Mao Trạch Đông - Những câu chuyện chưa được biết tới
Trương Nhung /Hồ Như Ý dịchChương 49: Phục thù (1966~1974) (Phần bốn)
Ngày 20 tháng 12 năm 1967, trong một bản báo cáo của cơ quan phụ trách, có đoạn ghi rõ chủ trương: “Phải để cho Lưu sống trong tình trạng nửa sống nửa chết, chỉ cần đảm bảo không để đói mà chết là được.”
Những căn bệnh nguy kịch như viêm phổi hay tiểu đường thì được cho điều trị, nhưng trước khi khám bệnh, bác sĩ phải chửi mắng Lưu một trận. Còn các chứng bệnh về thần kinh dẫn đến lú lẫn, tiểu tiện đại tiện không tự chủ… thì mặc cho diễn biến, để bệnh tình ngày càng nặng thêm.
Trong bản “Báo cáo tình hình Lưu Thiếu Kỳ” ngày 19 tháng 5 năm 1968, người ta dùng thứ ngôn ngữ điển hình của thời Mao để viết rằng: “Những hành vi giả ngớ ngẩn của [Lưu] ngày càng nhiều. Ví dụ, dùng lược và xà phòng để đánh răng, mang tất bên ngoài giày, mặc quần đùi ra ngoài quần dài, có khi còn luồn cả hai chân vào cùng một ống quần. cố tình hành động như một kẻ điên, tự biến mình thành trò hề.”
Mùa hè năm ấy, Mao hai lần ra lệnh thông qua Vương Đông Hưng cho đội ngũ y tế và quản giáo: phải “kéo Lưu đến Đại hội IX, giữ lại một cái bia sống để quần chúng đấu tố.” Việc “chữa bệnh” không nhằm cứu người, mà là để “giữ bằng chứng sống, dâng quà chào mừng Đại hội IX.”
Mao muốn nhân Đại hội IX tuyên bố khai trừ Lưu Thiếu Kỳ khỏi Đảng; nếu đến khi đó Lưu đã chết, thì vở kịch này sẽ mất đi sức trình diễn. Sau Đại hội IX, “bia sống” ấy có chết cũng không sao.
Đến tháng Mười, Lưu Thiếu Kỳ chỉ còn sống nhờ ống thông dạ dày, mạng sống mong manh, có thể ra đi bất cứ lúc nào.
Thời điểm mở Đại hội IX vẫn chưa chín muồi, Mao đành vội vàng triệu tập một kỳ Hội nghị Trung ương để khai trừ Lưu khỏi Đảng. “Hội nghị” ấy thực ra không đủ số đại biểu, chỉ có 47% ủy viên Trung ương tham dự, số còn lại đều đã bị thanh trừng.
Hội nghị còn quyết định bãi miễn luôn mọi chức vụ nhà nước của Lưu, kể cả chức Chủ tịch nước, mà không cần qua bất kỳ thủ tục nào của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.
Chiến lược của Mao Trạch Đông là định gán cho Lưu Thiếu Kỳ tội danh “gián điệp”. Làm như vậy, Mao vừa có thể đẩy Lưu vào chỗ chết, vừa tránh bị liên lụy. Mao sợ có người hỏi cung Lưu, sợ Lưu mở miệng trả lời, nên ngay cả tổ chuyên án phụ trách vụ án của Lưu cũng không được phép thẩm vấn, thậm chí không được gặp ông. Đây có lẽ là một tiền lệ kỳ lạ trong lịch sử “xử án chính trị”.
Để tìm “bằng chứng phạm tội”, tổ chuyên án ra sức bắt người bừa bãi. Nhà tù Tần Thành, do Liên Xô thiết kế từ thập niên 1950 và được mệnh danh là “nhà tù chính trị số một của Trung Quốc”, đã được mở rộng thêm gấp rưỡi trong những năm đầu Cách mạng Văn hóa, trong đó giam giữ hàng loạt người có liên quan đến Lưu Thiếu Kỳ.
Người tù đầu tiên năm 1966, mang mã số “6601”, là Sư Triết, người từng làm phiên dịch giữa Lưu Thiếu Kỳ và Stalin. Họ tra hỏi ông ta bằng một câu vô lý đến tàn nhẫn: “Stalin đã phát triển Lưu Thiếu Kỳ thành gián điệp như thế nào?”
Cùng bị giam ở đó còn có người Mỹ là Lý Đốn Bạch Sidney Rittenberg, vốn là người từng chỉ gặp Vương Quang Mỹ một lần thoáng qua vào thập niên 1940. Giờ đây, họ ép ông nhận rằng chính mình đã chiêu mộ Vương Quang Mỹ, thậm chí cả Lưu Thiếu Kỳ, làm gián điệp cho tình báo Hoa Kỳ. Rittenberg hiểu rõ rằng ngay cả những kẻ tra khảo ông, dù gào thét điên cuồng, cũng không tin vào lời cáo buộc ấy.
Ngay cả Thẩm Túy, một cựu đặc vụ Quốc dân Đảng, cũng bị thẩm vấn lặp đi lặp lại, họ muốn ông phải “xác nhận” rằng Vương Quang Mỹ là gián điệp của Cục tình báo Quân Thống.
Phần lớn những người bị thẩm vấn đã cố gắng đến cùng để không nói dối. Trong số những người kiên quyết nói thật, có hai cựu lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Trung Quốc: Lý Lập Tam và Trương Văn Thiên. Vì thế, họ và cả gia đình đều bị giam giữ, cả hai đều qua đời từ sớm.
Vợ của Lý Lập Tam - Lý Sa Elizaveta Pavlovna Kishkina là người Nga. Vào thập niên 1930, khi Lý Lập Tam bị bắt trong cuộc Đại thanh trừng ở Liên Xô, bà đã chia sẻ gian khổ cùng chồng. Người phụ nữ đã hy sinh cả cuộc đời vì tình yêu ấy, cuối cùng lại trải qua tám năm dài đằng đẵng sau song sắt của chính quyền Mao Trạch Đông.
Một số thành viên của Tổ chuyên án điều tra Lưu Thiếu Kỳ có những người không muốn bịa đặt bằng chứng, nên tổ chuyên án đã bị thay lãnh đạo tới ba lần; hai người lãnh đạo từng bị bắt bỏ tù. Dĩ nhiên, bịa đặt bằng chứng cũng nguy hiểm như không có bằng chứng. Vào ngày 8 tháng 5 năm 1968, Mao Trạch Đông nói: “Những tài liệu dùng để ‘đánh’ Lưu Thiếu Kỳ cũng không thể hoàn toàn tin được.
Ví dụ nói ông ta mùa đông năm 1946 móc nối với Hoa Kỳ, tổ chức một liên minh chống Cộng, yêu cầu Hoa Kỳ đưa quân ồ ạt tấn công quân đội Đảng Cộng sản, và còn nói rằng Thẩm Kỳ Chấn theo giới thiệu của John Leighton Stuart (Đại sứ Hoa Kỳ tại Trung Quốc) đã đi gặp Truman và Dean Acheson. Có những tài liệu là cố tình bịa đặt làm cho rối rắm, mục đích là thao túng và chơi xỏ chúng ta. Lúc đó ngay cả Quốc dân Đảng cũng muốn cho Hoa Kỳ đưa quân ồ ạt vào Trung Quốc .”
Cuối cùng tổ chuyên án đành liệt kê một loạt tội danh bịa đặt, buộc tội Lưu Thiếu Kỳ là “kẻ phản bội, nội gian, kẻ bán rẻ giai cấp công nhân”. Bản “Báo cáo xét xử” này do Chu Ân Lai đọc trước tại hội nghị toàn thể Trung ương. Tổ chuyên án từng đề nghị xử Lưu tử hình, nhưng Mao không đồng ý. Nếu muốn Lưu chết, Mao còn có những cách khác.
Mao Trạch Đông hoàn toàn hiểu rõ nỗi đau trước khi chết của Lưu Thiếu Kỳ. Không chỉ có các báo cáo gửi tới Mao, mà còn có những bức ảnh chụp Lưu. Trong hai bức ảnh, có thể thấy Lưu trong cơn đau dữ dội, hai tay siết chặt hai chiếc bình nhựa cứng, khiến bình bị bóp méo, biến thành hai “quả hồ lô nhỏ”. Khi Đại hội IX khai mạc, Mao công bố với giọng điệu hoàn toàn thờ ơ, đến mức không thèm giả vờ thương cảm, rằng: “Lưu sắp chết rồi.”
Lưu Thiếu Kỳ đã giữ được phẩm giá đến phút cuối cùng của cuộc đời. Ngày 11 tháng 2 năm 1968, ông viết bản tự bào chữa cuối cùng cho mình, trong đó đề cập rằng Mao Trạch Đông từ thời trẻ vốn là một kẻ độc tài, và ngay từ đầu thập niên 1920, khi ông tham dự các cuộc họp do Mao chủ trì, “hoàn toàn không thể phát biểu, cuối cùng luôn phải làm theo ý kiến của Mao Chủ tịch.”
Những lời này khiến Giang Thanh và đồng bọn tức giận đến mức phát điên, ra chỉ thị rằng Lưu “đã độc ác tấn công lãnh tụ vĩ đại Mao Chủ tịch”, là “phản cách mạng, cần bị vạch mặt”. Đối với những cơn thịnh nộ ấy, Lưu Thiếu Kỳ từ đó không viết thêm một chữ nào, không nói thêm một lời nào, dùng im lặng để thể hiện sự phản kháng của riêng mình.
Vào một đêm lạnh tháng 10 năm 1969, Lưu được khiêng lên máy bay đến Khai Phong, dưới một chiếc chăn, gần như khỏa thân. Các bác sĩ địa phương muốn chụp X-quang kiểm tra bệnh tình, nhưng bị cấm. Khi tình trạng Lưu nguy kịch, yêu cầu đưa vào bệnh viện hay hội chẩn cứu chữa cũng bị bác bỏ. Ông qua đời vào ngày 12 tháng 11.
Trong một đêm khuya tĩnh mịch, thi thể Lưu được bí mật đưa tới lò hỏa táng, mặt được phủ bằng tấm vải trắng. Nhân viên lò hỏa táng nhận được thông báo rằng người chết mắc bệnh truyền nhiễm cấp tính, phải rời đi hết, chỉ còn hai công nhân trực lò. Giấy hỏa táng được ghi tên giả.
Cái chết của Lưu Thiếu Kỳ được giữ tuyệt đối bí mật. Mao không dám công bố với nhân dân Trung Quốc ngay cả khi bản thân sắp lìa đời. Những kẻ năm trong tay quyền lực thao thiên thường thích phô trương, ăn mừng khi loại bỏ đối thủ, nhưng Mao lo sợ người ta biết, sợ tin Lưu chết sẽ khiến dư luận thương xót ông.
Trong những năm sau khi Lưu qua đời, Mao liên tục chỉ trích ông trên truyền thông, để mọi người có cảm giác Lưu vẫn còn sống. Dù Mao đã trả thù, nhưng lòng ông vẫn đầy hoang mang, bất an.
Ngoài Lưu Thiếu Kỳ, người Mao căm ghét nhất có lẽ là Bành Đức Hoài. Mao đã để ông chịu đủ gian khổ, nhưng kết quả vẫn không làm hài lòng Mao. Sau khi Cách mạng Văn hóa bùng nổ, Mao phái lực lượng phản loạn của Học viện Địa chất Bắc Kinh sang Tứ Xuyên để bắt Bành đưa về Bắc Kinh.
Trên chuyến tàu trở về, lãnh đạo phái tạo phản Chu Thành Chiêu đã trò chuyện dài với Bành Đức Hoài. Bành kể sơ lược về Hội nghị Lô Sơn, khiến Chu tỉnh ngộ, khâm phục Bành, không chỉ bảo vệ ông trên suốt chuyến đi, mà khi về Bắc Kinh còn viết thư cho Mao, thừa nhận việc đánh đổ Bành là sai lầm. Sau khi gửi thư, Chu từ chỉ huy hàng trăm nghìn người lập tức trở thành tù nhân, bị giam giữ nhiều năm nhưng không hối tiếc.
Một lãnh đạo của phái phản khác là Hàn Ái Tinh của Học viện Hàng không Bắc Kinh, từng đánh Bành trong lúc đấu tố. Sau này, Hàn vô cùng hối hận về hành động của mình.
Ở Bắc Kinh, Bành bị hàng chục đơn vị luân phiên đấu tố, bị giày da đá vào ngực, gậy gỗ đánh gãy xương, ngất xỉu trên bục đấu tố rồi tỉnh lại.
Vì Mao nghi ngờ ông từng bàn bạc với Khrushchev chuyện lật đổ Mao, Bành bị thẩm vấn hơn 260 lần, cuối cùng tinh thần rối loạn. Trong tù, ông ghi lại tự truyện về toàn bộ cuộc đời, phản bác mọi cáo buộc về Mao. Bản tự thuật hoàn thành vào tháng 9 năm 1970 kết thúc với câu:
“Tôi vẫn ngẩng cao đầu, hô vang trăm lần, tự thấy thanh thản với lương tâm!”
“Tôi vẫn ngẩng cao đầu, hô vang trăm lần, tự thấy thanh thản với lương tâm!”
Bành có thể chất mạnh mẽ, nên nỗi khổ mà ông chịu kéo dài hơn Lưu Thiếu Kỳ, cuộc sống trong tù của Bành Đức Hoài kéo dài suốt tám năm, cho đến ngày 29 tháng 11 năm 1974, ông chết vì ung thư trực tràng.
Giống Lưu, việc hỏa táng Bành cũng được giữ bí mật tuyệt đối, được dùng tên giả, và Mao cũng không dám công bố cái chết này khi còn sống.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét