Lính Mỹ ở hải ngoại và các tệ nạn
Mình đăng bài dưới đây về lực lượng quân sự Mỹ đóng ở nước ngoài lấy từ trên mạng để cung cấp thêm thông tin cho bản thân mình và các bạn. Nói thực là mình không ưa lính Mỹ đóng ở nước ngoài vì mình có đọc một số sách và nghe người khác kể về cuộc sống bê tha và thiếu văn hóa của nhiều lính Mỹ dạng này.
Thậm chí có người còn nói ở đâu có lính Mỹ đóng quân, ở đó sinh ra rất nhiều tệ nạn. Đó là vì lính Mỹ đều đang ở tuổi rất trẻ, rất khỏe, lại lắm tiền và được cấp trên nuông chiều; nên họ ham đủ thứ. Họ nghiện ma túy, say rượu, đánh nhau, trộm cắp, và nhất là phải có gái. Nhiều chính phủ như Hàn Quốc hay Nhật Bản còn ngầm tạo đội quân gái điếm phục vụ lính Mỹ...
Riêng về gái điếm ở miền Nam Việt Nam trước khi Mỹ rút quân, nhà sử học Stanley I. Kutler viết trong cuốn Encyclopedia of The Vietnam War như sau: "Đối với hầu hết người dân trong các thành phố, đời sống càng ngày càng trở nên khó khăn. Vào năm 1972, có khoảng 800.000 trẻ em mồ côi lang thang trên các vỉa hè trong các đường phố ở Sài Gòn và một số thành phố khác, sống bằng nghề ăn mày, đánh giầy, rửa xe, móc túi và dẫn khách làng chơi về cho chính chị gái và mẹ của chúng. Có vào khoảng 500.000 gái điếm và gái bán bar, trong đó có nhiều người là vợ của quân nhân. Họ phải làm cái việc ô nhục này để phụ cho đồng lương chết đói của ông chồng không đủ nuôi gia đình".
Nửa triệu gái điếm trên dân số năm 1972 khoảng 19 triệu người; rõ ràng đây một tỷ lệ khủng khiếp.
Tra trên mạng thì thấy:
a) Prostitution và "comfort women" cho lính Mỹ
- Tại Hàn Quốc, trong giai đoạn 1950s-1970s, tồn tại hệ thống mại dâm được quy định và quản lý tại các "camptowns" (kijichon) gần căn cứ Mỹ. Phụ nữ Hàn làm việc trong hệ thống này được gọi là "yanggongju" (양공주 - "Western princess") hoặc đôi khi dùng thuật ngữ "military comfort women".
Có bằng chứng cho thấy chính quyền Hàn Quốc thời Park Chung-hee khuyến khích gián tiếp hoạt động này như một cách kiếm ngoại tệ và duy trì quan hệ đồng minh, thậm chí tổ chức lớp dạy tiếng Anh/nghi thức cho phụ nữ làm dịch vụ.
Tuy nhiên, hệ thống "comfort women" thời Nhật chiếm đóng (1932-1945) là nô lệ tình dục cưỡng bức, trong khi hệ thống phục vụ lính Mỹ ở Nhật và Hàn sau 1945, dù vẫn chứa đựng yếu tố bóc lột và áp lực kinh tế, có tính chất pháp lý và xã hội khác.
Chính phủ Đức không có chính sách hệ thống hóa mại dâm phục vụ lính Mỹ như Hàn Quốc hay Nhật Bản. Mặc dù công khai quân đội Mỹ không khuyến khích mại dâm, nhưng các chỉ huy quân sự vẫn nhắm mắt làm ngơ cho binh lính tự do mua dâm. Đặc biệt bối cảnh pháp lý cũng cho phép, vì Đức hợp pháp hóa mại dâm từ lâu đời, và đến năm 2002 chính thức hợp pháp hóa hoàn toàn với Luật Mại dâm (Prostitution Act).
Ở Ý, mãi dâm vẫn xảy ra quanh các căn cứ Mỹ, nhất là ở các căn cứ chính: Naples (hải quân), Aviano (không quân), Vicenza, Sicily. Cũng có các bằng chứng về mại dâm tồn tại gần căn cứ NATO và Naval Support Activity ở Naples. Tuy nhiên, không có nghiên cứu hệ thống quy mô lớn như ở Hàn Quốc hay Nhật Bản.
b) Tội phạm và trách nhiệm pháp lý
Nghiên cứu định lượng cho thấy trong giai đoạn Chiến tranh Lạnh (1954-1970), cơ quan tư pháp các nước sở tại đã ghi nhận hơn 360.000 vụ án hình sự liên quan đến quân nhân Mỹ đóng quân abroad, với tỷ lệ tội phạm bạo lực (giết người, hiếp dâm, cướp) đặc biệt cao.
Vấn đề then chốt nằm ở Status of Forces Agreements (SOFAs) – hiệp định quy định quyền tài phán. Trong nhiều trường hợp, lính Mỹ phạm tội ở nước ngoài được xét xử theo luật quân sự Mỹ thay vì luật địa phương, dẫn đến mức án nhẹ hơn hoặc không bị truy tố. Đây là điểm gây tranh cãi dai dẳng tại Nhật, Hàn, Ý và nhiều nước khác.
c) Buôn bán tình dục và nỗ lực cải cách
Báo cáo của Fordham Law Review (2019) chỉ ra rằng buôn bán tình dục liên quan đến quân nhân Mỹ vẫn là vấn đề tồn tại ở một số căn cứ, và các chính sách hiện hành chưa đủ mạnh để giải quyết triệt để.
Từ những năm 2000, Lầu Năm Góc và USFK đã có các chiến dịch chống trafficking, cấm quân nhân mua đồ uống cho nhân viên "juicy bars", và hợp tác với chính phủ sở tại để giám sát. Tuy nhiên, tính hiệu quả vẫn bị các tổ chức nhân quyền nghi ngờ không hiệu quả.
Chứa chấp một lực lượng quân sự nước ngoài đông đảo trên nước mình để giúp bảo vệ tổ quốc cho mình nhưng lực lượng quân sự đó lại gây ra rất nhiều tệ nạn ở nước mình, mà mình không thể ngăn chặn được, thì có hạnh phúc, có sung sướng hay không ? Tôi nghĩ là không, chỉ thấy nhục.
https://journals.sagepub.com/doi/10.1177/0095327X211011578
https://ir.lawnet.fordham.edu/flr/vol88/iss2/12/
https://hhl-iq.com/status-of-forces-agreements-host-state-responsibility/
https://www.degruyterbrill.com/document/doi/10.1515/9780822393283-008/html?srsltid=AfmBOop0qjNnAnvn9yQgmNEMI0fKOdoSNo79XJtrF1ArnbbBJ3npboBP
------------------------
------------------------
Một số thông tin về lực lượng quân sự Mỹ đóng ở nước ngoài
Hàng trăm căn cứ quân sự rải khắp các lục địa là minh chứng sống động nhất cho một cường quốc không bao giờ ngủ, từ những đường băng rực lửa ở Trung Đông đến các cảng biển chiến lược tại Thái Bình Dương thành một mạng nhện liền lạc hoạt động như một hệ thần kinh trung ương. Sự hiện diện này không chỉ là lời cam kết với đồng minh, mà giữ cho dòng chảy thương mại toàn cầu không bị đứt gãy trước những sóng gió chính trị.
Việc có quân đội đồn trú tại chỗ cho phép Mỹ can thiệp gần như tức thì vào các khu vực xảy ra biến sự mà không cần tốn đến vài tuần lễ…
1. Lính Mỹ ở đâu?
Hoa Kỳ hiện duy trì mạng lưới căn cứ quân sự và sự diện diện quân sự lớn nhất toàn cầu, với 800 căn cứ nằm rải rác trên 80 quốc gia toàn thế giới.
Trong đó Đông Bắc Á là khu vực đồn trú lớn nhất để giữ an ninh tại khu vực Thái Bình Dương. Gồm 55,000 quân ở Nhật tại căn cứ Hải quân Yokosuka, đây là căn cứ hải quân quan trọng bậc nhất nằm ngoài nước Mỹ, nằm ngay cửa ngõ vịnh Tokyo. Căn cứ Yokosuka cho phép tàu chiến Mỹ kiểm soát các tuyến hàng hải quan trọng và phản ứng tức thì với các biến động tại bán đảo Triều Tiên hay eo biển Đài Loan, chưa kể các căn cứ không quân ở Kadena, Misawa.
Ở Hàn Quốc, Mỹ duy trì khoảng 28,000 quân, chủ yếu cắm chốt ở trại Humphreys (Camp Humphreys), hiện là căn cứ quân sự lớn nhất của quân đội Hoa Kỳ ở hải ngoại. Cách thủ đô Seoul khoảng 65 km (40 dặm) về phía Nam. Đây là nơi sinh sống và làm việc của hơn 45,000 người, bao gồm binh sĩ, gia đình quân nhân, nhân viên dân sự và các nhà thầu, hoạt động như một thành phố độc lập với đầy đủ trường học, bệnh viện và trung tâm mua sắm.
Để củng cố liên minh NATO, Mỹ chọn Đức làm trung tâm hậu cần và chỉ huy của Mỹ tại châu Âu với căn cứ Không quân Ramstein gồm 35,000 quân nhân và nhân viên hành chánh. Ramstein có thể xem là một thành phố quân sự khổng lồ có khả năng tiếp nhận mọi loại máy bay vận tải lớn nhất.
Tiếp theo là Ý với 12,000 quân, tập trung tại các căn cứ Không quân và Hải quân ở Aviano, Naples. Ở Anh chủ yếu là các phi đoàn Không quân tại Lakenheath, Mildenhall.
Khu vực ở Trung Đông và Bắc Phi giảm nhiều so với thời kỳ chiến tranh Iraq và Afghanistan, tuy nhiên Mỹ vẫn giữ các vị trí chiến lược tại Qatar, nơi đây có căn cứ Không quân Al-Udeid lớn nhất khu vực.
Các khu vực khác như đảo Guam, là pháo đài nổi ở Thái Bình Dương với các căn cứ Không quân và tàu ngầm hùng hậu. Từ Guam, máy bay ném bom B-52, B-1B hay B-2 có thể nhanh chóng hiện diện bất kỳ nơi nào ở châu Á. Căn cứ Hải quân Guam cũng là nơi duy nhất ở khu vực này có thể bảo trì và tiếp tế cho các tàu ngầm nguyên tử và hàng không mẫu hạm.
Ở châu Á, Mỹ đã củng cố thêm nhiều căn cứ quân sự tại Philippines theo thỏa thuận hợp tác quốc phòng nâng cao (EDCA) để trấn giữ Biển Đông. Bên cạnh lực lượng Thủy quân lục chiến đóng chốt tại Darwin (Úc).
2. Chốt quân làm gì?
Cuối thế kỷ 19, vào năm 1898, sau cuộc Chiến tranh Mỹ – Tây Ban Nha. Sau khi chiến thắng, Mỹ giành được quyền kiểm soát các lãnh thổ hải ngoại gồm Philippines, Guam và Puerto Rico, vịnh Guantanamo (Cuba). Năm 1903, Mỹ thuê khu vực này làm căn cứ Hải quân sau khi giúp Cuba giành độc lập từ Tây Ban Nha. Đây là căn cứ hải ngoại lâu đời nhất của Mỹ vẫn còn hoạt động đến nay.
Chiến lược gia Alfred Thayer Mahan lập luận rằng muốn giữ vai trò cường quốc, Mỹ cần một hạm đội mạnh và các “trạm tiếp than” (coaling stations) trên khắp các đại dương để tàu chiến có thể hoạt động xa bờ. Các căn cứ tại Panama (kênh đào Panama), Hawaii và Philippines giúp Mỹ kiểm soát các tuyến hàng hải huyết mạch nối liền Đại Tây Dương và Thái Bình Dương.
Sau Thế chiến II Mỹ chuyển từ việc chiếm giữ lãnh thổ sang thiết lập hệ thống căn cứ để bao vây, ngăn chặn sự lan rộng của Liên Xô và khối Cộng sản thời chiến tranh lạnh đồng thời cam kết hỗ trợ các quốc gia tự do chống lại áp lực từ bên ngoài.
Trước Thế chiến II, Mỹ có rất ít căn cứ ở nước ngoài, tuy nhiên, sau năm 1945, Mỹ thay đổi hoàn toàn, họ đóng quân tại Nhật Bản và Đức ban đầu với tư cách lực lượng chiếm đóng, sau đó chuyển thành đồng minh bảo vệ. Có thể nói Mỹ chính thức bắt đầu đặt căn cứ ở hải ngoại từ năm 1898 để phục vụ nhu cầu tiếp vận cho hải quân.
3. Ai được ai mất?
Trong những tiền đồn của Mỹ trên thế giới, bản doanh đặt tại Đức là một trong những trụ cột quan trọng nhất của Mỹ và NATO. Phía Đức chịu trách nhiệm cung cấp đất đai và xây dựng cơ sở hạ tầng như nhà xưởng, đường sá, cầu cảng. Phía Mỹ chịu phí tổn cho quân trang, quân dụng, máy bay, xe tăng, chiến hạm, chi phí huấn luyện, tập trận, trả lương và phụ cấp cho binh sĩ và nhân viên Mỹ và hàng nghìn người Đức làm việc trong các căn cứ.
Trước đây thì hai bên khá yên ấm, vì các tổng thống Mỹ cũng muốn “dĩ hòa vi quý”, nhưng đến thời TT Trump thì trở nên căng thẳng. Ông Trump cho rằng Đức giàu có nhưng rất “hà tiện” cho quốc phòng, bên Đức gân cổ cho rằng việc cung cấp đất đai và các ưu đãi thuế đã được xem là sự đóng góp thích đáng.
Tuy nhiên, sự hiện diện của quân đội Mỹ tại đây đóng góp lợi ích kinh tế rất lớn cho địa phương, mang lại công việc cho hàng chục nghìn người dân Đức quanh doanh trại.
4. Mỹ tốn bao nhiêu?
Khó mà có được con số chính xác về chi phí cho các căn cứ quân sự của Mỹ trên toàn cầu, vì nó nằm rải rác trong nhiều mục ngân sách như vận hành, lương bổng, xây dựng, tình báo… Dựa trên các báo cáo từ Bộ Quốc phòng Mỹ (Pentagon) ước tính 200 tỉ mỗi năm, trong đó chỉ thanh toán cho việc vận hành và bảo trì (O&M) như sửa chữa phi đạo, nhiên liệu cho tàu, xe, máy bay tại các căn cứ và trả lương cho 200,000 binh sĩ và hàng chục nghìn nhân viên văn phòng ở hải ngoại.
Để giảm bớt gánh nặng ngân sách, các quốc gia đồng minh thường chia sẻ chi phí theo các thỏa thuận “Special Measures Agreements” (SMA), ví dụ Nhật góp 2 tỉ mỗi năm, Nam Hàn góp 1 tỉ, Đức 1 tỉ, “cấn” qua các khoản miễn thuế và hỗ trợ xây dựng hạ tầng.
Do sự bất đồng quan điểm giữa ông Trump và Thủ tướng Đức Friedrich Merz, Mỹ dự định dịch chuyển trọng tâm quân sự từ Đức sang Ba Lan. Nếu bỏ Đức để dồn vào Ba Lan, Mỹ sẽ tiến gần đối thủ hơn nhưng lại mất đi chiều sâu chiến lược và hệ thống hậu cần đã hoàn thiện hàng thập kỷ tại Đức.
Ba Lan cũng là một quốc gia “chịu chi” nhất NATO đóng góp hơn 4% GDP cho quốc phòng. Ba Lan nồng nhiệt chào đón quân đội Mỹ và sẵn sàng chi trả phần lớn phí tổn cho Mỹ, người dân và chính quyền Ba Lan coi sự hiện diện của quân đội Mỹ là bảo chứng cho sự tồn vong của quốc gia mình khi họ có biên giới với Belarus và nằm gần Kaliningrad của Nga.
Trong khi Ba Lan hào hứng thì Nga hậm hực, xem việc Mỹ đóng quân sát biên giới mình là một hành động khiêu khích.
Việc các quốc gia như Đức hay Ý la oai oái khi Mỹ có ý định rút quân không đơn thuần chỉ là vấn đề an ninh mà ảnh hưởng đến một mạng lưới lợi ích chằng chịt về kinh tế, căn cứ của Mỹ luôn là một cỗ máy tiêu tiền khổng lồ, tạo ra nguồn thu chính tại khu vực.
5. Châu Âu bình yên
Không chỉ Đức mà cả châu Âu, sự hiện diện của Mỹ giúp họ ăn ngon ngủ yên. Mỹ không chỉ đóng quân, họ còn giữ an toàn cho cả an ninh năng lượng, bảo đảm các tuyến đường hàng hải vận tải dầu khí, hàng hóa và cáp quang dưới biển.
Khoảng 80% hàng hóa thế giới được vận chuyển bằng đường biển. Các căn cứ hải quân Mỹ tại các eo biển chiến lược như eo biển Malacca, Hormuz bảo đảm tàu bè không bị hải tặc hay các quốc gia thù địch quấy nhiễu.
Nếu không có cảnh sát biển toàn cầu Mỹ trấn giữ, chi phí vận chuyển và bảo hiểm sẽ tăng vọt.
Nếu Mỹ rút quân khỏi Nhật Bản hay Hàn Quốc, các quốc gia này bắt buộc phải tự phát triển vũ khí, các loại hỏa tiễn tầm xa, tầm trung, và nguyên tử để tự vệ. Điều này dẫn đến một cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém và nguy hiểm.
Các căn cứ quân sự Mỹ cũng là nơi đầu tiên cứu trợ khi có thiên tai trên thế giới, nhờ có hệ thống hậu cần hùng hậu.
6. Khi không có Mỹ
Giả sử một ngày Hoa Kỳ cạn túi và phải rút quân về nước, thế giới sẽ ra sao? Họ sẽ đối mặt với một cuộc tái cấu trúc toàn cầu toàn diện. Những cường quốc lập tức nhảy vào để lấp đầy khoảng trống và thiết lập trật tự mới theo cách của mình. Trung Quốc sẽ dễ dàng bá chủ Biển Đông. Các quốc gia như Nhật Bản và Nam Hàn Quốc sẽ tăng cường vũ trang, bao gồm cả vũ khí nguyên tử. Tại Châu Âu, Nga sẽ áp lực các nước thuộc Liên xô cũ và Đông Âu khiến Ba Lan và các nước Baltic sẽ phải tự liên kết lại thành một khối quân sự.
Tại Trung Đông cuộc đối đầu giữa Iran và Saudi Arabia có thể bùng phát, sự an toàn của các tuyến hàng hải không còn nữa, các eo biển sẽ bị phong tỏa hoặc trở thành nơi thu phí và nạn hải tặc nở rộ như giặc cỏ. Chính Mỹ cũng lao đao, vì vị thế đồng tiền dự trữ toàn cầu của USD sẽ bị lung lay, đồng nhân dân tệ, Euro ngoi lên thay thế.
LHQ và NATO trở nên suy yếu hoặc tan rã. NATO nếu thiếu Mỹ sẽ chỉ là một liên minh rời rạc với ngân sách teo tóp.
7. Lời kết
Sự hiện diện của các cơ sở quân sự Mỹ trên toàn cầu không đơn thuần là biểu tượng của quyền lực, mà là “cơ quan” duy trì trật tự thế giới. Các cơ sở này không chỉ là kho vũ khí mà còn là trung tâm hậu cần, tình báo và ra quân nhanh.
Nếu hệ thống này biến mất, thế giới sẽ rơi vào tình trạng vô cùng nguy hiểm, nhà nhà chạy đua vũ trang, trong đó có vũ khí nguyên tử.
Sự vắng mặt của Mỹ có thể khuyến khích các cường quốc khu vực thực hiện các hành động quân sự nhằm thay đổi nguyên trạng biên giới.
Tóm lại, Mỹ vẫn là yếu tố then chốt ngăn chặn một kịch bản thế giới đa cực hỗn loạn, và dấu giày lính Mỹ vẫn luôn in dấu khắp năm châu.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét