Thứ Tư, 27 tháng 5, 2026

30 năm qua Mỹ chưa thắng một cuộc chiến nào

Cựu Đại sứ Mỹ tại NATO: Quân đội Mỹ mạnh nhất thế giới, nhưng 30 năm qua chưa thắng một cuộc chiến nào
"Hoa Kỳ sở hữu quân đội mạnh nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng đã hơn 30 năm không giành được chiến thắng trong bất kỳ cuộc chiến nào.". Sức mạnh quân sự là điều kiện cần nhưng không phải điều kiện đủ để đạt mục tiêu chiến lược. Thiếu sự gắn kết giữa chính trị - quân sự - ngoại giao, ưu thế hỏa lực có thể trở thành "cái bẫy chiến lược".
Ivo Daalder đếm từng ngón tay liệt kê: "Từ năm 1945 đến nay, Mỹ lần lượt tham gia Chiến tranh Triều Tiên, Chiến tranh Việt Nam, Chiến tranh Afghanistan, Chiến tranh Iraq, và xung đột hiện tại với Iran. Trong đó, chỉ có Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 mới được coi là chiến thắng thực sự; dù vậy, chiến thắng này cũng đã gieo mầm cho thảm họa về sau. Kết cục của các cuộc chiến còn lại, hoặc là bế tắc, hoặc là thất bại hoàn toàn, hoặc là thảm họa chiến lược; còn xung đột với Iran, có lẽ là sai lầm chiến lược nghiêm trọng nhất của Mỹ kể từ sau Thế chiến II."

Theo vị cựu Đại sứ thường trực Mỹ tại NATO này, vấn đề của Mỹ, một cường quốc quân sự đứng đầu toàn cầu nhưng 30 năm qua chưa từng thắng một cuộc chiến do chính mình phát động, không nằm ở hỏa lực yếu kém, mà là do tư duy chiến tranh kiểu Mỹ tồn tại "khiếm khuyết căn bản".

Ngày 26/5 (giờ địa phương), Daalder đăng bài xã luận trên phiên bản châu Âu của Politico.eu, chỉ ra rằng Karl von Clausewitz, nhà tư tưởng quân sự Phổ, tác giả cuốn "Bàn về chiến tranh", đã định nghĩa chiến tranh là sự tiếp nối của chính trị bằng những phương tiện khác. Nhưng Washington đã đảo ngược vấn đề: các đời chính quyền Mỹ đều coi chiến tranh là phương sách cuối cùng sau khi các nỗ lực chính trị như ngoại giao đổ vỡ, và thường xuyên không có mục tiêu chính trị được xác định từ trước.

"Tổng thống Trump là biểu hiện cực đoan nhất của vấn đề này. Trong vấn đề Iran, những đặc phái viên vừa không hiểu ngoại giao vừa không am hiểu vật lý hạt nhân lại đi làm ngoại giao kiểu trình diễn. Sau đó, họ phát động oanh tạc quy mô lớn, ngây thơ cho rằng hủy diệt sẽ buộc đối phương đầu hàng... Tuy nhiên, dù Trump đã đẩy tư duy chiến tranh sai lầm của Mỹ lên đỉnh điểm, ông ấy tuyệt đối không phải là trường hợp cá biệt."

Ngày 15/8/2021, Taliban kiểm soát toàn bộ cửa khẩu biên giới Afghanistan, phía Mỹ rút người, hủy tài liệu, được gọi là sự tái diễn của "khoảnh khắc Sài Gòn" thời chiến tranh Việt Nam.

Daalder phân tích, rút ra kết luận mô hình chiến tranh của Mỹ tồn tại "ba khiếm khuyết mang tính cấu trúc":

Thứ nhất, là sự đảo ngược giữa phương tiện và mục tiêu: Washington không xác định mục tiêu chính trị trước rồi mới lựa chọn phương tiện phù hợp, mà ngược lại, trước tiên sử dụng lực lượng quân sự, rồi hy vọng kết quả chính trị sẽ tự nhiên hình thành.

Dù là "Chiến dịch Sấm Rền" trong Chiến tranh Việt Nam, "Chiến dịch Gây Sốc" trong Chiến tranh Iraq, hay "Chiến dịch Cơn Thịnh Nộ Hùng Tráng" lần này nhằm vào Iran, mỗi lần Mỹ đều huy động binh lực áp đảo, tin tưởng chắc chắn rằng hủy diệt toàn diện sẽ đổi lấy kết quả như mong đợi, nhưng sự thật chưa bao giờ diễn ra như vậy.

Thứ hai, là sự mở rộng quá mức của mục tiêu chiến lược. Daalder chỉ ra rằng mục tiêu chiến tranh của Mỹ thường được đặt ra quá lớn và phi thực tế, như thay đổi chế độ, chuyển đổi văn minh, xuất khẩu dân chủ, chấm dứt chủ nghĩa khủng bố; nhưng sức mạnh quân sự không phải là công cụ hiệu quả để đạt được những mục tiêu này.

Ông lấy Chiến tranh Vùng Vịnh làm ví dụ để phân tích: sở dĩ cuộc chiến do Mỹ dẫn đầu với sự tham gia của liên quân 34 nước giành thắng lợi, là nhờ Tổng thống George H.W. Bush khi đó đã từ bỏ tư duy sai lầm, xác định mục tiêu tác chiến rõ ràng và hạn chế: "trục xuất quân đội Iraq xâm lược Kuwait". Ông Bush cha đã chịu áp lực từ nhiều phía, kiên quyết không tấn công Baghdad; sự kiềm chế này đã thúc đẩy sự hình thành liên minh rộng rãi, tạo tính chính danh quốc tế, và đặt nền móng cho thắng lợi cuối cùng.

Nhiều năm sau, George W. Bush lại chịu ảnh hưởng của những cố vấn từng khuyến khích cha mình mở rộng chiến sự, và đưa ra quyết định hoàn toàn trái ngược. Hành động này khiến khu vực rơi vào vũng lầy chiến tranh kéo dài một thập kỷ, nhờ đó Iran lớn mạnh, và tình hình toàn khu vực trở nên bất ổn hơn bao giờ hết.

Thứ ba, và cũng là khiếm khuyết chí mạng nhất theo Daalder, là các nhà hoạch định chính sách Washington luôn bỏ qua "động cơ phi đối xứng" của đối thủ, sai lầm khi cho rằng sức mạnh vũ lực tuyệt đối có thể bù đắp khoảng chênh lệch về ý chí.

"Sự thật không phải như vậy. Mỹ có thể sở hữu vũ lực, nhưng đối phương lại có ý chí. Việt Cộng, Taliban, Đảng Ba'ath Ả Rập, những nhà cách mạng Hồi giáo; họ sẽ không bao giờ nhượng bộ."

Ông nhắc lại "Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân" năm 1968 của Việt Cộng tuy không đạt mục tiêu chiếm đóng về mặt quân sự, nhưng quy mô lớn và hành động bất ngờ của nó đã gây chấn động mạnh trong dư luận Mỹ, làm gia tăng đáng kể làn sóng phản chiến trong nước, và làm lung lay ý chí chiến tranh của chính phủ Mỹ: "Việt Cộng hiểu rõ họ chiến đấu vì điều gì, còn Washington đã sớm mất phương hướng."

Nhiều thập kỷ sau, sau khi lật đổ chính quyền Taliban chỉ trong vài tuần, các quan chức Mỹ tại Afghanistan tự mãn trước quyết định "sáng suốt" của mình, nhưng hoàn toàn không có kế hoạch cho giai đoạn hậu chiến. Chỉ vài ngày trước khi bắt đầu oanh tạc, George W. Bush mới chợt nhớ đến câu hỏi then chốt: "Ai sẽ quản lý đất nước sau khi chế độ sụp đổ?"

Vấn đề tương tự lại tái diễn trong Chiến tranh Iraq sau đó: những người thiết kế cuộc chiến dự đoán sẽ "thắng dễ dàng", quân Mỹ sẽ được đón chào như "người giải phóng". Nhưng sau khi quân đội Iraq bị giải tán, hàng chục vạn quân nhân có vũ trang đầy đủ trở thành kẻ lang thang ngoài đường phố. Cuộc nổi dậy bùng phát sau đó vốn nằm trong dự liệu, nhưng lại khiến tất cả mọi người trở tay không kịp.

Đến vấn đề Iran, chiến lược chiến tranh đầy lỗ hổng này của Mỹ càng bộc lộ sự sụp đổ nhanh chóng hơn. Chính phủ vừa không có kế hoạch đưa người kế nhiệm ôn hòa lên nắm quyền, vừa không có phương án dự phòng cho thất bại, càng không có đối sách ngăn Iran phong tỏa eo biển Hormuz; điều vốn dĩ phải là hệ quả tất yếu mà ai cũng phải lường trước.

"Năng lực chiến thuật đáng kinh ngạc không thể thay thế cho tư duy chiến lược rõ ràng và hoạch định hợp lý. Lợi thế chiến thuật không đồng nghĩa với thắng lợi chiến lược, cũng như bất lợi chiến thuật không đồng nghĩa với thất bại chiến lược."

Daalder kêu gọi cách thức tiến hành chiến tranh của Mỹ nên quay trở lại với nguyên tắc "Weinberger-Powell".

Khuôn khổ ra quyết định quân sự này ra đời vào thập niên 1980, do cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Caspar Weinberger và Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Colin Powell tổng kết dựa trên bài học từ Chiến tranh Việt Nam. Nguyên tắc này yêu cầu quân Mỹ chỉ sử dụng vũ lực khi liên quan đến lợi ích quốc gia cốt lõi; có mục tiêu quân sự rõ ràng và khả thi, đồng thời huy động binh lực áp đảo để bảo đảm thắng lợi; nhận được sự ủng hộ rộng rãi trong và ngoài nước; có chiến lược rút lui rõ ràng; và chỉ coi chiến tranh là phương sách cuối cùng.

Sau sự kiện 11/9, cùng với nhu cầu của cuộc chiến chống khủng bố, "Nguyên tắc Rumsfeld" nhấn mạnh phản ứng nhanh đã thay thế nó.

Daalder chỉ trích rằng nguyên tắc "Weinberger-Powell", biểu tượng của lý tính chiến lược, đến nay vẫn còn giá trị thực tiễn, nhưng kể từ sau khi Chiến tranh Vùng Vịnh kết thúc, Mỹ đã gạt nó sang một bên. Bộ trưởng Quốc phòng hiện tại Hegseth tuy tuyên bố lấy nguyên tắc Weinberger làm chỉ đạo cho hành động quân sự nhằm vào Iran, nhưng các biện pháp thực tế lại hoàn toàn đi ngược lại mọi tiêu chuẩn của nguyên tắc này.

"Vì lẽ đó, việc quân đội mạnh nhất trong lịch sử nhân loại không thể giành thắng lợi trong những cuộc chiến do chính mình phát động, cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên."

KẾT LUẬN: Từ phê phán chiến lược Mỹ đến xây dựng tư duy chiến lược Việt Nam
Bài viết của Daalder, dù tập trung vào Mỹ, thực chất đặt ra câu hỏi phổ quát: Làm thế nào để một quốc gia sử dụng sức mạnh một cách khôn ngoan?

Với Việt Nam, câu trả lời có thể tóm gọn trong ba nguyên tắc:

- Rõ ràng về mục tiêu: Biết mình muốn gì, ưu tiên gì, và sẵn sàng trả giá gì.

- Linh hoạt về phương tiện: Kết hợp ngoại giao, kinh tế, văn hóa, an ninh một cách nhịp nhàng.

- Kiên định về nguyên tắc: Độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác nhưng không cứng nhắc trong cách thực hiện.

"Chiến lược giỏi không phải là thắng mọi trận đánh, mà là đạt mục tiêu quốc gia với chi phí thấp nhất và rủi ro kiểm soát được."

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét