nay thuộc tỉnh Ninh Bình). Ông tốt nghiệp đại học tại Đức, được bồi dưỡng về quản lý kinh tế tại Viện Hàn lâm Kinh tế quốc gia Nga. Ông từng là chuyên viên Văn phòng Chính phủ, thư ký kinh tế cho các nhà lãnh đạo Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh; thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Võ Văn Kiệt và Phan Văn Khải. Ông giữ chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương từ năm 1993. Ông là thành viên sáng lập Viện Nghiên cứu Phát triển IDS và từng được Liên Hợp Quốc bổ nhiệm làm thành viên Ủy ban Chính sách Phát triển nhiệm kỳ 2016–2018.
https://danviet.vn/ts-le-dang-doanh-tu-chuyen-bep-nuc-tai-to-tu-van-cua-thu-tuong-den-nhung-dieu-ky-vong-tai-dai-hoi-xiv-d1394467.html?gidzl=CAIHF9nkym8mk98xcNZn33EpcJQ2Vgi8AUEPDOPw-brykfnhrN7_K2cvdMZJTlHMBxgGEsAV-50Ed6lu00
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét