Thứ Bảy, 7 tháng 2, 2026

Nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành từ trần

Nguyên Phó Thủ tướng Đoàn Duy Thành từ trần
Theo Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), nguyên Phó Thủ tướng, nguyên Chủ tịch VCCI Đoàn Duy Thành vừa qua đời vào sáng 6/2. Hôm qua bận quá, tôi chỉ đưa lại bài của Fb Lợi Phan Mai nhan đề: "Vĩnh biệt ông Thành, người chọn làm người trong những lúc khó nhất". Giờ tôi viết mấy dòng về ông.
Theo trang Bác Thành là Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) từ tháng 11/1990 đến đầu năm 1993. Tôi làm việc tại Viện từ năm 1982 ngay từ khi ra trường, nhưng lúc bác Thành về làm Viện trưởng thì tôi đang học ở Pháp. Đầu năm 1991 sau một thời gian học ở Pháp về nước, tôi mới biết bác Thành.

Đối với tôi, có những người lãnh đạo để lại dấu ấn bằng chức vụ, nhưng tôi ít quan tâm tới loại lãnh đạo này. Tôi chỉ quan tâm tới những người để lại dấu ấn bằng cách họ đối xử với công việc bằng tư duy liên tục sáng tạo và đổi mới. Với tôi, bác Đoàn Duy Thành thuộc về nhóm thứ hai.

Tôi về nước đúng dịp bác Thành tổ chức một buổi làm việc với đơn vị của tôi. Bác lắng nghe lãnh đạo đơn vị báo cáo, sau đó nghe từng cán bộ trình bày chuyên ngành đã học, công việc đang làm và nguyện vọng sắp tới. Trong đời làm cán bộ nhà nước của tôi, tôi chưa gặp bất kỳ lãnh đạo nào lại quan tâm chi tiết tới từng cán bộ như vậy.

Ấn tượng nhất đối với tôi là khi tôi trình bày kinh nghiệm trong điều chỉnh chính sách kinh tế xã hội của Pháp khi xử lý tình huống khủng hoảng chiến tranh vùng Vịnh làm giá dầu thế giới tăng vọt, ảnh hưởng rất mạnh tới kinh tế Pháp (xem tóm tắt Chiến tranh Vùng Vịnh ở dưới), ông Thành lập tức có sự quan tâm đặc biệt. Rồi khi tôi nói khi cuộc chiến bắt đầu nổ ra vào ngày 2 tháng 8 năm 1990, thì ngay 8 giờ sáng ngày hôm sau, trên mặt bàn của lãnh đạo Chính phủ và các Bộ ngành của Pháp, đã có ngay báo cáo dự báo diễn biến chiến sự và các kịch bản ảnh hưởng tới kinh tế Pháp cũng như các giải pháp xử lý để chống khủng hoảng kinh tế. Các bạn còn nhớ đây cũng là thời điểm khối Liên Xô tan vỡ và đang có ảnh hưởng rất mạnh tới kinh tế Việt Nam.

Tiếp theo ông đã hỏi tại sao Pháp có thể phản ứng nhanh như thế. Tôi trả lời vì Pháp đã có nhiều mô hình kinh tế lượng và mô hình vào ra rất tốt để phân tích kinh tế, mô phỏng các kịch bản chính sách đối phó và dự báo các kịch bản tăng trưởng tương lai để lựa chọn. Các mô hình này có sẵn trên máy tính; khi nổ ra chiến tranh vùng Vịnh, họ chỉ cần thay đổi các thông tin đầu vào nên rất nhanh chóng đưa ra các kịch bản phân tích dự báo để lãnh đạo Chính phủ và các Bộ, ngành lựa chọn, quyết định. Ngay sau đó, bác yêu cầu phải học cách làm của người Pháp...

Ấn tượng thứ hai của tôi về bác Thành là bác cư xử rất văn minh và tôn trọng cán bộ cấp dưới. CIEM thời kỳ đó vẫn còn là đầu não về quản lý kinh tế của cả nước, vừa là một cơ quan ngang Bộ, vừa là một Ban của Đảng, là cơ quan duy nhất trên cả nước có cả hai con dấu quốc huy hình tròn và dấu cơ quan đảng hình chữ nhật, cũng là cơ quan duy nhất trên cả nước có quyền cho phép các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp... được phép làm trái pháp luật với danh nghĩa thí điểm phương thức, mô hình mới về đổi mới quản lý kinh tế. Đảng và Nhà nước, nhất là Tổng bí thư Đỗ Mười, vẫn coi CIEM là nơi có tư duy cải cách kinh tế phù hợp với điều kiện Việt Nam (cải cách tuần tự, không phải theo liệu pháp "sốc") và không xem CIEM là viện nghiên cứu thuần học thuật. Chính vì thế Viện trưởng mới là các nguyên Bí thư trung ương Đảng, Bí thư thành ủy Hà Nội và Phó thủ tướng với hy vọng Viện tiếp tục có nhiều đề xuất chính sách cho công cuộc Đổi Mới.

Lúc bác Thành về CIEM, cơ quan tôi có nhiều chuyện bị dư luận coi là bê bối, liên quan tới những người lãnh đạo hàng đầu trong cơ quan. Vì đây là cơ quan trung ương quan trọng, đồng thời có rất nhiều thái tử đảng đang công tác ở đây, nên việc xử lý rất khó khăn. Tôi lại nằm ở vị trí trung gian giữa nhiều nhân vật trong các vụ bê bối. Tôi vừa về nước, đã bị một đồng chí lãnh đạo Viện gọi lên hỏi tình hình, yêu cầu viết các bản tường trình về các vụ việc (tôi rất quý bác này, bác cũng rất tốt với tôi, sau khi Viện bị hạ cấp, đưa vào Ủy ban Kế hoạch Nhà nước), bác chuyển sang làm Phó chủ nhiệm Văn phòng Chủ tịch nước). Sau đó bác Thành cũng gọi tôi lên hỏi tình hình Viện (mặc dù tôi đã ra nước ngoài gần 2 năm, vừa mới về) và các vụ bê bối...

Sau đó ít hôm, bác Thành tổ chức một cuộc họp công khai toàn viện cả buổi sáng để tôi đối chất với những người có liên quan. Tôi chỉ là chuyên viên, họ là lãnh đạo, tôi không phải thái tử đảng, họ là thái tử đảng, tôi không dính dáng gì tới các bê bối, nhưng biết các vụ bê bối và tôi đấu tranh chỉ để bảo vệ người tốt, bảo công lý, chứ không có gì liên quan tới tôi hết. Cuối cùng bác Thành kết luận, ủng hộ tôi.

Trong thời gian bác Thành làm lãnh đạo Viện, bác luôn luôn trân trọng và quan tâm tới công việc của các nhân viên. Bác đã đề bạt rất nhiều cán bộ, điều trước đây gần như không bao giờ thấy. Bác cũng đặt vấn đề đề bạt tôi, nhưng tôi từ chối, tôi cũng từ chối vào đảng, vì tôi nói thẳng là tôi muốn ra nước ngoài học dài hạn, dính vào chức vụ sẽ rất khó đi.

Tóm lại, bác Đoàn Duy Thành là một trong những nhà lãnh đạo kinh tế thuộc thế hệ đầu của thời kỳ Đổi Mới mà tôi có may mắn được trực tiếp làm việc cùng tại Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Ấn tượng rõ nhất của tôi về bác không chỉ nằm ở cương vị từng giữ trong bộ máy nhà nước, mà ở tinh thần cởi mở trí tuệ và sự quan tâm thực chất đến tư duy quản lý hiện đại. Bác lắng nghe rất kỹ các trình bày chuyên môn, đặc biệt hứng thú với các phương pháp phân tích và dự báo kinh tế hiện đại. Điều đáng quý ở ông là tinh thần đổi mới không dừng ở khẩu hiệu. Bác khuyến khích tranh luận học thuật, tôn trọng lập luận dựa trên bằng chứng và tạo không gian để cán bộ nghiên cứu trẻ trình bày các cách tiếp cận mới. Thời gian bác làm Viện trưởng CIEM không dài, chỉ khoảng hai năm, nên chưa kịp in dấu bằng những chương trình cải cách mang tính bước ngoặt. Nhưng với những người làm việc gần bác, có thể thấy rõ một phẩm chất hiếm: sự sẵn sàng tiếp nhận tư duy mới và mong muốn đưa khoa học phân tích hệ thống vào điều hành kinh tế
(lãnh đạo hiện nay không ai quan tâm tới điều này, việc ban hành Nghị định số 46/2026/NĐ-CP về kiểm tra hàng hóa xuất nhập khẩu là ví dụ điển hình). Đó là một hạt giống tinh thần cải cách đáng được ghi nhớ vì có chiều sâu.

Thời bác Thành đất nước có cái may là cán bộ lên chức, xuống chức, thay đổi vị trí công tác lên rồi xuống, xuống rồi lên... là việc rất bình thường. Bác Thành đang là Phó thủ tướng về làm Bộ trưởng, rồi Viện trưởng, rồi Chủ tịch phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam cũng là việc rất bình thường. Bác Nguyễn Văn Linh mất chức Bí thư thành ủy tp HCM, rồi sau này vẫn thành Tổng bí thư. Xa hơn, bác Trường Chinh cũng mất chức Tổng bí thư, sau 30 năm lại trở lại là Tổng bí thư... Đáng tiếc sau này xã hội coi người xuống chức là xấu, bị chê cười, nên quan chức cứ cố bám lấy chức, và chỉ có leo lên, đã bị xuống là xin nghỉ hưu luôn. 

Xin được tưởng nhớ bác với lòng kính trọng và biết ơn của một người từng được làm việc với bác và học hỏi được nhiều điều ở bác.

Chiến tranh Vùng Vịnh năm 1991 (cũng gọi là Chiến tranh vịnh Ba Tư hay Chiến dịch Bão táp Sa mạc) là một cuộc xung đột giữa Iraq và liên minh gần 38 quốc gia do Hoa Kỳ lãnh đạo và được Liên Hợp Quốc phê chuẩn để giải phóng Kuwait.

Sự kiện dẫn tới chiến tranh là việc Iraq xâm chiếm Kuwait ngày 2 tháng 8 năm 1990, sau khi Iraq cho rằng (nhưng không chứng minh được) Kuwait đã "khoan nghiêng" giếng dầu của họ vào biên giới Iraq. Hậu quả của cuộc xâm chiếm là Iraq ngay lập tức bị Liên Hợp Quốc áp đặt trừng phạt kinh tế. Những hành động quân sự bắt đầu từ tháng 1 năm 1991, dẫn tới 1 thắng lợi hoàn toàn của các lực lượng đồng minh, buộc quân đội Iraq phải rút khỏi Kuwait với tổn thất nhân mạng ở mức tối thiểu cho lực lượng đồng minh. Tuy nhiên, cuộc xung đột này dẫn đến giá dầu tăng vọt, khi giá dầu thô gần như tăng gấp đôi từ 20 đô la lên 40 đô la một thùng, làm tăng lạm phát và giảm chi tiêu của người tiêu dùng.

Cuộc suy thoái kinh tế do Chiến tranh vùng Vịnh bắt đầu vào tháng 7 năm 1990 và kết thúc vào tháng 3 năm 1991, kéo dài tổng cộng tám tháng. Mặc dù tương đối ngắn so với các cuộc suy thoái khác, nó đã tác động đáng kể đến đầu tư kinh doanh và thị trường tài chính quốc tế. Ở Hoa Kỳ, Kỷ nguyên Reagan với tỷ lệ tăng trưởng cao và kinh tế thịnh vượng kéo dài suốt thập kỷ 1980 đã chính thức chấm dứt. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 5,5% lên 7,8% trong thời kỳ suy thoái. Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm 1,4% trongo năm 1991, trong đó sản xuất công nghiệp giảm 4,5%. Kết quả là, nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản hoặc thu hẹp quy mô, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất, xây dựng và bán lẻ. Cuộc suy thoái kinh tế do Chiến tranh vùng Vịnh gây ra cũng đã để lại hậu quả vượt ra ngoài phạm vi Hoa Kỳ, với các quốc gia như Pháp, Đức, Canada, Vương quốc Anh và Úc cũng trải qua suy thoái kinh tế trong cùng thời kỳ. Tính chất toàn cầu của cuộc suy thoái đã làm nổi bật sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế quốc gia và tầm quan trọng của hợp tác kinh tế quốc tế trong việc quản lý khủng hoảng.
---------

Ông Đoàn Duy Thành - người mở lối đi xa

Trương Khắc Trà • 06/02/2026 - Từ xí nghiệp thời bao cấp đến nhà hoạch định chính sách ở cấp chiến lược, ông Đoàn Duy Thành là hình ảnh tiêu biểu của một lãnh đạo đi lên từ kinh tế thực, dám “xé rào” để mở đường cho cải cách.
Ông Đoàn Duy Thành - nhà lãnh đạo kỹ trị thế hệ tiên phong

Ông Đoàn Duy Thành (1929 - 2026) là một trong những gương mặt tiêu biểu của lớp lãnh đạo tiên phong tư duy đổi mới trong giai đoạn chuyển mình đầy khó khăn của kinh tế Việt Nam. Sinh ngày 15/9/1929, quê Hải Dương (cũ), ông trưởng thành từ thực tiễn quản lý và để lại dấu ấn đậm nét với tinh thần cải cách quyết liệt, thường được nhắc đến bằng cụm từ “xé rào” trong đường lối kinh tế.

Trong sự nghiệp công tác, ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng giai đoạn 1987 - 1990, thời kỳ bản lề của công cuộc Đổi mới. Trên cương vị lãnh đạo, ông ủng hộ mạnh mẽ việc nới lỏng cơ chế quản lý cứng nhắc, mở rộng quyền chủ động cho địa phương và doanh nghiệp, thúc đẩy ngoại thương và hội nhập kinh tế.

Sau những năm tháng hoạt động cách mạng và tham gia lãnh đạo cấp ủy tại Hải Phòng, từ năm 1958, ông Đoàn Duy Thành gần như trọn đời gắn bó với doanh nghiệp và quản lý kinh tế, với quãng thời gian lên tới 45 năm. Ít có nhà lãnh đạo nào đi một hành trình dài và liền mạch như vậy, từ tầng nấc thấp nhất của hoạt động sản xuất - phân phối cho tới cấp điều hành vĩ mô của nền kinh tế.

Ông bắt đầu ở những vị trí điển hình thời bao cấp: Chủ nhiệm các công ty bách hóa, bông vải sợi, may mặc, những đơn vị trực tiếp đối diện với thiếu thốn, ách tắc và cơ chế quản lý cứng nhắc. Chính từ thực tiễn ấy, ông tích lũy kinh nghiệm điều hành và dần được giao những trọng trách lớn hơn, trở thành Chủ tịch Thành phố Hải Phòng, rồi Bộ trưởng Bộ Ngoại thương và sau cùng là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng - cương vị tương đương Phó Thủ tướng.

Chính nhờ quá trình thực tiễn phong phú, ông Thành trở thành một nhà lãnh đạo kỹ trị hiếm hoi trong giai đoạn đầu của công cuộc Đổi mới. Đi ra từ doanh nghiệp rồi quay trở lại hoạch định đường lối cho doanh nghiệp, ông hiểu sâu sắc những “điểm nghẽn” của nền kinh tế kế hoạch hóa: từ cơ chế xin - cho, hạn chế quyền tự chủ, cho tới sự thiếu vắng một môi trường pháp lý minh bạch.

Vì vậy, trong tư duy điều hành của ông, cải cách không phải là những khẩu hiệu lớn, mà là những thay đổi cụ thể, có thể đo đếm được, nhằm giải phóng năng lực sản xuất và khơi thông dòng chảy thương mại.

Cách tiếp cận ấy khiến ông Đoàn Duy Thành luôn nhấn mạnh vai trò của doanh nghiệp như một chủ thể phát triển, chứ không đơn thuần là đối tượng quản lý. Ở ông, tư duy quản lý nhà nước gắn chặt với logic thị trường, với hiệu quả và tính khả thi. Chính sự kết hợp giữa trải nghiệm thực tiễn và tư duy chính sách này đã giúp ông để lại dấu ấn đặc biệt trong việc hình thành các thiết chế kinh tế mới, đặt nền móng cho mối quan hệ bình đẳng hơn giữa Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp trong thời kỳ hậu bao cấp.

Bí thư Thành ủy Hà Nội Bùi Thị Minh Hoài trao huy hiệu 80 năm tuổi Đảng cho ông Đoàn Duy Thành - tháng 11/2024 (Ảnh Haiphong.vn)

Đặc biệt, với vai trò Chủ tịch đầu tiên của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam giai đoạn 1993 - 2002, nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) ông Đoàn Duy Thành góp phần đặt nền móng cho việc hình thành tiếng nói đại diện của cộng đồng doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông được đánh giá là nhà lãnh đạo thực tiễn, dám nghĩ, dám làm và sẵn sàng chịu trách nhiệm vì lợi ích phát triển lâu dài của đất nước.

Thứ nhất, xác lập VCCI như “cầu nối” giữa Nhà nước và doanh nghiệp. Trong bối cảnh đầu thập niên 1990, khu vực tư nhân còn non trẻ và chưa có tiếng nói chính thức, ông Thành chủ trương để VCCI không chỉ là tổ chức xúc tiến thương mại, mà trở thành kênh phản ánh khó khăn, kiến nghị chính sách từ cộng đồng doanh nghiệp lên Chính phủ. Đây là bước chuyển tư duy rất mới so với mô hình quản lý hành chính trước đó.

Thứ hai, đặt nền móng cho văn hóa đối thoại chính sách. Dưới sự dẫn dắt của ông, VCCI bắt đầu tham gia góp ý luật, cơ chế kinh tế, đặc biệt liên quan đến thương mại, xuất nhập khẩu và môi trường kinh doanh. Điều này góp phần hình thành thói quen tham vấn doanh nghiệp trong quá trình xây dựng chính sách - một yếu tố cốt lõi của kinh tế thị trường.

Thứ ba, mở hướng hội nhập cho doanh nghiệp Việt. Với kinh nghiệm ngoại thương, ông Thành thúc đẩy VCCI tăng cường quan hệ với các Phòng thương mại quốc tế, hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận thị trường nước ngoài trong giai đoạn Việt Nam vừa thoát bao cấp và bắt đầu mở cửa.

* Ông Đoàn Duy Thành sinh năm 1929 tại thôn Tường Vu, xã Cộng Hòa, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương cũ (nay là Hải Phòng). Ông từng đảm nhiệm các chức vụ Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Ngoại Thương, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó thủ tướng), Bộ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại.

* Sau khi đảm nhiệm chức Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, năm 1993 đến 2002, ông Đoàn Duy Thành làm Chủ tịch đầu tiên của VCCI.

* Ông Đoàn Duy Thành trưởng thành trong một gia đình có truyền thống yêu nước khi ông là cựu tù Côn Đảo. Ông được xem là một trong những lãnh đạo "xé rào" với nhiều quyết sách trong giai đoạn đất nước thời kỳ đầu đổi mới.

* Một trong những dấu ấn lớn của ông Đoàn Duy Thành khi đảm nhiệm vai trò Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng là dự án khai hoang đắp đập Đình Vũ và đê đường 14 năm 1980, mở rộng diện tích đất canh tác, lập nên hai xã mới Hải Thành và Tân Thành.

* Ông cũng tiên phong trong phong trào "Ngói hóa nông thôn", cải thiện đời sống người dân và kiên quyết không thi hành Chỉ thị Z30 về tịch thu nhà dân.

* Vào năm 1986, khi giữ vai trò Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, giữa lúc nền kinh tế siêu lạm phát, ông đã cho nhập 160 tấn vàng để kiềm chế lạm phát, đồng thời xóa bỏ độc quyền ngoại thương, mở đường cho doanh nghiệp tự chủ trong xuất nhập khẩu.

* Đặc biệt, nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, nguyên Chủ tịch VCCI Đoàn Duy Thành đã để lại nhiều dấu ấn trong việc xây dựng và phát triển Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam nay là Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Ông Đoàn Duy Thành sinh năm 1929 tại thôn Tường Vu, xã Cộng Hòa, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương cũ (nay thuộc Hải Phòng).

Ông từng đảm nhiệm nhiều vị trí quan trọng như Bí thư Thành ủy Hải Phòng, Bộ trưởng Bộ Ngoại thương, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (Phó Thủ tướng) và Bộ trưởng Bộ Kinh tế đối ngoại

Sau khi giữ cương vị Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, trong giai đoạn từ năm 1993-2002, ông Đoàn Duy Thành là Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).

Trên cả cương vị quản lý nhà nước lẫn khi trực tiếp tham gia lãnh đạo tổ chức đại diện doanh nghiệp, ông Đoàn Duy Thành luôn theo đuổi nhất quán mục tiêu tạo dựng môi trường kinh doanh thông thoáng, khuyến khích sản xuất và thúc đẩy hội nhập.

Ở địa phương, trên cương vị Bí thư Thành ủy Hải Phòng, ông ghi dấu ấn bằng những chủ trương mạnh dạn nhằm mở rộng không gian phát triển kinh tế, cải thiện đời sống người dân như dự án khai hoang, đắp đê Đình Vũ, hình thành các vùng dân cư mới, hay phong trào “ngói hóa nông thôn”.

Khi ông đảm nhiệm vị trí Bộ trưởng Ngoại thương, những quyết sách như nhập khẩu vàng để góp phần kiềm chế lạm phát, đồng thời từng bước xóa bỏ cơ chế độc quyền ngoại thương, mở rộng quyền tự chủ cho doanh nghiệp trong hoạt động xuất nhập khẩu đã giúp khơi thông dòng chảy thương mại, tạo điều kiện cho sản xuất - kinh doanh phát triển.

Trong giai đoạn giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Phó Thủ tướng Chính phủ) từ năm 1987-1990, ông tham gia thúc đẩy các chính sách cải cách kinh tế quan trọng, tháo gỡ rào cản cơ chế bao cấp, khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển, góp phần đặt nền móng cho môi trường kinh doanh cởi mở hơn trong thời kỳ đổi mới.

Dưới sự lãnh đạo của ông, VCCI từng bước chuyển mình mạnh mẽ, trở thành tổ chức quốc gia tập hợp và đại diện cho cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân, người sử dụng lao động và các hiệp hội doanh nghiệp.

Ông chú trọng mở rộng các hoạt động hỗ trợ thiết thực cho doanh nghiệp, từ xúc tiến thương mại, kết nối hợp tác, đến tham gia góp ý, kiến nghị chính sách nhằm cải thiện môi trường kinh doanh. Đồng thời, VCCI cũng được thúc đẩy tăng cường quan hệ hợp tác quốc tế, xây dựng uy tín với các đối tác nước ngoài, qua đó giúp doanh nghiệp Việt Nam có thêm cơ hội tiếp cận thị trường và hội nhập sâu rộng hơn.

https://vietnamnet.vn/nguyen-pho-thu-tuong-doan-duy-thanh-tu-tran-2488472.html

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét