Tiền của chúng ta đã đi đâu hết rồi?
Việt Nam đã trải qua gần 40 năm Đổi mới, tạo nên một kỳ tích tăng trưởng kinh tế đáng ghi nhận. Từ một nền kinh tế nghèo nàn, thiếu thốn, chúng ta đã trở thành một nước có thu nhập trung bình, tham gia sâu rộng vào thương mại quốc tế, xây dựng được hệ thống hạ tầng ngày càng hiện đại và cải thiện đáng kể đời sống vật chất của hàng chục triệu người.
Chúng ta nghe nói về những mục tiêu tăng trưởng cao, những dự án hàng chục nghìn tỷ đồng, những khu đô thị mới, những tuyến đường cao tốc, những nhà máy hiện đại và kim ngạch xuất khẩu ngày càng lớn. Nhưng khi trở về với cuộc sống thường ngày, nhiều gia đình vẫn phải tính toán từng khoản chi, lo tiền mua nhà, tiền học cho con, tiền khám chữa bệnh và tiền dưỡng già. Không ít người làm việc cả đời mà vẫn chưa có được một căn nhà phù hợp với thu nhập của mình.
Vấn đề không phải là phủ nhận thành tựu phát triển. Việt Nam ngày nay rõ ràng giàu có hơn Việt Nam 30 hay 40 năm trước. Vấn đề là tại sao sự giàu có tăng lên của toàn xã hội lại chưa chuyển hóa tương xứng thành cảm giác an toàn, sung túc và tự do lựa chọn trong cuộc sống của một bộ phận lớn người dân.
Nếu tăng trưởng kinh tế cuối cùng không giúp con người có cuộc sống tốt hơn, có thêm thời gian nghỉ ngơi, ít lo lắng hơn về tương lai và có điều kiện chăm sóc gia đình tốt hơn, thì chúng ta cần nghiêm túc xem xét chất lượng của tăng trưởng.
Vậy tiền của chúng ta đã đi đâu? Của cải do nền kinh tế tăng trưởng 8-10% tạo ra đã chuyển hóa thành những gì trong đời sống của người dân ?
Tôi không có ý định đưa ra một phép tính tổng thể về dòng chảy của cải trong nền kinh tế. Nhưng từ góc nhìn kinh tế học, có thể nhận diện một số cơ chế khiến những nguồn lực mà xã hội vất vả tạo ra không chuyển hóa đầy đủ thành phúc lợi của người dân.
1. Chúng ta đã dành quá nhiều nguồn lực cho nhà ở và đất đai, nhưng khả năng có nhà của người dân vẫn khó khăn.
Nhà ở là nhu cầu thiết yếu, nhưng đồng thời cũng là một loại tài sản có thể trở thành công cụ đầu cơ. Khi giá đất và giá nhà tăng nhanh hơn thu nhập, một bộ phận người sở hữu đất đai và bất động sản có thể trở nên giàu lên mà không cần tạo ra lượng giá trị sản xuất tương ứng. Ngược lại, những người chưa có nhà phải dành ngày càng nhiều năm lao động để mua một tài sản cơ bản.
Hãy hình dung một gia đình phải tích lũy trong 20 năm mới mua được căn hộ. Trong suốt thời gian đó, họ phải dành một phần lớn thu nhập cho tiền thuê nhà hoặc trả nợ mua nhà. Số tiền ấy không còn để đầu tư vào giáo dục, chăm sóc sức khỏe, khởi nghiệp hay nâng cao chất lượng cuộc sống.
Xây dựng nhà ở tự nó không phải là lãng phí. Một căn nhà đáp ứng nhu cầu thực sự tạo ra giá trị sử dụng rất lớn. Vấn đề xuất hiện khi nguồn lực đổ vào những dự án không phù hợp với nhu cầu, khi đất đai bị găm giữ chờ tăng giá, khi nhà ở trở thành công cụ đầu cơ và khi giá tài sản tăng nhanh hơn khả năng chi trả của người dân.
Một nền kinh tế có thể xây dựng rất nhiều căn hộ, khu đô thị và biệt thự, nhưng vẫn không giải quyết được nhu cầu nhà ở nếu sản phẩm được tạo ra không phù hợp với khả năng tài chính của những người cần nhà nhất.
Đáng lo ngại hơn, giá nhà tăng không tự động làm xã hội giàu lên tương ứng. Nếu một căn nhà hôm nay tăng giá gấp đôi nhưng không tạo thêm diện tích sử dụng, dịch vụ hay năng lực sản xuất nào, thì phần lớn sự tăng giá đó chỉ làm thay đổi giá trị tài sản trên giấy và phân phối lại quyền sở hữu giữa các nhóm dân cư.
2. Những công trình hạ tầng không được sử dụng hiệu quả có thể ngốn một phần lớn nguồn lực xã hội.
Việt Nam rất cần đường cao tốc, cảng biển, sân bay, đường sắt, hệ thống điện và hạ tầng số. Những công trình này có thể giảm chi phí vận chuyển, mở rộng thị trường, nâng cao năng suất và tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển.
Nhưng không phải cứ bỏ tiền xây dựng là tạo ra giá trị tương ứng.
Một tuyến đường kết nối các trung tâm sản xuất lớn, giúp hàng hóa vận chuyển nhanh hơn và doanh nghiệp giảm chi phí, có thể đem lại lợi ích kinh tế trong nhiều thập kỷ. Ngược lại, một công trình được đầu tư quá sớm, có lưu lượng sử dụng thấp, kết nối thiếu đồng bộ hoặc không gắn với nhu cầu phát triển thực tế có thể trở thành gánh nặng duy tu, bảo dưỡng và chi phí cơ hội.
Mỗi đồng vốn đầu tư đều có một phương án sử dụng khác đã bị từ bỏ. Nếu một dự án kém hiệu quả tiêu tốn hàng nghìn tỷ đồng, thiệt hại không chỉ là số tiền xây dựng, mà còn là những trường học, bệnh viện, hệ thống cấp nước, công trình chống ngập hoặc khoản đầu tư nâng cao năng suất mà xã hội có thể đã thực hiện.
Vì vậy, điều cần quan tâm không phải là một địa phương xây được bao nhiêu công trình, một nhiệm kỳ khánh thành bao nhiêu dự án, mà là những công trình ấy tạo ra bao nhiêu lợi ích kinh tế – xã hội trong suốt vòng đời của chúng.
Một nền kinh tế không thiếu khả năng xây dựng có thể vẫn thiếu năng lực lựa chọn đúng thứ cần xây dựng.
3. Vốn đầu tư có thể tăng nhanh nhưng hiệu quả sử dụng vốn rất thấp.
Việt Nam nhiều năm duy trì tỷ lệ đầu tư cao so với GDP. Đây là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng, nhưng đầu tư nhiều không đồng nghĩa với việc mỗi đồng vốn tạo ra nhiều giá trị.
Nếu doanh nghiệp phải đầu tư ngày càng nhiều máy móc, nhà xưởng và vốn lưu động mới tạo ra được một đơn vị sản lượng tăng thêm, điều đó cho thấy hiệu quả sử dụng vốn có thể đang suy giảm. Nếu vốn tập trung vào những ngành có lợi nhuận chủ yếu nhờ đất đai, chênh lệch giá tài sản hoặc ưu đãi, trong khi doanh nghiệp sản xuất có năng suất cao lại khó tiếp cận vốn, thì cơ cấu đầu tư cũng cần được xem xét lại.
Một vấn đề khác là chất lượng liên kết giữa khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. FDI tạo ra việc làm, xuất khẩu, công nghệ và nguồn thu ngoại tệ. Nhưng nếu phần lớn giá trị gia tăng, công nghệ cốt lõi và năng lực nghiên cứu nằm ngoài Việt Nam, còn doanh nghiệp nội địa chủ yếu cung cấp những dịch vụ hoặc đầu vào có giá trị thấp, thì tác động lan tỏa của FDI sẽ không tương xứng với quy mô xuất khẩu.
Một nhà máy có thể tạo ra hàng tỷ USD kim ngạch xuất khẩu, nhưng kim ngạch đó không đồng nghĩa Việt Nam giữ lại toàn bộ giá trị. Cần phân biệt doanh thu xuất khẩu với giá trị gia tăng trong nước, thu nhập của người lao động, lợi nhuận thuộc về doanh nghiệp Việt Nam và nguồn thu ngân sách thực tế.
Điều Việt Nam cần không phải là từ bỏ đầu tư hay FDI, mà là chuyển từ tư duy thu hút thật nhiều vốn sang tư duy sử dụng vốn có hiệu quả, nâng cao năng suất và giữ lại ngày càng nhiều giá trị trong nước.
4. Tham nhũng, lợi ích nhóm và thất thoát tài sản công làm hao hụt của cải mà toàn xã hội đã tạo ra.
Đây là vấn đề không thể né tránh khi đặt câu hỏi tiền của xã hội đã đi đâu.
Một dự án có thể bị đội vốn do lập dự toán không chính xác, lựa chọn nhà thầu thiếu cạnh tranh, điều chỉnh thiết kế nhiều lần hoặc cố tình tạo ra những khoản chi không cần thiết. Một khu đất công có thể được chuyển đổi mục đích sử dụng với những điều kiện gây thiệt hại cho lợi ích công. Một quyết định đầu tư có thể phục vụ lợi ích của nhóm có quyền quyết định hơn là lợi ích của cộng đồng.
Trong những trường hợp đó, tiền không nhất thiết biến mất hoàn toàn khỏi nền kinh tế. Nó có thể chuyển từ ngân sách nhà nước sang lợi nhuận của một doanh nghiệp, từ tài sản công sang tài sản tư nhân, hoặc từ nguồn lực dành cho các dịch vụ công sang thu nhập của một nhóm người. Và rồi có thể một lượng lớn tiền đã chạy ra nước ngoài.
Xét từ góc độ xã hội, đây vẫn là sự thất thoát nếu giá trị mà công chúng nhận được thấp hơn giá trị tài sản và nguồn lực mà họ đã phải bỏ ra.
Tham nhũng còn gây ra một tổn thất sâu xa hơn: nó làm sai lệch các quyết định kinh tế. Khi lợi nhuận phụ thuộc vào khả năng tiếp cận quyền lực thay vì năng suất, doanh nghiệp sẽ dành nguồn lực cho quan hệ và vận động thay vì nghiên cứu, đổi mới công nghệ hay đào tạo lao động. Những người có năng lực nhưng thiếu quan hệ có thể bị loại khỏi các cơ hội phát triển.
Nếu tài sản có nguồn gốc bất hợp pháp được chuyển ra nước ngoài hoặc che giấu dưới những hình thức khác, nguồn lực ấy càng khó được sử dụng cho đầu tư sản xuất trong nước. Tuy nhiên, cần phân biệt tài sản tham nhũng với dòng vốn đầu tư ra nước ngoài hợp pháp: không thể mặc nhiên coi mọi khoản chuyển tiền ra nước ngoài là thất thoát.
Chống tham nhũng vì thế không chỉ là yêu cầu về đạo đức và pháp luật. Đó còn là một chính sách kinh tế nhằm bảo vệ hiệu quả phân bổ nguồn lực, khôi phục niềm tin và bảo đảm rằng tài sản công thực sự phục vụ lợi ích công.
5. Có những khoản GDP tăng lên nhưng đóng góp rất ít vào việc nâng cao chất lượng cuộc sống.
GDP đo lường giá trị gia tăng của hoạt động sản xuất trong một thời kỳ. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá quy mô và tốc độ phát triển kinh tế, nhưng không phải thước đo đầy đủ về sự giàu có, phúc lợi hay chất lượng cuộc sống.
Chẳng hạn, một hoạt động sản xuất có thể làm GDP tăng nhưng đồng thời gây ô nhiễm nguồn nước, không khí và đất đai. Sản phẩm được bán ra tạo doanh thu, nhưng cộng đồng phải chịu thêm chi phí xử lý ô nhiễm, điều trị bệnh tật và phục hồi môi trường.
Tương tự, một ngành sử dụng nhiều tài nguyên nhưng tạo ra ít giá trị gia tăng, tiêu hao năng lượng lớn và gây thiệt hại môi trường có thể đóng góp vào GDP hiện tại trong khi làm giảm tài sản tự nhiên của đất nước.
Khi một khu vực bị ô nhiễm và nhà nước phải chi ngân sách để xử lý hậu quả, chi phí xử lý đó có thể tiếp tục được ghi nhận như hoạt động sản xuất dịch vụ. GDP không tự động trừ đi phần tài sản môi trường đã mất. Vì thế, GDP tăng không có nghĩa tổng tài sản thực của xã hội tăng cùng mức.
Điều tương tự cũng xảy ra khi chúng ta chỉ nhìn vào quy mô sản xuất mà không xem xét chất lượng sản phẩm, độ bền của công trình, chi phí vận hành và những tác động tiêu cực kéo dài.
Không thể vì những hạn chế đó mà phủ nhận GDP hoặc coi các ngành sản xuất là vô ích. Vấn đề là phải bổ sung những thước đo khác về năng suất, tài sản quốc gia, sức khỏe, môi trường và phúc lợi để biết tăng trưởng thực sự đem lại điều gì.
6. Có những hoạt động làm GDP tăng nhưng xã hội phải gánh chịu những chi phí lớn.
Rượu bia, thuốc lá và nhiều sản phẩm có tác động tiêu cực đến sức khỏe là những ví dụ dễ nhận thấy. Việc sản xuất và tiêu thụ chúng tạo ra doanh thu, việc làm, lợi nhuận và nguồn thu thuế. Nhưng tiêu dùng quá mức cũng có thể gây bệnh tật, tai nạn, giảm năng suất lao động và làm tăng chi phí điều trị.
Khi một người phải nghỉ việc vì bệnh tật liên quan đến thuốc lá hoặc rượu bia, gia đình mất thu nhập, doanh nghiệp mất ngày công, hệ thống y tế phải dành nguồn lực điều trị. Những tổn thất đó không được thể hiện đầy đủ trong con số doanh thu của ngành sản xuất ban đầu.
Dĩ nhiên, không phải mọi hoạt động tiêu dùng những sản phẩm này đều tạo ra thiệt hại như nhau, và việc đánh giá chi phí xã hội phải dựa trên bằng chứng. Nhưng nguyên tắc kinh tế ở đây rất rõ: doanh thu của một ngành không đồng nghĩa với lợi ích ròng mà ngành đó đem lại cho toàn xã hội.
Tương tự, việc mở rộng một số hoạt động kinh tế chỉ nhằm kích thích chi tiêu ngắn hạn có thể làm GDP tăng trước mắt nhưng không tạo ra năng lực sản xuất, kỹ năng hay tài sản hữu ích lâu dài.
Một nền kinh tế phát triển tốt không chỉ cần sản xuất và tiêu dùng nhiều hơn. Nó còn phải nâng cao chất lượng tiêu dùng, giảm các chi phí xã hội và sử dụng nguồn lực vào những hoạt động tạo ra lợi ích bền vững.
7. Xã hội phải trả một khoản chi phí lớn cho thủ tục, sự chậm trễ và những rào cản không cần thiết.
Trong kinh tế học, chi phí giao dịch là những chi phí phát sinh để tìm kiếm thông tin, đàm phán, hoàn tất thủ tục, giám sát và thực thi hợp đồng. Một mức chi phí giao dịch nhất định là không thể tránh khỏi. Nhưng khi thủ tục phức tạp, quy định thiếu nhất quán và trách nhiệm giữa các cơ quan không rõ ràng, những chi phí này có thể tăng lên rất lớn.
Một doanh nghiệp phải chờ nhiều tháng để hoàn thành thủ tục cần thiết sẽ mất cơ hội kinh doanh. Một dự án đã có vốn nhưng chậm triển khai vì vướng mắc hành chính sẽ làm vốn bị đóng băng. Người lao động mất thời gian đi lại, bổ sung hồ sơ và chờ đợi thay vì làm việc có ích. Cơ quan nhà nước cũng phải huy động nhân lực để xử lý những công việc lẽ ra có thể được đơn giản hóa.
Những chi phí đó không phải lúc nào cũng xuất hiện như một khoản tiền bị mất trong ngân sách. Chúng thường phân tán trong hàng triệu giao dịch, hàng nghìn doanh nghiệp và vô số giờ lao động bị tiêu hao.
Đặc biệt, nếu một thủ tục không tạo thêm giá trị quản lý tương xứng với chi phí tuân thủ mà nó gây ra, thì việc duy trì thủ tục ấy chính là một dạng lãng phí nguồn lực xã hội.
Cải cách hành chính vì vậy không chỉ nhằm giúp người dân thuận tiện hơn. Nó còn là cách trực tiếp nâng cao năng suất của nền kinh tế mà không nhất thiết phải xây thêm nhà máy hay tăng vốn đầu tư.
8. Sự thiếu tin cậy và chất lượng không bảo đảm làm tăng chi phí của toàn xã hội.
Một xã hội vận hành hiệu quả cần có mức độ tin cậy đủ cao giữa người với người, giữa doanh nghiệp với khách hàng và giữa công dân với các tổ chức cung cấp dịch vụ.
Khi hàng hóa thường xuyên không bảo đảm chất lượng, người mua phải trả thêm tiền để kiểm tra, giám định hoặc thay thế. Khi hợp đồng không được thực hiện nghiêm túc, doanh nghiệp phải tăng chi phí giám sát và pháp lý. Khi thông tin thiếu minh bạch, người dân phải dành nhiều thời gian xác minh trước khi đưa ra quyết định.
Một ví dụ khác là tình trạng phải chi thêm tiền để bảo đảm những quyền lợi lẽ ra đã được pháp luật bảo vệ, hoặc phải mua thêm dịch vụ tư nhân chỉ vì không đủ tin tưởng vào chất lượng dịch vụ mà mình đã đóng góp tài chính để được hưởng.
Trong những trường hợp ấy, xã hội phải sử dụng thêm nguồn lực chỉ để phòng ngừa rủi ro do sự thiếu tin cậy gây ra. Đó là nguồn lực không được dành cho đổi mới, sản xuất hay cải thiện đời sống.
Muốn giảm loại chi phí này, không thể chỉ kêu gọi đạo đức. Cần có thể chế minh bạch, quy định dễ hiểu, trách nhiệm giải trình rõ ràng và cơ chế xử lý vi phạm đáng tin cậy. Khi hành vi trung thực được bảo vệ, hành vi gian dối bị xử lý và các quy tắc được thực thi nhất quán, xã hội sẽ tiết kiệm được một lượng lớn nguồn lực.
9. Những quyết định sai lầm có thể phá hủy thành quả của nhiều năm lao động.
Đây có lẽ là dạng lãng phí khó đo lường nhất, nhưng hậu quả có thể lớn nhất.
Một doanh nghiệp đầu tư sai công nghệ có thể mất nhiều năm và một lượng vốn lớn mà không tạo được sản phẩm cạnh tranh. Một địa phương lựa chọn dự án không phù hợp với lợi thế kinh tế có thể phải duy trì một công trình hoạt động kém hiệu quả trong nhiều thập kỷ. Một chính sách được thiết kế không sát thực tế có thể tạo ra những động cơ sai lệch, khiến hàng triệu người và hàng nghìn doanh nghiệp điều chỉnh hành vi theo hướng không có lợi cho năng suất chung.
Trong nền kinh tế thị trường, sai lầm đầu tư là điều không thể loại bỏ hoàn toàn. Điều quan trọng là phải có cơ chế phát hiện sai lầm sớm, công khai chi phí, chấp nhận dừng những dự án không còn hiệu quả và không tiếp tục đổ tiền chỉ để bảo vệ quyết định ban đầu.
Đối với khu vực công, yêu cầu này càng quan trọng bởi người ra quyết định không phải lúc nào cũng trực tiếp chịu toàn bộ hậu quả tài chính của lựa chọn sai. Nếu lợi ích của quyết định được ghi nhận cho cá nhân hoặc cơ quan, trong khi chi phí được chuyển sang ngân sách và người dân, động cơ ra quyết định sẽ bị méo mó.
Một nền kinh tế muốn phát triển nhanh và bền vững phải xây dựng được cơ chế trong đó quyết định dựa trên bằng chứng, hiệu quả được đánh giá bằng kết quả thực tế, sai lầm được sửa chữa và trách nhiệm được xác định rõ ràng.
Không có cơ chế như vậy, những sai lầm hôm nay có thể trở thành gánh nặng tài chính của ngày mai.
10. Vậy cuối cùng, tiền của chúng ta đã đi đâu?
Chín vấn đề trên không phải là chín chiếc túi riêng biệt mà chúng ta có thể mở ra rồi cộng lại thành một con số thất thoát. Chúng đan xen, tác động qua lại và có những khoản chi có thể thuộc nhiều nhóm cùng lúc. Muốn xác định quy mô thực tế của từng vấn đề, cần có số liệu và phương pháp đo lường phù hợp.
Nhưng có một điểm chung: của cải xã hội tạo ra không tự động chuyển thành mức sống cao hơn cho mọi người. Một phần được chuyển thành tài sản và năng lực sản xuất hữu ích; một phần nằm trong những tài sản có giá cao nhưng không tạo thêm nhiều giá trị sử dụng; một phần bị tiêu hao bởi chi phí quản lý, sai lầm đầu tư, ô nhiễm và những hoạt động kém hiệu quả; một phần được phân phối vào lợi nhuận, tiền lương, thu nhập từ tài sản và các khoản thu ngân sách với tỷ lệ khác nhau.
Còn có một vấn đề căn bản hơn: ai là người nhận được thành quả tăng trưởng?
Nếu GDP tăng nhanh nhưng tiền lương thực tế của nhiều người tăng chậm, nếu giá nhà tăng nhanh hơn thu nhập, nếu cơ hội kinh doanh phụ thuộc nhiều vào tài sản sẵn có và khả năng tiếp cận nguồn lực, thì những người sống chủ yếu bằng tiền lương có thể cảm thấy mình nghèo đi ngay cả khi nền kinh tế đang phát triển.
Người đã sở hữu nhà đất từ trước có thể giàu lên nhờ giá tài sản tăng. Người chưa có nhà phải làm việc nhiều năm hơn để mua cùng một tài sản. Người sở hữu doanh nghiệp có năng suất cao có thể hưởng lợi lớn từ tăng trưởng. Người lao động trong những khâu tạo ra giá trị gia tăng thấp có thể vẫn phải làm việc với cường độ cao nhưng chỉ nhận được một phần nhỏ của giá trị mà toàn bộ chuỗi sản xuất tạo ra.
Đó là lý do không thể chỉ nhìn vào GDP bình quân đầu người để kết luận mọi người dân đều khá lên tương ứng. Cần xem xét thêm thu nhập thực tế của các nhóm dân cư, tiền lương so với năng suất, chi phí nhà ở, mức chi cho y tế và giáo dục, khả năng tích lũy, nợ hộ gia đình và sự phân phối tài sản.
Cũng cần phân biệt hai hiện tượng. Một là xã hội thực sự mất đi nguồn lực vì đầu tư sai, tham nhũng, ô nhiễm hoặc lãng phí. Hai là nguồn lực vẫn tồn tại, nhưng được phân phối không đồng đều hoặc chuyển thành tài sản mà phần lớn người dân khó tiếp cận. Hiện tượng thứ nhất làm giảm hiệu quả chung; hiện tượng thứ hai có thể làm nhiều người cảm thấy nghèo đi ngay cả khi tổng tài sản xã hội tăng lên.
Việt Nam không thiếu những ví dụ về thành quả phát triển. Nhưng chúng ta cũng không thể lấy thành tựu tăng trưởng để bỏ qua câu hỏi về hiệu quả và công bằng trong phân phối thành quả ấy.
Nếu muốn duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong nhiều năm tới, Việt Nam không thể chỉ dựa vào việc huy động thêm vốn, xây dựng thêm công trình, mở rộng sản xuất và tăng xuất khẩu. Chúng ta cần tạo ra nhiều giá trị hơn từ mỗi đồng vốn, mỗi giờ lao động và mỗi đơn vị tài nguyên; giảm những khoản chi không tạo ra lợi ích tương xứng; nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp trong nước; kiểm soát đầu cơ tài sản; bảo vệ tài sản công và làm cho dịch vụ thiết yếu dễ tiếp cận hơn.
Đặc biệt, cần chuyển trọng tâm đánh giá thành công từ câu hỏi nền kinh tế đã tăng trưởng bao nhiêu sang câu hỏi tăng trưởng ấy đã cải thiện cuộc sống của người dân như thế nào.
GDP tăng 8% hay 10% là một kết quả đáng chú ý. Nhưng đối với một gia đình, điều quan trọng hơn là thu nhập thực tế có tăng hay không, sau khi trả tiền nhà, tiền học, tiền khám chữa bệnh và các chi phí thiết yếu, họ còn tích lũy được bao nhiêu; họ có được sống an tâm hơn, có thời gian cho con cái và có triển vọng nghỉ hưu tốt hơn hay không.
Tăng trưởng kinh tế không phải để người dân làm việc ngày càng nhiều chỉ nhằm duy trì một mức sống không đổi. Tăng trưởng phải giúp xã hội tạo ra nhiều của cải hơn để con người có thể sống tốt hơn, an toàn hơn và có nhiều lựa chọn hơn.
Nếu sau hàng chục năm phát triển, nền kinh tế ngày càng lớn nhưng nhiều gia đình vẫn phải vật lộn để mua nhà, nuôi con, chữa bệnh và tích lũy cho tuổi già, thì câu hỏi không chỉ là chúng ta đã tạo ra bao nhiêu của cải.
Câu hỏi quan trọng hơn là chúng ta đã sử dụng của cải ấy như thế nào, ai được hưởng thành quả và những cơ chế nào đang khiến một phần lớn tiềm năng phát triển bị lãng phí.
Đó mới là câu hỏi Việt Nam cần trả lời trên con đường trở thành một nước phát triển.
Đó mới là câu hỏi Việt Nam cần trả lời trên con đường trở thành một nước phát triển.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét