Thứ Tư, 13 tháng 5, 2026

NHỮNG THẬP KỶ MẤT MÁT CỦA NHẬT BẢN

Đọc bài này để so sánh, đối chiếu với Việt Nam ngày nay
NHỮNG THẬP KỶ MẤT MÁT CỦA NHẬT BẢN
Đại học Bang San Jose, SJSU ScholarWorks
Tác giả: Nishant Makhija

TÓM TẮT

Trong bài nghiên cứu này, tôi cố gắng tìm hiểu các nhân tố nền tảng dẫn đến tình trạng trì trệ kéo dài của nền kinh tế Nhật Bản kể từ năm 1991. Bài viết đề cập đến nguyên nhân hình thành bong bóng tài sản trong thập niên 1980, các biện pháp can thiệp của chính phủ nhằm hạ nhiệt nền kinh tế quá nóng, và sau đó là những nỗ lực thất bại của chính phủ trong việc hồi phục kinh tế thông qua việc thực thi các chính sách kích thích ngược chu kỳ.

GIỚI THIỆU: KHÁI NIỆM "THẬP KỶ MẤT MÁT"

"Thập kỷ mất mát" (Lost Decade) là thuật ngữ dùng để chỉ giai đoạn sau khi bong bóng giá tài sản tại Nhật Bản vỡ, khi nền kinh tế dần dần rơi vào suy thoái và cho đến nay vẫn chưa hoàn toàn phục hồi.

Ban đầu, thuật ngữ này chỉ đề cập đến giai đoạn 1991-2000, nhưng gần đây, thập kỷ 2001-2010 cũng đã được cộng thêm vào; do đó, giai đoạn kết hợp 1990-2010 hiện được gọi là "Những năm mất mát" hoặc "Những thập kỷ mất mát" của Nhật Bản.

NGUYÊN NHÂN HÌNH THÀNH BONG BÓP TÀI SẢN

Bong bóng tài sản nổi lên trong thập niên 1980 là hệ quả của sự kết hợp giữa giá đất cực cao và lãi suất cực thấp. Điều này tạo ra một tình huống mà tín dụng giá rẻ trở nên dễ dàng tiếp cận. Các doanh nghiệp và hộ gia đình Nhật Bản bắt đầu vay mượn những khoản tiền lớn để đầu tư vào các chứng khoán trong nước và nước ngoài. Chỉ số chứng khoán Nhật Bản (Nikkei) đạt mức cao nhất mọi thời đại vào ngày 29 tháng 12 năm 1989. Chính phủ Nhật Bản thậm chí phát hành trái phiếu 100 năm để phù hợp với lợi suất từ bất động sản, cổ phiếu và trái phiếu.

Nhìn lại, trong giai đoạn đỉnh điểm của bong bóng, khu vực bất động sản được định giá quá mức một cách cực đoan. Khu vực Ginza của Tokyo là một trong những khu vực đắt đỏ nhất Nhật Bản năm 1989, với một số bất động sản có giá hơn 1,5 triệu USD mỗi mét vuông. Sau khi đánh giá tình hình, Bộ Tài chính Nhật Bản quyết định kiềm chế bong bóng bằng cách tăng mạnh lãi suất vào cuối năm 1989. Sự gia tăng đột ngột của lãi suất này dẫn đến sự sụt giảm mạnh của thị trường chứng khoán, cuối cùng chấm dứt bong bóng tài sản.

Người Nhật bắt đầu đối mặt với cuộc khủng hoảng nợ; các tài sản độc hại bắt đầu tích lũy, làm trầm trọng thêm cuộc khủng hoảng trong lĩnh vực ngân hàng. Các gói cứu trợ khổng lồ được yêu cầu để cứu các ngân hàng không bền vững; làn sóng hợp nhất và quốc hữu hóa ngân hàng diễn ra. Nhiều công ty Nhật Bản bị gánh nặng bởi các khoản nợ khổng lồ, làm tê liệt khả năng đầu tư và tăng trưởng của họ.

QUAN ĐIỂM CỦA PAUL KRUGMAN: BẪY THANH KHOẢN

Theo GS Paul Krugman, những thập kỷ mất mát của Nhật Bản là do "bẫy thanh khoản" (liquidity trap): việc tiết kiệm quá mức từ phía cả người tiêu dùng và doanh nghiệp Nhật Bản đã dẫn đến sự chậm lại của toàn bộ nền kinh tế. Theo ông, giá đất và giá cổ phiếu đã tăng gấp ba trong suốt thập niên 1980 thịnh vượng.

Krugman cho rằng người Nhật có tỷ lệ tiết kiệm cá nhân cao, một phần do nhân khẩu học với dân số già hóa và văn hóa. Điều này cho phép các công ty Nhật Bản vay mượn từ các ngân hàng truyền thống được hỗ trợ bởi mạng lưới ngân hàng, thay vì phát hành thương phiếu hoặc huy động vốn bằng cách phát hành cổ phiếu hay trái phiếu.

Ông viết: "Mối quan hệ thân hữu giữa các tập đoàn và ngân hàng, cùng với sự bảo đảm ngầm định rằng tiền gửi ngân hàng sẽ được người nộp thuế cứu trợ, đã tạo ra một vấn đề rủi ro đạo đức đáng kể, dẫn đến bầu không khí của chủ nghĩa tư bản thân hữu và giảm tiêu chuẩn cho vay. Các ngân hàng Nhật Bản cho vay nhiều hơn, với ít sự quan tâm đến chất lượng của người vay hơn bất kỳ ngân hàng nào khác. Khi làm như vậy, họ đã giúp thổi phồng nền kinh tế bong bóng lên những tỷ lệ quái dị."

NHỮNG HIỆN TƯỢNG BẤT THƯỜNG TRONG NGÀNH BẤT ĐỘNG SẢN (CUỐI THẬP NIÊN 1980)

Trong giai đoạn bong bóng tài sản gia tăng vào cuối thập niên 1980, nhiều hiện tượng bất thường đã được quan sát thấy trong lĩnh vực bất động sản:

Những người sở hữu đất trở nên giàu có hơn, trong khi những người không có đất có rất ít cơ hội để mua, dẫn đến cảm giác bất bình đẳng và bất công xã hội.

Đất trống được coi là có giá trị hơn nhiều so với đất có công trình xây dựng do tính thanh khoản cao. Điều này khuyến khích Yakuza (mafia Nhật Bản) phá dỡ trái phép các công trình và ép chủ đất phải bán đất.

Sự xuất hiện ồ ạt của các tòa nhà văn phòng không có người ở tại các khu vực đô thị gia tăng nhanh chóng.

Số lượng quá mức các công viên giải trí, khách sạn, điểm du lịch và khu nghỉ dưỡng được phát triển. Giả định là những cơ sở này sẽ là nguồn doanh thu lớn trong tương lai.

CHÍNH SÁCH KÍCH THÍCH NGƯỢC CHU KỲ

Sau khi đối mặt với sự sụp đổ của nền kinh tế, vào năm 1991, chính phủ Nhật Bản quyết định kích thích kinh tế bằng cách ban hành các chính sách tài khóa ngược chu kỳ và tăng các khoản chi trả an sinh xã hội. Trong suốt thập niên 1990, chi tiêu tài khóa của Nhật Bản trở nên không kiềm chế đến mức vượt xa tất cả các nước công nghiệp phát triển khác.

Trước năm 1991, chi tiêu chính phủ (các khoản chi) tại Nhật Bản chỉ chiếm khoảng 31,6% GDP của quốc gia, một trong những mức thấp nhất trong số các thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) [Ronald D. Utt, tháng 12/2008]. Một khi lãi suất được tăng lên và nền kinh tế bắt đầu trượt xuống, chính phủ Nhật Bản bắt đầu chi tiêu cho các dự án cơ sở hạ tầng nhằm kích thích nền kinh tế.

Sau khi duy trì mức đầu tư công tương đối cao trong nhiều năm, chi tiêu cao nhất của Nhật Bản diễn ra vào năm 1995 và 1996, đạt đỉnh hơn 43 nghìn tỷ yên, tương đương hơn 8,9% GDP, trong quý đầu tiên của năm 1996. Năm 1997 là điểm bước ngoặt trong nỗ lực kích thích nền kinh tế thông qua chi tiêu công của Nhật Bản. Từ đó, Nhật Bản bắt đầu kiềm chế chi tiêu một cách ổn định. Đầu tư công tại Nhật Bản kể từ đó đã giảm xuống dưới 4% GDP.

CHI TIÊU CHO CÁC DỰ ÁN CƠ SỞ HẠ TẦNG: HIỆU QUẢ VÀ LÃNG PHÍ

Như một báo cáo của Quỹ Heritage năm 2001 ghi nhận, một phần đáng kể trong chi tiêu kích thích của Nhật Bản tập trung vào cơ sở hạ tầng. Trong giai đoạn 1992-2000, chính phủ Nhật Bản thực hiện mười gói chi tiêu tài khóa riêng biệt, trong đó các dự án cơ sở hạ tầng công là thành phần chính. Khoản chi tiêu bổ sung cho thành phần cơ sở hạ tầng lên tới 30,4 nghìn tỷ yên (254 tỷ USD).

Báo cáo cũng chỉ ra rằng chính phủ Nhật Bản đã chi quá nhiều cho đường xá và cầu cống, và không đủ cho các lĩnh vực giáo dục, dịch vụ xã hội, công nghệ (nghiên cứu và phát triển), những lĩnh vực mà các nghiên cứu khác đã chứng minh mang lại lợi ích dài hạn lớn hơn so với chi tiêu cho cơ sở hạ tầng.

"Không đủ chỉ là thuê công nhân đào hố rồi lại lấp chúng," Giáo sư kinh tế Toshihiro Ihori tại Đại học Tokyo nhận định. "Một bài học từ Nhật Bản là các công trình công cộng đạt kết quả tốt nhất khi chúng tạo ra thứ gì đó hữu ích cho tương lai."

Theo Văn phòng Nội các Nhật Bản, Nhật Bản đã chi 6,3 nghìn tỷ USD cho đầu tư cơ sở hạ tầng công định hướng xây dựng trong giai đoạn 1991 đến tháng 9 năm 2009. Chi tiêu đạt đỉnh vào năm 1995 và duy trì ở mức cao cho đến đầu những năm 2000. Sau những năm 2000, chi tiêu được cắt giảm do lo ngại ngày càng tăng về thâm hụt ngân sách và nợ công của đất nước.

Vấn đề "Con đường đến hư vô" và chi tiêu "thịt heo"

Trong những năm chi tiêu cao, các nền kinh tế địa phương bắt đầu phụ thuộc vào các nhà lãnh đạo chính phủ tại Tokyo để tạo việc làm. Các nhà lãnh đạo này là thành viên của Đảng Dân chủ Tự do; họ sử dụng chi tiêu chính phủ như công cụ để mua phiếu bầu nông thôn và biến quốc gia thành một nhà nước phúc lợi dựa trên các công trình công cộng.

Theo Martin Fackler, hầu hết các nhà kinh tế Nhật Bản tin rằng đất nước của họ "đã chi nhiều tiền hơn mức cần thiết, nhưng lại lãng phí quá nhiều vào những con đường đến hư vô và các dự án không cần thiết khác".

Trong khảo sát về các công trình công cộng trong thập niên 1990, Tiến sĩ Ihori tại Đại học Tokyo kết luận rằng chi tiêu cho các dự án cơ sở hạ tầng hầu như không tạo ra tăng trưởng kinh tế bổ sung. Ông phát hiện ra rằng hiện tượng "chèn ép", "lấn át" (crowding out) đầu tư tư nhân bắt đầu diễn ra do chi tiêu chính phủ khổng lồ. Theo ông, những người hưởng lợi duy nhất từ việc tạo việc làm là công nhân ngành xây dựng tập trung ở khu vực nông thôn. Nghiên cứu của ông cũng kết luận rằng quá nhiều chi tiêu đã đổ vào việc xây dựng quá mức một quốc gia vốn đã phát triển dày đặc.

Các nhà phê bình các dự án này cũng cho rằng quyết định chi tiêu được đưa ra sau cánh cửa đóng kín bởi các chính trị gia, nhân viên ngành xây dựng và quan chức hành chính, thường cân nhắc lợi ích chính trị và cá nhân hơn là phát triển kinh tế của đất nước.

Phân tích chi phí - lợi ích: Bài học về hiệu quả đầu tư

Một nghiên cứu phân tích chi phí - lợi ích do Viện Chính quyền Địa phương Nhật Bản (một nhóm nghiên cứu chính sách phi lợi nhuận) thực hiện năm 1998 cho thấy:

"Mỗi 1 nghìn tỷ yên (11,2 tỷ USD) chi cho các dịch vụ xã hội như chăm sóc người cao tuổi và chi trả lương hưu hàng tháng đã bổ sung 1,64 nghìn tỷ yên vào tăng trưởng. Tài trợ cho trường học và giáo dục mang lại mức tăng thậm chí lớn hơn: 1,74 nghìn tỷ yên. Nhưng mỗi 1 nghìn tỷ yên chi cho các dự án cơ sở hạ tầng trong thập niên 1990 chỉ làm tăng GDP của Nhật Bản – thước đo quy mô kinh tế tổng thể – thêm 1,37 nghìn tỷ yên, chủ yếu thông qua tạo việc làm và các cải thiện khác như giảm thời gian di chuyển."

Dựa trên nghiên cứu trên, một nền kinh tế tiên tiến như Nhật Bản lẽ ra nên chi tiền kích thích vào nguồn nhân lực trả lương cao (dài hạn) và các ngành nghề dựa trên tri thức như chăm sóc sức khỏe, công nghệ và giáo dục.

"Nhìn lại, Nhật Bản lẽ ra nên xây dựng các công trình công cộng giải quyết những vấn đề mà đất nước đang đối mặt ngày nay, như già hóa dân số, năng lượng và nguồn thực phẩm," Giáo sư danh dự về tài chính công Takehiko Hobo tại Đại học Shimane ở Matsue nhận định. "Sự ám ảnh với việc xây dựng đường xá này là di tích từ một thời đại trước đó."

Ví dụ điển hình: Những "con voi trắng" tại Shimane

Hậu quả của sự ám ảnh này hiện rõ khắp Shimane, một tỉnh nông thôn có diện tích tương đương Delaware, nơi có thành phố Hamada. Mỗi thị trấn dường như đều có bảo tàng nghệ thuật riêng, trung tâm thể thao mái vòm và điểm du lịch do chính phủ xây dựng như Bảo tàng Cát Nima – một chiếc đồng hồ cát khổng lồ trong kim tự tháp kính. Tỉnh này, với 740.000 dân, thậm chí có ba sân bay thương mại có khả năng xử lý máy bay phản lực, bao gồm Sân bay Hagi-Iwami trị giá 250 triệu USD, nằm trống trải một cách rùng rợn với chỉ hai chuyến bay mỗi ngày.

Tại Hamada, cư dân cho rằng "hakomono" (từ tiếng Nhật tương đương "con voi trắng") dễ thấy nhất của thành phố chính là cây cầu Marine Bridge trị giá 70 triệu USD – một cây cầu "đến hư vô" với nhịp dài 1.006 foot gần như hoàn toàn vắng bóng phương tiện giao thông. Được xây dựng năm 1999, cây cầu nối thành phố với một hòn đảo nhỏ, thưa dân vốn đã được kết nối bằng một cây cầu ngắn hơn.

"Cây cầu ư? Nó là một thất bại," Masahiro Shimada, 70 tuổi, một quan chức thành phố đã nghỉ hưu đang câu cá gần cảng, chia sẻ. "Có lẽ chúng ta có thể dùng nó để nhảy bungee," ông đùa.

Giáo sư danh dự về chính sách Koichi Matsuoka tại Đại học Shimane ở Hamada nhận định: "Những dự án vô dụng như Cầu Marine chính là lý do tại sao nhiều năm chi tiêu khổng lồ lại mang lại rất ít lợi ích dài hạn tại đây". Trong khi Shimane có mức chi tiêu bình quân đầu người cho các công trình công cộng cao nhất Nhật Bản trong 18 năm qua, nhờ các chính trị gia địa phương quyền lực như cựu Thủ tướng Noboru Takeshita đã khuất, thì thu nhập bình quân đầu người hàng năm của tỉnh này là 26.000 USD, xếp thứ 40 trong số 47 tỉnh của Nhật Bản.

Theo ông, khoản chi tiêu này đã để lại cho Shimane khoản nợ 11 tỷ USD, gấp đôi ngân sách hàng năm của chính quyền tỉnh.

Chi phí bảo trì khổng lồ và gánh nặng thuế

Theo Peter Dyloco, những người xây dựng đường đã trải hơn 1,1 triệu km nhựa đường trên khắp đất nước, nhiều hơn gấp bốn lần tổng chiều dài các xa lộ của Vương quốc Anh. "Và chi phí để duy trì cơ sở hạ tầng công cộng của Nhật Bản là xa xỉ đến mức khó tin. Nhật Bản chi trung bình 5% (tương đương 236 tỷ USD) GDP quốc gia để tài trợ cho các dự án bảo trì từ Kyushu đến Hokkaido. Hãy so sánh con số đó với Hoa Kỳ – quốc gia chỉ dành hơn 2% GDP quốc gia cho mục đích tương tự, hoặc với mức khiêm tốn 2,5% của Anh. Để bù đắp sự chênh lệch, phí cầu đường và thuế phương tiện – mức cao nhất trong số các nước phát triển – tiếp tục rút đi những khoản tiền khổng lồ từ người nộp thuế trung bình." [Peter Dyloco, tháng 4/2011]

Nhật Bản có 98 sân bay, và 90% trong số đó không có lãi. Các tuyến đường cao tốc dư thừa kết nối cùng một thành phố mà không có sự khác biệt đáng kể về thời gian và khoảng cách di chuyển. Đồng thời, hầu hết các dự án quan trọng liên quan đến cải thiện hệ thống giáo dục và dịch vụ xã hội của đất nước vẫn bị bỏ ngỏ. Phần lớn chi tiêu cơ sở hạ tầng đang phục vụ lợi ích của các cá nhân tham gia vào ngành công nghiệp dự án xây dựng. Phần lớn khoản chi tiêu này được quy cho chi tiêu "thịt heo" (pork barrel spending) – tức là chi tiêu vì lợi ích chính trị địa phương.

Vấn đề thời điểm và phối hợp chính sách

"Nhật Bản đã không thực hiện tốt việc định thời gian cho các khoản chi tiêu," Michael Smitka, giáo sư kinh tế tại Đại học Washington và Lee, người đã tập trung nghiên cứu Nhật Bản trong gần 30 năm, nhận định. Ông cho rằng việc thực thi chi tiêu cơ sở hạ tầng một cách tùy tiện, kém phối hợp và thường sai thời điểm đã ngăn cản nó tạo ra tác động lớn hơn.

Đảng Dân chủ Tự do – đảng cầm quyền tại Nhật Bản trong suốt thập kỷ – có cơ sở vững chắc ở nông thôn, dẫn đến áp lực chính trị đảm bảo các tỉnh thưa dân nhận được phần của họ. Chi tiêu không nhất thiết được hướng đến các khu vực có nhu cầu kinh tế lớn nhất; trên thực tế, quy trình là phân bổ vốn đồng đều trên tất cả các tỉnh, không có cơ chế để nhắm mục tiêu vốn vào các dự án tại các khu vực đô thị mật độ cao. Các quận nông thôn nhận được nguồn tài trợ không cân xứng, thường để chi cho các dự án ít cần thiết (những cây cầu nhỏ kiểu Nhật "đến hư vô"). Bản thân các dự án thường được hình thành kém, được thiết kế với con mắt hướng nhiều hơn đến chi phí và lợi ích chính trị hơn là tính khả thi về mặt xã hội và kinh tế. Kết quả là các khoản chi tiêu hầu như không có giá trị xã hội nào ngoài công việc được tạo ra bởi các dự án mà chúng tài trợ.

Chính phủ Nhật Bản tiếp tục bơm tiền vào các khoản trợ cấp cho chính quyền địa phương và các thành phố, khuyến khích họ gánh thêm nợ – thứ mà họ đơn giản không thể trả. Các phân tích chi phí - lợi ích được dựa trên các giả định và dự báo lạc quan một cách vô vọng. Một lượng khổng lồ thuế (yên) được earmark cho các sáng kiến bảo trì và xây dựng.

Theo Timon Singh: "Sân bay Ibaraki, trong khi Japan Airlines đang vật lộn với phá sản và gia tăng thua lỗ, lại có tin đất nước đã khai trương sân bay thứ 98 của mình... tuy nhiên nó chỉ cung cấp một chuyến bay mỗi ngày. Sân bay Ibaraki tốn 220 triệu USD để xây dựng và do dịch vụ 'hạn chế', nó đã bị chỉ trích là một sự lãng phí khổng lồ chi tiêu công, đặc biệt khi nó cách Tokyo 50 dặm về phía bắc. Nó được hình thành như một trung tâm cho các hãng hàng không giá rẻ, nhưng việc cắt giảm trên toàn thế giới có nghĩa là sân bay gần như vắng tanh trong ngày đầu khai trương." [Timon Singh]

CẢI CÁCH VÀ SỰ SUY GIẢP TIẾP THEO

Chính phủ của Thủ tướng Junichiro Koizumi (2001-2006) bắt đầu thực hiện các biện pháp cải cách, chẳng hạn như kiềm chế chi tiêu xây dựng đường cao tốc, tư nhân hóa dịch vụ bưu chính Nhật Bản và cải cách hệ thống ngân hàng. Nhưng vào năm 2001, nền kinh tế toàn cầu chịu thêm những cú sốc do các vụ tấn công khủng bố tại Hoa Kỳ, dẫn đến suy thoái toàn cầu và sự vỡ bong bóng Dot-com, điều này dẫn đến sự phản đối nhiều hơn đối với chủ nghĩa bảo thủ tài khóa của Thủ tướng.

Hiện nay, nợ công của Nhật Bản chiếm hơn 200% GDP hàng năm của quốc gia – mức cao nhất trong số các quốc gia trên thế giới. Năm 2009, tổng nợ công vượt quá 170% GDP, biến Nhật Bản thành quốc gia nợ nần nhiều nhất trong số các nền kinh tế lớn trên thế giới. Thâm hụt ngân sách lớn và nợ chính phủ kể từ cuộc suy thoái toàn cầu năm 2009, tiếp theo là trận động đất và sóng thần vào tháng 3 năm 2011, đã gây thiệt hại thậm chí còn lớn hơn cho một nền kinh tế vốn đã trì trệ. Vào tháng 8 năm 2011, Moody's đã hạ xếp hạng nợ chủ quyền dài hạn của Nhật Bản một bậc từ Aa3 xuống Aa2, phù hợp với quy mô thâm hụt và mức nợ của đất nước.

KẾT LUẬN VÀ BÀI HỌC CHÍNH SÁCH

Nghiên cứu về "Những thập kỷ mất mát" của Nhật Bản cung cấp nhiều bài học quý giá cho các nhà hoạch định chính sách:

Chất lượng quan trọng hơn số lượng: Chi tiêu công khổng lồ không tự động dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Hiệu quả sử dụng vốn và lựa chọn dự án có giá trị xã hội thực sự là yếu tố then chốt.

Cân bằng giữa "cứng" và "mềm": Đầu tư vào nguồn nhân lực, giáo dục, y tế và công nghệ thường mang lại lợi ích dài hạn lớn hơn so với đầu tư vào cơ sở hạ tầng vật lý truyền thống.

Tránh bẫy chính trị địa phương: Chi tiêu công không nên bị chi phối bởi động cơ chính trị ngắn hạn hay lợi ích nhóm. Cơ chế phân bổ vốn cần dựa trên phân tích nhu cầu kinh tế thực sự và đánh giá chi phí - lợi ích khách quan.

Quản lý nợ công bền vững: Kích thích tài khóa có thể cần thiết trong ngắn hạn, nhưng nếu không đi kèm với chiến lược giảm thâm hụt dài hạn, nó có thể dẫn đến gánh nặng nợ công không bền vững, hạn chế không gian chính sách trong tương lai.

Thời điểm và phối hợp chính sách: Hiệu quả của chính sách kích thích phụ thuộc không chỉ vào quy mô, mà còn vào thời điểm thực thi và sự phối hợp giữa các công cụ tài khóa, tiền tệ và cấu trúc.

Nhật Bản không phải là trường hợp duy nhất đối mặt với thách thức này. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, bài học từ "thập kỷ mất mát" của Nhật Bản vẫn còn nguyên giá trị đối với bất kỳ quốc gia nào tìm cách sử dụng chính sách công để thúc đẩy tăng trưởng bền vững.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Michael, Skocpol. Finding the Lessons of Japan's Lost Decade, Ngày 17 tháng 2 năm 2009.

Peter Dyloco. FEATURE: The Excesses of Japan's Construction Industry, Ngày 8 tháng 4 năm 2011.

Martin Fackler. Japan's Big-Works Stimulus Is Lesson, Ngày 5 tháng 2 năm 2009, The New York Times.

Peter Dyloco. Japan's infrastructure excesses, Ngày 11 tháng 4 năm 2011.

Timon Singh. Japan's wasteful infrastructure spending, Asian Infrastructure.

Ronald Utt. Learning from Japan: Infrastructure Spending Won't Boost the Economy, Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Heritage Foundation.

MLIT Japan. Land Prices in Japan from 1974 to 2007.

Adam Zemel. Lessons from Japan: How to Avoid A "Lost Decade" in America, Ngày 9 tháng 2 năm 2009.

Wikipedia. Lost Decade (Japan).

Barry Nielsen. The Lost Decade: Lessons From Japan's Real Estate Crisis, Ngày 23 tháng 7 năm 2008, Investopedia.


Nguồn bài viết này: https://scholarworks.sjsu.edu/cgi/viewcontent.cgi?article=1308&context=etd_projects

1 nhận xét: