Không có gì quý bằng Nguyên và Trung của tôi - Hãy đứng trên đôi vai người khổng lồ nhờ tri thức đọc

Hãy đứng trên đôi vai người khổng lồ nhờ tri thức đọc. Chúng ta cô đơn, bất lực và bế tắc vì có thể ở đâu đó có vài lời hô hào ủng hộ, ngưỡng mộ những hành động đấu tranh của chúng ta phản đối nhóm người cai trị gian ác, tham lam và đầy quyền lực. Nhưng thử hỏi, nếu xảy ra chuyện gì, chẳng hạn chúng ta bị bắt giam, tù đày, dù ai cũng biết là trái luật và dù ai cũng hiểu là hành động bất nhân của nhóm người cai trị, thì thử nhìn xem liệu có mấy người sẽ xuống đường phản đối, ký thư ngỏ kiến nghị đòi thả tự do cho chúng ta ?

Thứ Năm, 10 tháng 8, 2017

Án văn (kỳ 3, tiếp)

Án văn (kỳ 3, tiếp)
Nguyễn Thông - Trong 2 kỳ trước, tôi đã lược lại những vụ án văn nổi cộm trong đời sống văn nghệ lẫn đời sống xã hội xứ này, như Nhân văn-Giai phẩm (nhiều văn nghệ sĩ bị đi tù, cải tạo, tước quyền sống, quyền sáng tác), Việt Phương với "Cửa mở", Hoàng Cát với "Cây táo ông Lành", Hữu Loan với "Màu tím hoa sim", Quang Dũng với "Tây tiến", Bùi Ngọc Tấn với "Chuyện kể năm 2000"… 
Image result for Việt Phương với "Cửa mở"
Việt Phương với "Cửa mở"
Đương nhiên văn nghệ sĩ là nạn nhân, chỉ bởi vì họ là những con người cương trực, thẳng thắn, tôn trọng quyền tự do sáng tác, không chịu khép mình vào thứ văn nghệ phục vụ chính trị thô thiển; còn thủ phạm không phải ai khác chính là nhà cầm quyền. Lúc nào miệng họ cũng nói quyền tự do cho văn nghệ sĩ nhưng tay thì chỉ nhăm nhăm chụp vòng kim cô chính trị lên đầu đám sáng tác, anh nào cố tình chạy trốn, thoát ra sẽ bị pháp luật (cũng của họ) trừng trị.

Viết đến đây, tôi lại nhớ chuyện hoặc giai thoại về những ông lãnh đạo đảng cộng sản xứ này chỉ đạo văn nghệ. Hồi những năm giữa thập niên 60, khi đám văn nghệ vẫn chưa hoàn hồn sau cuộc cách mạng long trời lở đất trừng trị đám phá hoại Nhân văn-Giai phẩm (được ví kinh khủng tai hại như cuộc Cải cách ruộng đất trong văn nghệ) thì ông Trường Chinh tìm cách trấn an. Anh Năm (tên thân mật của ông Trường Chinh) trong một buổi gặp các nhà văn nhà thơ, nghệ sĩ sân khấu, điện ảnh, khi nghe đây đó có ý kiến về quyền tự do sáng tác, ông liền cười mỉm, rằng "ai nói đảng không cho các anh các chị quyền tự do sáng tác. Nói thế là hồ đồ. Đảng vẫn cho các anh các chị quyền tha hồ chửi đế quốc Mỹ đó sao". Đám nghệ sĩ, nhà văn nhà thơ ngồi nghe chết lặng. Mà đúng thật, những gì “anh Năm” nói đều có thực tế, và sau chỉ đạo ấy của ông lại càng lộ mạnh hơn quyền tự do chửi Mỹ trong các sáng tác.

Tôi vẫn nhớ hồi bé người ta truyền tai nhau câu thơ, cứ bảo của “nhà thơ” Bút Tre nhưng chả biết có phải không: “Trên rừng con khỉ đánh đu/Thằng Ngô Đình Diệm mút cu bác Hồ”. Rồi sau ông Diệm bị dí là thằng thì tới thằng Thiệu, thằng Kỳ. Năm 1966, nhà thơ trào phúng Nguyễn Đình có viết trên báo Nhân Dân chửi Thiệu-Kỳ (tôi đọc bài này bởi thày tôi sai ra ủy ban mượn báo để đọc ké, vẫn còn nhớ câu mở đầu: “Hội nghị Gu-am được gọi đi/Thằng Thiệu thằng Kỳ tầm váo tầm vênh”. Mà chả riêng Ngô Đình Diệm bị gọi là thằng, các đời tổng thống Mỹ đều được phong "thằng" tuốt: thằng Ai xen hao, thằng Ken nơ đi, thằng Giôn xơn, thằng Ních xơn, thậm chí người ta còn khuyến khích các gia đình nuôi chó đặt tên chó là con Giôn xơn, con Ních xơn để chửi cho sướng miệng.

Nhân chuyện quan điểm tự do sáng tác của ông Trường Chinh, tôi lại nhớ hồi học ở Mễ Trì, thầy chủ nhiệm khoa Hoàng Xuân Nhị tuy làm lãnh đạo khoa nhưng vẫn tham gia dạy phần văn học Xô viết và phần lý luận tính đảng trong văn học. Một lần thầy nhắc đến chi tiết trong đại hội các nhà văn Xô viết, nhà văn Pha đê ép (Fadeev) đã rất hùng hồn khẳng định “chúng ta được viết theo tiếng gọi của trái tim mình. Nhưng trái tim chúng ta đã thuộc về đảng”. Thầy bảo, đại loại đó là quyền tự do sáng tác, là tính đảng trong văn học của nền văn học xã hội chủ nghĩa ưu việt.

Vị thứ 2 ở xứ này để lại dấu ấn với đời sống văn nghệ là ông Nguyễn Văn Linh. Sau khi được các đồng chí của ông vật cho lên bờ xuống ruộng, đến năm 1986 thì ông được bầu làm tổng bí thư. Ông từng một thời được ca ngợi là nhân vật đổi mới, với những mẩu ngắn trên báo Nhân Dân trong mục “Những việc cần làm ngay” ký tên NVL, tên tắt của ông nhưng đám tuyên giáo khen nịnh thối thành “Nói và làm”, còn dân gian cứ gọi nôm na là ông “en nờ vê e lờ”. Một trong những việc đầu tiên ông làm sau khi ngồi ghế nóng là lấy lòng văn nghệ sĩ. 

Ngày 6.10.1987, ông gặp họ, tuyên bố hùng hồn phải “cởi trói cho văn nghệ sĩ”, còn ai trói, trói thế nào, vì sao trói, v.v.. thì ông không nói. Đám văn nghệ phấn khởi, lại được các bác Trần Độ, Nguyễn Văn Hạnh, Nguyên Ngọc hô xung phong nên hào hứng lắm. Những tác phẩm vang dội như "Cái đêm hôm ấy đêm gì" của Phùng Gia Lộc, hàng loạt phóng sự của Trần Huy Quang, những quan điểm táo bạo của Nguyễn Minh Châu, Hoàng Ngọc Hiến… ra đời trong dịp này. 

Nhưng ông Mười Cúc (Nguyễn Văn Linh) cuối cùng cũng chỉ là anh chết nhát, nửa vời, đảng của ông ấy không ủng hộ quan điểm cởi trói nên ổng co dần lại, sống chết mặc bay. Kết quả là báo Văn Nghệ bị bóp chết, các ông Trần Độ, Nguyên Ngọc bị đưa lên “đoạn đầu đài”, đời sống văn nghệ lại một lần nữa tan tành, chả khác gì văn nghệ Trung Quốc sau cú lừa “Trăm hoa đua nở”, tới nay (năm 2017) vẫn không gượng dậy được mặc dù đã mấy chục năm trôi qua.

Phải những ai từng nếm mùi phê phán từ bộ máy tuyên giáo truyên truyền của đảng thì mới hiểu thế nào là “văn nghệ phục tùng, phục vụ chính trị”. Đảng có thể biến một tác phẩm hết sức bình thường thành thứ cực kỳ nguy hiểm đối với họ, gán vào đó những cái gọi là âm mưu, ý đồ, biểu tượng hai mặt, cao hơn nữa thì quy rằng nó ẩn chứa hoặc công khai thái độ thù nghịch, chống phá. Như tôi đã từng kể ở 2 bài trước, hàng loạt bài văn thơ của Nhân văn-Giai phẩm, rồi thơ Quang Dũng, thơ Hữu Loan, thơ Việt Phương, truyện ngắn Hoàng Cát… bị đánh tơi tả, người viết không ngóc đầu dậy nổi, phải ẩn dật, trốn chui trốn lủi, tìm đủ mọi cách mới sống qua ngày đoạn tháng. Thời ấy, những người dân bình thường đã phải chịu cuộc sống cực kỳ vất vả, huống hồ người có tiền án tiền sự với chế độ, dù chỉ là án văn nghệ.

Thời tôi sống, tôi được chứng kiến, được nghe, được biết thêm khá nhiều vụ án văn khác, xuất phát từ bàn tay sắt của đảng, mà cụ thể là các ông Trường Chinh, Tố Hữu, Hà Xuân Trường, Như Phong, những đao phủ văn nghệ. Chả mấy ai không biết cuộc đời lận đận của ông Hà Minh Tuân, tác giả mấy cuốn tiểu thuyết “có vấn đề”. Ông Tuân từng tham gia cách mạng và quân đội rất sớm, hàm đại tá, năm 1954 đã leo đến chức Trưởng phòng Tuyên huấn thuộc Tổng cục Chính trị (ông đại tướng Nguyễn Chí Thanh là Chủ nhiệm tổng cục này). Có máu văn nghệ, lại lãng mạn, ông Tuân viết liền mấy cuốn tiểu thuyết "Trong lòng Hà Nội", "Hai trận tuyến", "Vào đời", cuốn nào bạn đọc cũng thích nhưng đảng không thích. Những cuốn này bị quân ông Tố Hữu đập tơi tả, chê mất lập trường cách mạng, không phân biệt được ta và địch, ủy mị, yếu đuối, đồi trụy. Cứ sau khi sách ra lại bị thu hồi. Ông Tuân lên bờ xuống ruộng, bị cách chức, chuyển qua hết việc này đến việc khác (thời ấy đại tá to lắm nên không dễ gì lôi ra tòa), nhưng đời văn tàn luôn.

Một ông khác, nhà văn Phù Thăng, bị đánh cuốn tiểu thuyết "Phá vây" ra đời năm 1961. Một cuốn truyện hay về đề tài chiến tranh nhưng nhà cầm quyền cho rằng tác giả đã mất lập trường, nhìn sai lạc về cuộc kháng chiến, đặc biệt làm méo mó hình ảnh người lính bộ đội cụ Hồ. Sách bị cấm, thu hồi, tác giả phải về quê Hải Dương chăn vịt, một thời gian sau mới được viết lại nhưng đời văn cũng nhiều bề lận đận.

Lứa chúng tôi cũng từng chứng kiến 2 vụ án văn là bài thơ "Vòng trắng" của Phạm Tiến Duật và "Sẹo đất" của Ngô Văn Phú. Hai ông nhà thơ này trưởng thành thời chống Mỹ, tạo dựng được tên tuổi, thậm chí ông Duật từng nổi danh là nhà thơ số 1 viết về Trường Sơn, vua biết mặt chúa biết tên, trọng vọng lắm. Những năm cuối thập niên 60, đầu 70 đang khí thế hừng hực chống Mỹ, văn nghệ bị cuốn vào chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ta thắng địch thua, thế đứng trên đầu thù, “40 thế kỷ cùng ra trận/Có đảng ta đây, có Bác Hồ”, anh nào lệch ra khỏi quỹ đạo là chết ngay. Tự dưng ông Duật viết bài "Vòng trắng", in tháng 1.1974. Lúc đầu có lẽ do tiếng tăm ông Duật vẫn còn cao, vả lại bài thơ được in trên tạp chí Thanh Niên ít người đọc nên người ta không để ý mấy. Ông Duật viết “Có mất mát nào lớn bằng cái chết/Khăn tang, vòng tròn như một số không”. Sau chả biết có ai mách ông Tố Hữu, thế là báo Nhân Dân và tạp chí Học tập nã đại bác vào thần tượng Phạm Tiến Duật. Tạp chí Học tập (sau đổi tên thành tạp chí Cộng sản) tháng 9.1974 dõng dạc kết án “Giữa lúc cần nói to lên niềm sung sướng tự hào về cái được vĩ đại của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mỹ thì nhà thơ lại chỉ thấy cái mất, chỉ thấy tang tóc đau thương và than thở...”. Chỉ cần chừng ấy thôi là thành án, ông Duật mất bao nhiêu công phân trần, giãi bày nhưng đảng chả chịu nghe.

Còn ông Ngô Văn Phú ra mắt "Sẹo đất" năm 1972. Chả là nhìn cái hố bom, ông nghĩ có lẽ đất nó cũng như người, nó đau lắm. Trong bài thơ có câu “Tưởng như da thịt mình mới sẹo/Ai ngờ đất cũng sẹo như mình". Đám tuyên giáo phang luôn, quy kết ông Phú có vấn đề về tư tưởng, không xác định rõ tính chất của cuộc chiến tranh giữa ta và địch, gieo rắc tâm lý hoài nghi, gây suy nghĩ sợ chiến tranh trong nhân dân. Ông Phú bị kiểm điểm, bị cách chức, gây bao phiền phức về sau. Nhìn chung tội của ông Duật ông Phú là sáng tác theo suy nghĩ cá nhân, không đi đúng đường lối quan điểm "ta tốt địch xấu, ta thắng địch thua" của đảng, phải phê phán triệt để làm gương cho kẻ khác.

Dưới thời “văn nghệ cách mạng”, bất cứ động thái nào của văn nghệ sĩ bị nhà cầm quyền không ưa đều có thể thành tội. Người cai trị hay lo sợ vu vơ, nhìn đâu cũng thấy nguy hiểm, bởi “văn nghệ sĩ chúng nó thâm lắm”. Có khi đang bình thường, nghe ông bà kễnh nào phát ra ý nhận xét chi đó về tác phẩm này nọ, thế là vội vàng tổ chức chiến dịch đánh cho tơi tả, rồi cấm. Miền Bắc có dạo cấm suốt một thời gian dài những bộ phim rất hay của Liên Xô như "Đàn sếu bay qua", "Bài ca người lính", "Số phận con người" (đầu thập niên 1960), hoặc cuốn "Truyện núi đồi và thảo nguyên" (của Aimatov) chỉ bởi lúc ấy ở Liên Xô có “chủ nghĩa xét lại”, mà chủ nghĩa này nhà cầm quyền Việt Nam cho là phản động, đi chệch khỏi con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội, tiến lên chủ nghĩa cộng sản, nên phải cấm.

Án văn xứ này nhiều lắm. Kể từ khi thơ văn của Nguyễn Trãi bị đốt thành tro sau vụ án oan tày đình thế kỷ 15 đã bao nhiêu nước trôi qua cầu, bao án văn oan ức chồng chất lên số phận người sáng tác, mà xảy ra nhiều nhất trong “thời đại cách mạng” người cộng sản nắm quyền. Nếu kể ra, phải vài cuốn sách, đặc biệt những vụ tịch thu và thiêu hủy “văn hóa đồi trụy”, bắt văn nghệ sĩ đi cải tạo (thực chất là tù đày) sau ngày 30.4.1975. Nhiều sự việc đã bị lãng quên, nhiều vụ nhạt dần theo năm tháng, nhưng tôi nghĩ có lẽ ở người nào đó, bộ phận nào đó vẫn lặng lẽ ghi chép đầy đủ, sau này bổ sung vào cuốn sử chân thực của xứ này cho cháu con được tỏ tường.

Nguyễn Thông

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét