Hôm nay ngày nghỉ 1/5: "Nghĩ về lao động, nghĩ về cuộc sống"
Mỗi năm, cứ vào dịp nghỉ ngày Quốc tế Lao động 1/5, “lao động” lại là hai từ hầu hết người dân không ai muốn nhắc đến. Ngày nghỉ lễ, tết... chính là để trốn tránh lao động, chỉ nói tới vui chơi, vui chơi hết mình. Nếu tôi lúc này lại nói “lao động vinh quang”, thì rất có thể các bạn sẽ nghĩ tôi đang… chế giễu hài hước.Nhưng con người vốn dĩ mâu thuẫn: lao động quá nhiều thì sinh bệnh, mà rảnh rỗi quá nhiều cũng sinh bệnh. Ngay cả người ghét lao động nhất, nếu bắt họ nằm im trên giường hay chỉ loanh quanh trong một căn phòng cả ngày, cả tháng, cả năm mà chẳng làm gì cả, thì điều đó còn đáng sợ hơn cái chết.
Vì thế, khi con người trốn tránh thứ lao động kiếm tiền, họ lại thường hăng hái lao vào những "lao động" không mang lại thu nhập: nấu ăn, trồng hoa, nuôi cá, chơi game… và lang thang trên đường du lịch gian khổ
Tôi cũng vậy. Khi rảnh rỗi, nhất là trong các kỳ nghỉ như dịp 30/4-1/5 này, tôi viết blog, facebook hoặc nghiên cứu và viết bài về chủ đề mình quan tâm. Đó là những hoạt động giải trí đầy thú vị, dù không mang lại thu nhập. Nhưng khi phải viết báo cáo theo yêu cầu của cơ quan, dù được trả tiền, tôi vẫn cảm thấy khó chịu như nuốt phải ruồi.
Vì vậy, nếu nhìn lại những công việc từng mang lại cho ta cảm giác thành tựu và mãn nguyện, ta vẫn có thể nhận ra: lao động có thể là vinh quang, lao động có thể là điều ta yêu thích. Vấn đề không nằm ở khái niệm “lao động”, mà ở chỗ lao động cho ai và lao động kiểu gì.
Như Marx từng viết trong Bản thảo Kinh tế - Triết học năm 1844: khi lao động bị tha hóa, “con người không khẳng định bản thân trong lao động, mà phủ định chính mình; không cảm thấy hạnh phúc, chỉ thấy khổ đau; không được tự do phát huy thể lực và trí tuệ, mà ngược lại, thân xác bị hành hạ, tinh thần bị tàn phá. Do đó, người lao động chỉ cảm thấy tự tại khi không lao động, và cảm thấy gò bó khi đang lao động…”.
Khách quan mà nói, so với thời đại Marx, khi tuổi thọ trung bình của công nhân chưa đầy hai mươi tuổi, xã hội ngày nay đã tiến bộ rất nhiều. Phần lớn người lao động hiện nay không còn phải chịu “sự tàn phá” đến mức nguy hiểm tính mạng, cũng không còn rơi vào cảnh nghèo cùng cực đến mức “xếp hàng vào nhà máy để chết” như Marx mô tả. Nhờ mức sống được nâng cao và một hệ thống an sinh ở mức cơ bản, càng ngày càng có nhiều người có quyền lựa chọn công việc phù hợp với sở thích của mình và tìm được cảm giác hạnh phúc trong lao động.
Khác với người lao động thế kỷ XIX thời Marx, khi người nô lệ hay công nhân trong hầm mỏ biết rõ mình đang phải lao động đến chết nhưng không thể không làm, người lao động ngày nay thường không cảm nhận được sự tàn phá trực tiếp, mà chỉ thấy sự thất vọng. Họ từng kỳ vọng tìm được ý nghĩa trong công việc, có thể do tuyên truyền, do nhà tuyển dụng “vẽ bánh” quá đẹp, hoặc do bản thân có kỳ vọng vào ngành nghề, nhưng cuối cùng nhận ra lao động của mình vẫn không thuộc về bản thân, vẫn bị tha hóa.
Về mặt tâm lý, sự thất vọng này có lẽ còn đau đớn hơn. Nhưng xét về tiến trình xã hội, so với việc chưa từng có hy vọng, con người ngày nay rõ ràng đã tiến gần hơn tới ngày lao động thực sự thuộc về chính mình dù con đường phía trước vẫn còn rất dài.
Trong thời đại AI phát triển nhanh chóng hiện nay, khát vọng “lao động thuộc về mình” dường như lại đối mặt thách thức mới: một mặt là không muốn lao động bị tha hóa, mặt khác lại lo sợ một ngày nào đó sẽ bị AI thay thế, đến cả cơ hội được lao động, dù là lao động bị tha hóa, cũng không còn. Như một câu nói nổi tiếng ở nước ta thường được người lao động nhắc đi nhắc lại: “Điều đáng sợ hơn bị bóc lột, chính là không còn cơ hội để bị bóc lột”, khi các nhà đầu tư nước ngoài đột nhiên tháo chạy khỏi nước ta hay chặn không cho lao động xuất khẩu của nước ta được vào nước họ làm thuê.
Đáng mừng là AI và robot hiện nay còn rất xa mới có thể thay thế lao động con người. Về bản chất, chúng đang chỉ là công cụ sản xuất, chứ không phải người lao động. Dù là bảo trì, vận hành AI, hay sử dụng AI để làm việc, đều phải cần lực lượng lớn lao động của con người.
Chỉ có điều AI đang đe dọa nhiều vị trí trung lưu đang được đãi ngộ tốt, và những người này thường có tiếng nói lớn và hay tự coi mình là đại diện cho toàn nhân loại. Khi những công việc vốn không có gì đặc biệt bị AI thay thế, họ liền hô hào rằng “lao động của con người đã mất ý nghĩa”, rồi quay sang sùng bái và thần thánh hóa AI. Nhưng chỉ cần xem qua những tác phẩm do con người dùng AI tạo ra, ai cũng có thể thấy rõ: AI giúp con người phát huy sáng tạo, chứ không thể thay thế óc sáng tạo vĩ đại của con người.
Dĩ nhiên, điều này không có nghĩa AI không gây xáo trộn cho lao động nhưng sự xáo trộn ấy không hề “huyền bí” như nhiều người tuyên truyền. Nó giống mọi bước tiến của năng suất trong lịch sử: mấu chốt luôn nằm ở việc ai nắm giữ tư liệu sản xuất. Dù là AI hay nhà xưởng, khi tư liệu sản xuất bị thiểu số độc quyền, tiến bộ kỹ thuật chỉ làm sâu sắc thêm sự tha hóa lao động và bóc lột. Chỉ khi người lao động bình thường cũng có thể tiếp cận tư liệu sản xuất, tiến bộ kỹ thuật mới giúp họ thực hiện giá trị lao động của mình.
Vì vậy, câu hỏi con người có thể giành lại quyền kiểm soát lao động hay không không chỉ phụ thuộc vào sự phát triển lực lượng sản xuất, mà còn gắn chặt với cuộc đấu tranh vì một xã hội tốt đẹp hơn.
Câu nói “vì một xã hội tốt đẹp hơn” nghe có vẻ cao sang, to tát đối với mỗi cá nhân, nhưng liệu ai trong chúng ta, những người sống ở thời đại này, có thể tách rời khỏi mục tiêu ấy? Dù lịch sử nhân loại có quanh co đến đâu, sự tiến bộ vẫn tồn tại, đấy là quy luật phát triển của lịch sử. Chúng ta đang được hưởng mức sống vật chất, tuổi thọ và tự do vượt xa các thế hệ trước là nhờ vào quy luật đó.
Nếu không có những người đi trước, những chiến sĩ cách mạng và nhân dân lao động, khắp nơi đã hy sinh vì viễn cảnh ấy, lịch sử nhân loại sẽ không tự động tiến bộ nhanh như vậy. Nhìn lại lịch sử 4000 năm của dân tộc, tôi tin rằng mỗi chúng ta đều thấm thía sâu sắc điều này. Hiện nay chúng ta cũng đang sống trong hành trình ấy, được hưởng lợi từ nó, và mỗi người cũng đang đóng góp theo cách riêng của mình.
Xét cho cùng, con người là sinh vật xã hội nên lao động của mỗi người không thể tách rời lao động của người khác. Mỗi cá nhân trong xã hội loài người đều lao động và sống dựa vào lao động của tất cả những người khác. Ngược lại, một cá nhân trong xã hội lao động, thì lao động ấy chắc chắn sẽ mang lại lợi ích cho người khác và cho xã hội theo cách này hay cách khác.
Nói rộng hơn: miễn là mục tiêu dân giầu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh vẫn tiếp tục tiến bước, thì dù lao động của chúng ta có bình thường đến đâu, cũng đều góp gạch xây nên sự nghiệp vĩ đại đó.
Quay lại thực tế, những đạo lý lớn lao nêu trên có đủ thuyết phục người lao động mỗi ngày đều chấp nhận đi làm dù phải đối mặt với đủ thứ người và đủ thứ chuyện kỳ quặc không?
Có lẽ là không. Áp lực cơm áo hay lợi ích thường thuyết phục hơn đạo lý.
Nhưng con người sống trên đời còn lao động, thì luôn cần một giá trị vượt lên trên ham muốn vật chất do lao động mang lại, dù là cảm giác thành tựu, cống hiến, danh hiệu hay điều vẻ vang gì khác.
Ngày nay, trong thời đại kim tiền, ai cũng chán ngấy khi nghe nói đến nhưng thứ "viển vông" như “tình cảm”, “lý tưởng”, vì thực chất đây là những từ thường bị dùng làm vỏ bọc che đậy cho các lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm. Nhưng nếu tất cả mọi người chỉ nhìn lợi ích, không ai nói đến lý tưởng, thì xã hội loài người rõ ràng không thể duy trì vì chẳng lẽ lại mong đợi chỉ mình mình theo đuổi lợi ích, còn người khác thì chấp nhận hy sinh của họ vì những lý tưởng chung sao?
Ngược lại, nếu bạn thực sự không có chút “lý tưởng” nào, thì bạn có thể sẽ phớt lờ mọi ràng buộc đạo đức, sẵn sàng làm đủ điều xấu xa, chỉ để theo đuổi khoái lạc tối đa và thỏa mãn mọi ham muốn của bản thân. Nếu đa số người dân sống ích kỷ như vậy, xã hội chúng ta không thể tốt đẹp như hiện tại.
Ngược lại, nếu bạn thực sự không có chút “lý tưởng” nào, thì bạn có thể sẽ phớt lờ mọi ràng buộc đạo đức, sẵn sàng làm đủ điều xấu xa, chỉ để theo đuổi khoái lạc tối đa và thỏa mãn mọi ham muốn của bản thân. Nếu đa số người dân sống ích kỷ như vậy, xã hội chúng ta không thể tốt đẹp như hiện tại.
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là hiện thân của lý tưởng “lao động vì giải phóng con người”. Bác Hồ là biểu tượng tối cao của việc từ bỏ mọi vinh hoa, quyền lực cá nhân để dấn thân vào sự nghiệp giải phóng dân tộc và nhân loại. Bác từng nói: “Tôi chỉ có một ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” (bác trả lời các nhà báo nước ngoài vào ngày 21/01/1946).
Cuộc đời Bác là chuỗi lao động không ngừng, từ viết báo, dịch sách, tổ chức cách mạng, đến trồng rau, nuôi cá, tự giặt quần áo…; đối với Người, lao động vừa là phương tiện, vừa là phẩm chất đạo đức.
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, lao động là vẻ vang, là thước đo giá trị con người. Người viết: “Lao động là vinh quang. Không ai sinh ra là sang hay hèn, quý hay tiện. Sang, hèn, quý, tiện là do công việc mà mình làm.”
Và đất nước còn có những người lao động bình thường nhưng họ cũng chính là những người “anh hùng thầm lặng” đang góp phần tạo ra những thay đổi to lớn cho đất nước. Ví dụ như những nhà khoa học, những người kỹ sư trẻ đang làm việc tại các trung tâm nghiên cứu khoa học, các khu công nghệ cao... Họ chấp nhận từ bỏ mức lương cao ở nước ngoài để về xây dựng các ngành khoa học và công nghiệp trụ cột cho đất nước.
Hay những người nông dân đang sản xuất nông nghiệp sạch, các giáo viên vùng cao, những người công nhân trên công trường…; những người không nổi tiếng, nhưng lao động bền bỉ và sáng tạo của họ đang góp phần xây dựng, tạo lập một kỷ nguyên mới cho đất nước, “kỷ nguyên vươn mình” theo phong cách rất Việt Nam: bền bỉ, khiêm nhường, sẵn sàng cống hiến vì tương lai đất nước và các thế hệ con cháu mai sau. Chính trong lao động ấy, họ tìm thấy niềm tin, hy vọng, và ý nghĩa cuộc đời mình.
Đối với người xưa, giá trị tối cao thúc đẩy lao động và sự sống thường đến từ tôn giáo. Nhưng với chúng ta, những người sống trong xã hội thế tục, giá trị tối cao ấy chỉ có thể đặt vào chính con người.
Con người vốn phức tạp, lịch sử vốn quanh co. Mong đợi “kỷ nguyên vươn mình” lập tức thành hiện thực, là ảo tưởng ngây thơ và không giúp ích gì cho tâm lý cá nhân hay sự phát triển xã hội. Chỉ khi nhận thức được giới hạn của ước muốn chủ quan và sự khắc nghiệt của thế giới khách quan, ta mới hiểu được tiến bộ của đất nước và nhân loại hiện nay quý giá đến nhường nào.
Vô số thành quả lao động của con người từng hóa thành tro bụi và bị lãng quên trong dòng chảy của lịch sử; bản thân mỗi chúng ta rồi cũng thành tro bụi. Nhưng chính điều đó là một phần không thể thiếu của tiến trình lịch sử: Không có gì là vô ích.
Con người vốn phức tạp, lịch sử vốn quanh co. Mong đợi “kỷ nguyên vươn mình” lập tức thành hiện thực, là ảo tưởng ngây thơ và không giúp ích gì cho tâm lý cá nhân hay sự phát triển xã hội. Chỉ khi nhận thức được giới hạn của ước muốn chủ quan và sự khắc nghiệt của thế giới khách quan, ta mới hiểu được tiến bộ của đất nước và nhân loại hiện nay quý giá đến nhường nào.
Vô số thành quả lao động của con người từng hóa thành tro bụi và bị lãng quên trong dòng chảy của lịch sử; bản thân mỗi chúng ta rồi cũng thành tro bụi. Nhưng chính điều đó là một phần không thể thiếu của tiến trình lịch sử: Không có gì là vô ích.
Quay lại chủ đề ban đầu: Vì sao “lao động là vinh quang” ?
Bởi vì khi kết thúc một đời lao động, mỗi người trong chúng ta đều có thể tự hào nói rằng: “Điều quý giá nhất của con người là sự sống. Mỗi người chỉ có một lần sống. Tại thời điểm cuối cùng này, khi nhìn lại quá khứ, chúng ta cảm thấy không hối tiếc vì đã thực sự sống cuộc đời có ích, vì đã dành toàn bộ sự sống và sức lực để lao động vì một xã hội tốt đẹp hơn cho chính chúng ta và cho các thế hệ mai sau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét