Muốn thành công phải là người duy lý
Ông Vũ Khoan là một trong ít nhân vật chính trị được người dân kính trọng vì vừa có tài vừa có tâm. Tôi cũng rất quý mến ông vì ông khiêm tốn, làm việc cần cù, chịu khó chứ không phô trương bề nổi như rất nhiều quan chức lãnh đạo cao cấp khác.
Lãnh đạo hiện nay ở nước ta hiếm người được như ông. Họ thích lên tivi với hình thức, phong cách, đạo cụ y như nghệ sĩ, nói toàn những khẩu hiệu dân tuý trong khi đầu thì rỗng tuếch. Họ nghỉ hưu là phúc cho dân nhưng dân trí thấp nên không hiểu điều đó.
Ông Vũ Khoan chia sẻ suy nghĩ dưới đây về người tài rất đúng. Tuy nhiên có hai điều tôi không tán thành.
Một là ông nói làm phiên dịch thì đường thăng tiến chẳng có. Tôi nghĩ ngược lại. Từ khi đi làm nhà nước năm 1982, tôi đã biết những người cứ theo hầu lãnh đạo thì cơ hội thăng tiến cao nhất, nhất là làm thư ký và phiên dịch. Thực tế tôi quan sát đúng như thế.
Hồi đó tôi cũng đã từng được mời làm thư ký cho một đồng chí nguyên Bí thư trung ương Đảng, nguyên Bí thư thành ủy Hà Nội nhưng tôi kiên quyết từ chối vì tôi muốn đi theo con đường khoa học. Mặc dù không làm thư ký nhưng mỗi khi đồng chí lãnh đạo đó nhờ tôi viết giúp bài gì, tôi đều sẵn sàng giúp nên đồng chí rất quý tôi. Đồng chí này thọ hơn 100 tuổi.
Hai là ông Vũ Khoan nói “tôi tiến bộ được một phần quan trọng là nhờ được bắt tay nhiều nhân vật lãnh đạo thế giới”. Đặc biệt ông liệt kê toàn mấy ông lãnh đạo các nước XHCN. Nếu ông hiểu tiến bộ là thăng quan tiến chức thì ông hoàn toàn đúng như tôi viết ở trên. Nếu ông hiểu tiến bộ là học giỏi thành tài giúp dân giúp nước thì sai.
Cha ông đã nói đi với bụt mặc áo cà sa; đi với ma mặc áo giấy. Bắt tay những người như ông kể thì ông cũng dần dần như họ. Khoa học cũng đã chứng minh môi trường (thông tin xã hội) ảnh hưởng rất mạnh đến tính cách con người. Vì thế người Hà Nội rất khác người Nghệ An….
Mặt khác, học qua bắt tay lãnh đạo chính là học ở ngoài đường trong chợ. Kiến thức tạp nham đúng ít sai nhiều, không cơ bản và không hệ thống. Đem chúng vào xây dựng chính sách phát triển đất nước sẽ rất tai hại.
Khi dạy sinh viên, trong buổi học đầu tiên, tôi yêu cầu sinh viên đã ngồi trong giảng đường thì phải bỏ hết những thứ học ngoài đường trong chợ đi. Vào đây là để học kiến thức khoa học.
Mỗi ngành khoa học như một con sông. Sông có điểm khởi đầu và chạy dài ra biển lớn. Mỗi ngành khoa học cũng được bắt đầu từ một số giả thiết không chứng minh nhưng được coi là hợp lý, được gọi là những nguyên lý, tiên đề, định đề… Từ những giả thuyết ban đầu này, người ta xây dựng các định luật, định lý, công thức… hợp thành ngành khoa học đó và từ đó nó phát triển mãi như dòng sông dài bất tận (nước sông đi vào lòng biển vẫn tiếp tục chảy). Giả thiết khác đi sẽ không còn là ngành khoa học đó nữa.
Cho nên mọi câu hỏi trong kinh tế phải được trả lời bằng các kiến thức của khoa học kinh tế, các định luật định lý công thức của ngành khoa học đó chứ không phải bằng kinh nghiệm và kiến thức học được ngoài đường, trong chợ. Đó cũng chính là điểm khác nhau cơ bản giữa nhà khoa học và người dân bình thường hay quan chức lãnh đạo.
Tôi luôn luôn dạy học viên sinh viên khoa học là chân lý, bao giờ cũng đúng và luôn luôn đúng. Vì thế khi một công trình khoa học được công bố thì không ai làm lại nữa mà người sau phải tìm những khoảng trống người trước chưa làm để nghiên cứu. Kinh nghiệm thì có thể đúng có thể sai; nhưng khoa học thì luôn luôn đúng. Cho nên chúng ta phải là những người duy lý, tức là làm gì cũng phải có cơ sở khoa học.
Tuy nhiên vì trình độ khoa học của chúng ta hạn chế nên sau khi dùng kiến thức khoa học giải quyết các vấn đề trong cuộc sống thì vẫn luôn luôn phải đem kinh nghiệm học từ cuộc sống để kiểm định lại các kết quả rút ra từ khoa học. Nếu không phù hợp với thực tiễn thì phải kiểm định lại kết quả nghiên cứu khoa học.
Điều tệ hại nhất ở nước ta là hầu hết các quan chức lãnh đạo cao cấp đều học lõm bõm, học lỏm, học rởm giống như học khi bắt tay các quan chức cấp cao hơn mình. Do đó họ không có kiến thức khoa học cơ bản và không có kiến thức hệ thống. Họ làm việc kiểu chụp giật. May thì thành công và vỗ ngực khoe khoang. Thất bại thì che giấu không cho dân biết. Ví dụ lạm phát 10% thì chỉ công bố 3%…
Chúng ta đều biết một tiến sĩ nếu bị phát hiện ra không học lớp 2 hoặc đúp lớp 2, tức là rỗng hay không đủ kiến thức lớp 2, thì không thể học được lớp 3. Bằng lớp 3 sẽ bị thu hồi. Rồi bằng lớp 4, 5… và bằng tiến sĩ cũng bị thu hồi. Kiến thức cơ bản và hệ thống bắt buộc phải như thế.
Thế nhưng các quan chức nước ta không hiểu điều này. Năm xưa có đồng chí lãnh đạo bảo tôi cháu đi Pháp học tiến sĩ làm gì, cứ ở nhà, bác giao cho viết vài nghị quyết cho Trung ương Đảng là kiến thức sẽ vượt xa trình độ tiến sĩ. Học đường học chợ nguy hiểm như vậy đó. Đất nước không phát triển cũng vì thứ tư duy đó.
Ngoài không tán thành hai điểm trên. Tôi không thích câu chốt của bác Vũ Khoan: “Tôi không phải là người tài, nhưng được người tài sử dụng”. Người tài nào đưa bác lên chức vậy ? Từ sau năm 1975 đến nay có quan chức lãnh đạo cao cấp nào xứng đáng được gọi là người tài ?
Ở Việt Nam lên chức thời bác là do một tập thể ban lãnh đạo quyết định chứ không phải do một cá nhân người tài quyết định. Và phe cánh đưa nhau lên chức là chính.
Bác Vũ Khoan còn viết tôi từng bị trù úm, nhìn lại thấy rợn tóc gáy. Đây chính là phe phái đánh nhau ruồi muỗi chết. Phe phái mạnh nắm được quyền thì sẽ loại bỏ người của phe phái yếu. Đứng sai hàng thì bị phe kia trù úm là chuyện thường xuyên ở các nước thiếu dân chủ.
Chỉ có làm khoa học, làm nghề giáo hay nghề y thì cả đời không bao giờ phải cảm thấy rợn tóc gáy.
———
Nguyên Phó Thủ tướng VŨ KHOAN chia sẻ suy nghĩ về người tài như sau:
"Tôi không phải người tài, nhưng được người tài sử dụng. Là phiên dịch, tôi được tiếp xúc và học hỏi nhiều ở các tiền bối như Bác Hồ, Lê Duẩn, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp…
Tôi đã lăn lộn trong ngành ngoại giao 45 năm trời, từ năm 1955 đến năm 2000. Nếu kể cả thời gian sang Bộ Thương mại (một phần cũng làm ngoại giao kinh tế) và tham gia lãnh đạo Đảng, Nhà nước (được phân công phụ trách công tác đối ngoại) thì trọn cả đời làm ngoại giao.
Tôi khởi đầu ở phòng phiên dịch tại Bộ Ngoại giao, đi dịch cho lãnh đạo bộ và các vụ, phục vụ các đoàn. Lúc đầu tôi dịch cho tùy tùng, kể cả đầu bếp của các đoàn, sau dịch cho các đoàn viên rồi mới tới các lãnh đạo. Dưới thời Pháp thuộc, người ta gọi phiên dịch là "ông thông ngôn", chuyên bám gót ông tây bà đầm, do đó người dân coi là tay sai của thực dân và rất khinh rẻ.
Dưới chế độ ta, tuy nhiều người không còn nghĩ như vậy song thực ra cũng chẳng coi trọng lắm. Có người còn cho rằng nghề này khó gì đâu, người ta nói sao cứ dịch ra làm vậy là được. Phiên dịch chỉ ăn theo nói leo, nhiều khi chỗ ăn chẳng có, chỗ ở cũng không, khi khách ăn mình phải dịch, giờ nghỉ có khi ngồi ngoài gốc cây, bờ biển, đường thăng tiến chẳng có.
Nhưng tôi tâm niệm cái nghề này rất quan trọng. Phiên dịch viên là cầu nối với các nước khác. Nếu cái cầu ấy ọp ẹp, bấp bênh, ván lát rơi ra thì quan hệ quốc tế có thể "thụt chân" chứ chẳng chơi. Cái cầu ấy mà vững chắc, qua lại thông thoáng thì sự giao lưu giữa các dân tộc tốt đẹp hơn. Đấy là đối với xã hội, còn đối với bản thân, nghề này cũng rất hay. Một là, anh có được công cụ rất quan trọng để tiếp cận với văn hóa, văn minh của các dân tộc khác. Hai là, anh có điều kiện tiếp xúc với rất nhiều giới, tiếp cận nhiều vấn đề khác nhau. Ba là, anh có dịp đi thăm nhiều nơi, nhiều nước, mở rộng tầm nhìn, được "gặp nhiều VIP" theo cách nói bây giờ.
Bản thân tôi đã có dịp phục vụ và quen biết với tất cả các nhà lãnh đạo đất nước thuộc "thế hệ lập quốc" và học hỏi được nhiều điều. Có thể nói không ngoa rằng, sở dĩ tôi tiến bộ được một phần quan trọng là do được "gặp mặt, bắt tay" với nhiều nhân vật như tất cả các Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên xô, từ Khrushchev cho tới Brezhnev, Andropov, Chernenko, Gorbachov. Tuy không dịch tiếng Trung nhưng do đi theo các đoàn cấp cao nên tôi đã từng gặp mặt Mao Trạch Đông, Lưu Thiếu Kỳ, Chu Đức, Chu Ân Lai và cả "bè lũ bốn tên" nữa. Rồi Kim Nhật Thành, Fidel, Che, Raoul của Cuba, các nhà lãnh đạo Đông Âu và phong trào cộng sản công nhân quốc tế.
Rồi tôi trưởng thành lên được vì đã được giao những công việc khó và đòi hỏi cao. Vào cuối những năm 1980 thế kỷ trước, khi là vụ trưởng rồi trợ lý bộ trưởng, tôi đã được ông Nguyễn Cơ Thạch lúc đó là Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao cho nhiều việc "trái khoáy" buộc tôi phải vượt qua chính mình. Những thử thách ấy buộc tôi phải học tập, nghiên cứu, đi vào cuộc sống, từ đó trưởng thành. Kiến thức và kinh nghiệm thâu lượm được đã giúp tôi đỡ lúng túng khi giữ các cương vị trái nghề như khi được bổ nhiệm vị trí Bộ trưởng Bộ Thương mại.
Sau này, nghĩ về việc dùng người, theo tôi có thể nhìn từ bốn góc độ.
Thứ nhất, phải trả lời được câu hỏi: ta có thật lòng cần họ không và cần những loại nhân tài nào? Có người nói, khi đã cầu hiền tức là thừa nhận mình dốt, vậy điều trước hết là phải chấp nhận người ta giỏi hơn mình cái đã.
Thứ hai, đã cầu hiền thì phải tạo môi trường, điều kiện cho người ta cống hiến bằng cách giao cho họ những công việc có giá trị đích thực, đòi hỏi gay gắt và đánh giá đúng công việc họ làm vì người tài thích được đòi hỏi, thậm chí đòi hỏi khắt khe.
Thứ ba, cần có sự đãi ngộ thỏa đáng. Người tài thường không đòi hỏi vật chất nhiều đâu mà điều quan trọng hơn với họ là sự tôn trọng, công bằng.
Thứ tư, phải rộng lượng vì người tài hay có tật. Nếu vì tật nhỏ mà rũ bỏ thì thật hoài phí - những tật không ảnh hưởng tới công việc, không trái với nhân cách làm người, chẳng hạn tật hay cãi. Các cuộc họp mà không có người cãi thì chán lắm, đã dám dùng người tài thì phải chịu nghe họ.
Một khía cạnh nữa về nhân tài còn ít được đề cập đúng mức. Đó là bản thân nhân tài phải có hoài bão, phải dấn thân, ham mê học hỏi, tìm tòi, sáng tạo, sống lương thiện chứ không nên chỉ đòi hỏi một chiều ở xã hội. Ai cũng thế thì lấy đâu ra nhân tài để làm cho đất nước giàu mạnh, từ đó có khả năng đãi ngộ xứng đáng nhân tài?
Tôi cứ ngẫm nghĩ mãi. Ta cứ nói ta "là lương tri của thời đại", nhưng sự thật thì nhiều việc, nhiều người chưa thể hiện được điều đó. Nhiều người đã đánh mất "gene xấu hổ". Làm hỏng việc không xin lỗi, không từ chức, ra đường thì chen chúc, phóng uế bậy bạ, thấy hoa đẹp thì vặt bẻ không thương tiếc, người ta gặp tai nạn thì xông vào hôi của, quan chức thì tham nhũng vơ vét, "văn hoá phong bì" tràn lan, tệ "chạy" lây lan sang mọi lĩnh vực. Do đó, không nên nói quá nhiều những chuyện cao xa mà hãy học làm người tử tế đã.
Tôi hay khuyên các cháu thanh niên rằng, trước hết hãy cố nói chứ đừng chửi thề, nhặt rác chứ đừng vứt rác, trồng cây chứ đừng chặt cây, đi chứ đừng chen lấn. Không làm người lương thiện thì khoan nói đến chuyện lý tưởng, hoài bão.
Giá trị sống thay đổi theo thời gian, hoàn cảnh, giai tầng, nhưng có những giá trị vĩnh cửu được gọi chung là cái thiện, cái tử tế, cái con người, trong đó tôi trân trọng nhất là lòng tự trọng. Tôi sợ nhất, thậm chí ghê tởm nhất những người không biết tự trọng, quỵ lụy, cúi mình nịnh nọt, chạy chọt và tệ hơn nữa là làm hại đồng loại để mưu lợi cho mình.
Thật đau buồn thấy bây giờ sao lòng tự trọng bị đánh mất nhiều thế. Ai đời Đại hội Đảng cũng phải thốt lên trước tình trạng chạy tràn lan: chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy bằng cấp, huân chương. Thực ra danh mục "chạy" còn dài hơn nhiều, kể cả chạy nghi thức và đất mai táng nữa. Đáng buồn nhất là cái cơ chế sinh ra nạn "chạy" vẫn tồn tại và đáng trách nhất là những người đáp ứng sự chạy chọt đó. Chính những người ấy cũng đã để mất lòng tự trọng một khi hạ mình sánh vai cùng với những kẻ chạy.
Có người hỏi tôi rằng, khi về nghỉ hưu, ông hối tiếc điều gì nhất. Tôi nghĩ điều hối tiếc nhất là có những chuyện sai trái rõ mười mươi mà mình không làm gì được để đẩy lùi nó, như vậy là mình thiếu dũng khí, thậm chí còn hèn.
Nhìn bề ngoài hoặc xem lý lịch thì có vẻ đời tôi thuận buồm xuôi gió, nhưng thật ra không phải vậy. Tôi cũng đã từng trải qua biết bao thử thách, thậm chí bị trù úm, gièm pha đủ điều chứ đâu có sóng yên biển lặng. Nay nhìn lại thấy rợn tóc gáy, nhiều khi tưởng như không thể vượt qua nổi. Còn sức mạnh nào đã giúp tôi vượt qua thì tôi đã nói rồi: bất luận thế nào "mình vẫn là mình", tự trọng, không quỵ lụy luồn cúi.
Chữ tài đi với chữ tâm là vì thế. Dù anh là ai, tài đến đâu cũng phải biết lượng sức, đừng bao giờ nghĩ mình là người không thay thế được. Tôi luôn tâm niệm: "Không nên biết cách lên", nhưng nhất định phải "biết cách xuống" đúng lúc và đúng cách.
Nguồn: Sưu tầm
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét