Thứ Sáu, 2 tháng 1, 2026

Suy nghĩ về sức mạnh thương mại quốc tế của Việt Nam

Suy nghĩ về sức mạnh thương mại quốc tế của Việt Nam
Thông tin trên mạng cho biết năm 2025 tổng thương mại quốc tế Việt Nam (bao gồm tổng giá trị xuất và nhập khẩu) đã vượt qua mức 800 tỷ đô la nên Việt Nam đã chính thức trở thành một trong 15 quốc gia dẫn đầu thế giới về quy mô ngoại thương… Đây là một sự kiện đáng ngẫm nghĩ để dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam trong năm nay (2026).
Panko Vina thuộc Tập đoàn Dệt may Panko (Hàn Quốc), thành lập năm 1984. Doanh nghiệp hoạt động tại Việt Nam hơn 23 năm, nhà máy đầu tiên đặt tại Khu công nghiệp Mỹ Phước 1, phường Bến Cát (Bình Dương cũ), chuyên gia công hàng may mặc theo đơn hàng từ công ty mẹ. Tuy nhiên, do khó khăn về đơn hàng sau dịch Covid-19 và định hướng tập trung sản xuất tại dự án khác ở Quảng Nam (nay là Đà Nẵng), nhà máy sẽ chấm dứt hoạt động từ đầu tháng 2/2026.

Cùng thời điểm này, Nikkei Asia – tạp chí kinh tế của Nhật, cơ quan truyền thông được xem như một loại nhiệt kế đo niềm tin của giới đầu tư quốc tế – cảnh báo: Việt Nam có thể bị Mỹ trả đũa thương mại vì là sân sau của doanh nghiệp Trung Quốc và Việt Nam có thể vướng “bẫy trung chuyển,” mắc kẹt giữa Mỹ và Trung Quốc.

Năm 2025, giá trị hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 400 tỷ USD, trong đó khoảng 75% từ các doanh nghiệp nước ngoài (FDI). Kim ngạch nhập khẩu cũng khoảng 400 tỷ USD, trong đó khoảng 70% cũng thuộc về khối FDI (các doanh nghiệp FDI nhập khẩu nguyên liệu, vật liệu để sản xuất hàng xuất khẩu).

Những con số nêu trên cho thấy kinh tế Việt Nam phụ thuộc rất lớn vào FDI, từ đầu vào (nhập khẩu) đến đầu ra (xuất khẩu). Do khu vực doanh nghiệp trong nước nhập siêu, cán cân thương mại của khu vực doanh nghiệp trong nước có xu hướng thâm hụt ngày càng cao.

Thặng dư của khối ngoài nước bị chuyển về nước họ nên dự trữ ngoại hối đang chịu áp lực mạnh, khiến nội tệ mất giá, tỷ lệ lạm phát gia tăng, các khoản nợ bằng ngoại tệ phình to, nhiều doanh nghiệp phá sản, thất nghiệp tăng, sức mua của người dân giảm…
Chính vì vậy mà một số người ví von FDI là một loại động cơ được Việt Nam dùng để vận hành con tàu kinh tế nhưng cả nhiên liệu lẫn quyền kiểm soát đều nằm trong tay người nước ngoài.

Thực tế, các chính sách liên quan đến thu hút vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam trong ba chục năm qua biến Việt Nam thành vùng đất hứa cho những nhà đầu tư chuyên lắp ráp, hoàn thiện công đoạn cuối. FDI vào Việt Nam nhằm tận dụng chi phí hạ tầng thấp, chi phí nhân công rẻ, nên họ chỉ rót vốn vào những ngành sử dụng lao động (dệt may, da giày, lắp ráp…) và ứng dụng công nghệ ở mức trung bình.

Vì chính sách và cung cách quản trị hành chính phức tạp, gần như toàn bộ khối FDI không quan tâm tới liên kết với doanh nghiệp trong nước, thậm chí tránh xa khu vực doanh nghiệp trong nước cho an toàn.

Việt Nam đã ký hiệp định tự do thương mại (FTA) với nhiều quốc gia, nhiều liên minh, nên FDI chọn đầu tư vào Việt Nam còn nhằm tận dụng các ưu đãi mà những quốc gia, liên minh cam kết dành cho đối tác trong những FTA với họ. Tuy nhiên, thương mại quốc tế càng ngày càng phức tạp, mức độ hấp dẫn của nhiều FTA giảm đáng kể.

Để hạn chế bất bình đẳng trong cạnh tranh, các thành viên của Hiệp Định Tự Do Thương Mại giữa Việt Nam – Liên Âu (EVFTA) và các thành viên của Hiệp Định Đối Tác Toàn Diện – Tiến Bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTTP) đã đặt ra hàng loạt yêu cầu về kỹ thuật và xuất xứ.

Nếu không chứng minh được tỉ lệ nội địa hóa và nguồn gốc nguyên liệu, vật liệu, nhà sản xuất sẽ không được hưởng thuế suất 0% như trước.

Làm sao FDI tại Việt Nam có thể gia tăng tỉ lệ nội địa hóa khi hệ thống doanh nghiệp trong nước èo uột, hầu hết là nhỏ ? Làm sao FDI tại Việt Nam giữ được giá thành thấp, giá bán thấp khi không được sử dụng nguyên liệu, vật liệu có nguồn gốc từ Trung Quốc.

Câu hỏi nữa là Việt Nam có thể tạo ra được nguồn cung đủ lớn, ổn định và tốc độ giao hàng cực nhanh để đáp ứng yêu cầu khắt khe của các đối tác giầu có phương Tây không nếu như không có sự hỗ trợ của hàng nhập khẩu từ Trung Quốc ?…

Khi các liên minh như EU và các quốc gia Bắc Mỹ nghi ngờ có hiện tượng doanh nghiệp ở Việt Nam làm “sân sau” cho doanh nghiệp Trung Quốc để lẩn tránh thuế, họ không chỉ phạt doanh nghiệp bị “lộ” mà còn tổ chức điều tra xác định xem toàn bộ doanh nghiệp tham gia sản xuất loại hàng hóa này có thật sự vô can hay cũng gian lận tương tự như vậy.

Không phải tự nhiên mà Nikkei Asia cảnh báo về việc nhiều FDI, đặc biệt là những FDI hoạt động bằng vốn của Trung Quốc, hay là các đối tác của Trung Quốc, đang chọn Việt Nam làm “trạm trung chuyển” để lẩn tránh thuế mà Mỹ áp đặt lên Trung Quốc.

Chắc sẽ có không ít FDI tại Việt Nam phải rút lui vì bị “lộ” do các cuộc điều tra lẩn tránh thuế (nếu bị xem là lẩn tránh, thuế đối với hàng dệt may, giày dép, đồ gỗ gia dụng sẽ tăng từ 30% – 35% tới 70% – 75%), vì những qui định khắt khe về xuất xứ, về bảo vệ môi trường,… khiến hàng Việt Nam không còn rẻ.

Việt Nam có thặng dư thương mại lớn với Mỹ, nhưng lại thâm hụt mậu dịch trầm trọng với Trung Quốc. Đáng lo ngại là số tiền thu được từ bán hàng cho Mỹ phần lớn lại được dùng để chi trả cho các nhà cung cấp nguyên liệu từ Trung Quốc! Đó có thể là bằng chứng để EU và Mỹ tin rằng Việt Nam đã thành “trạm trung chuyển giá trị gia tăng thấp từ Trung Quốc”.

Giải pháp nào để Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu trong năm nay (2026) và làm cách nào Việt Nam có thể thuyết phục các đối tác Âu Mỹ về nguồn gốc và tỷ lệ hóa nội địa của hàng hóa do Việt Nam xuất khẩu ?

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét