Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2026

Kinh tế song trùng và Kinh tế song song ?

Kinh tế song trùng và Kinh tế song song liệu sẽ dẫn tới các kết cục hoàn toàn khác nhau ?
Bài viết dưới đây của fb Nguyễn Quốc Chính rất chính xác. Mô hình phát triển kinh tế của Việt Nam đang hoàn toàn sai, chỉ tập trung vào bất động sản và tài chính, là những ngành chỉ tiêu tiền và giam chết tiền chứ không làm cho tiền quay vòng và sinh lợi qua mỗi vòng.
Nền kinh tế Việt Nam bây giờ mang dáng dấp của nền kinh tế Việt Nam trong hai thập kỷ 1970-1980. Đó là phép cộng của hai nền kinh tế độc lập nhau và không hợp tác với nhau. Thời đó chúng tôi gọi là mô hình kinh tế song trùng hay mô hình kinh tế hai bộ phận (khác với nền kinh tế hai khu vực hay hai thành phần…).

Trong hai thập kỷ 1970-1980, nền kinh tế thứ nhất là bộ phận kinh tế nhà nước, hoạt động hầu như theo cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp. Nền kinh tế thứ hai là bộ phận kinh tế thị trường tự do, dĩ nhiên theo cơ chế kinh tế thị trường. Hai nền kinh tế tồn tại song trùng nhưng tất cả các cơ chế quản lý kinh tế và tổ chức sản xuất, cơ chế hình thành sản xuất, đầu tư, lao động, việc làm, giá cả, tiền lương, lợi nhuận, thương mại, thuế, xuất nhập khẩu… hoàn toàn khác nhau. Quan trọng hơn, hai nền kinh tế này hầu như không giao lưu, hợp tác với nhau.

Bây giờ chúng ta cũng có hai nền kinh tế tồn tại song song và không hợp tác với nhau trong cái gọi là nền kinh tế Việt Nam. Nền kinh tế thứ nhất là khu vực kinh tế của người Việt, hoạt động theo cơ chế duy tình, không cần tuyệt đối tuân thủ pháp luật, lợi dụng sự yếu kém của thể chế và pháp luật, câu kết với quan chức chộp giật để thu hồi vốn về nhanh nhất vì lúc nào cũng sợ mất vốn. Vì thế bất động sản và tài chính là mảng kinh doanh chính. Mảng kinh doanh còn lại là hàng triệu nông dân và tiểu thủ công nghiệp, vật vờ làm ăn để tồn tại qua ngày.

Nền kinh tế thứ hai là của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Họ vận hành theo cơ chế duy lý, lấy khoa học và luật pháp làm nền tảng vận hành theo đúng cơ chế thị trường của thế giới. Họ đầu tư bài bản, dài hạn vào các ngành sản xuất ra của cải vật chất, bán kiếm lời và quay vòng vốn rất nhanh. Nhà nước Việt Nam ưu đãi cho họ, họ gặp khó khăn gì thì được giải quyết rất nhanh. Nhân viên công quyền không dám tự do dòm ngó gây khó cho họ để kiếm chác. Họ cần Việt Nam sửa luật để họ có lợi thì Việt Nam sửa luật. Họ chỉ khai thác đầu vào giá rẻ ở Việt Nam, còn kinh doanh thì với quốc tế. Do đó họ không ngừng phát triển và kiếm được rất nhiều tiền, trong khi Việt Nam ngày càng phụ thuộc hoàn toàn vào họ. Họ không giao lưu hợp tác, không chuyển giao công nghệ và trình độ quản lý cho nền kinh tế thứ nhất vì với họ, đó là nền kinh tế hoang dại, hoạt động theo luật ngầm của các nhóm lợi ích và không có tương lai, hợp tác có nguy cơ bị xem là vi phạm luật pháp quốc tế và luật pháp của nước họ.

Hai nền kinh tế song trùng trong nền kinh tế Việt Nam thời bao cấp đã đưa đất nước tới khủng hoảng toàn diện. Hai nền kinh tế song song trong nền kinh tế Việt Nam thời nay sẽ đưa đất nước về đâu, có tạo ra kỳ tích tăng trưởng hai con số không, quả thật tôi không đủ trình độ để đưa ra dự đoán.
———-

“Trong 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam, hơn 50% doanh thu đến từ tài chính và bất động sản, trong khi chế biến, chế tạo – thứ đáng lẽ phải là nền tảng của một nền kinh tế công nghiệp – chỉ chiếm dưới 10%. Con số này không phải là một sai lệch tạm thời. Nó là một sự lựa chọn mang tính hệ thống: tiền đang chảy vào tài sản, không phải vào sản xuất.”
—-

{Là kết quả tất yếu của một cấu trúc sai lệch kéo dài.}
Nếu đã nói câu đó, thì không thể dừng ở cảm nhận. Phải đi đến tận cùng của logic, và phải có số liệu để chứng minh rằng đây không phải là một nghịch lý khó hiểu, mà là một kết quả có thể đo đếm, có thể dự báo, và – nếu không thay đổi – có thể lặp lại.
Suốt một thời gian dài, nền kinh tế này vận hành theo một hệ thống tín hiệu rất rõ: lợi nhuận nhanh được ưu tiên, vòng quay vốn ngắn được khuyến khích, còn đầu tư dài hạn thì phải tự chịu rủi ro. Trong một môi trường như vậy, dòng tiền không cần ai chỉ đạo. Nó tự biết đi về đâu.

Và nó đã đi.

Trong 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam, hơn 50% doanh thu đến từ tài chính và bất động sản, trong khi chế biến, chế tạo – thứ đáng lẽ phải là nền tảng của một nền kinh tế công nghiệp – chỉ chiếm dưới 10%. Con số này không phải là một sai lệch tạm thời. Nó là một sự lựa chọn mang tính hệ thống: tiền đang chảy vào tài sản, không phải vào sản xuất.

Người ta hay nói đây là “nghịch lý”. Gã thì không thấy nghịch lý nào ở đây cả. Khi một quyết định quy hoạch có thể làm tăng giá trị đất đai trong một đêm, khi một cấu trúc tài chính có thể tạo ra lợi nhuận mà không cần sản xuất, còn một nhà máy thì phải mất nhiều năm để hoàn vốn, chịu rủi ro chính sách, chịu chi phí đất đai, chịu áp lực công nghệ và thị trường – thì lựa chọn đã được quyết định từ trước khi doanh nghiệp kịp suy nghĩ.

Không ai ngu đi chọn con đường khó hơn, nếu con đường dễ hơn vừa nhanh vừa an toàn.

Vì thế, nói doanh nghiệp “lệch hướng” là chưa đúng. Phải nói rằng hệ thống đang thưởng cho một hướng đi khác. Và doanh nghiệp, trong tư cách là một thực thể kinh tế, chỉ đơn giản là phản ứng lại với hệ thống đó.

Nhìn sâu hơn, vấn đề không chỉ nằm ở cơ cấu ngành nghề, mà nằm ở cấu trúc của chính khu vực doanh nghiệp.

Khoảng 97% doanh nghiệp tư nhân Việt Nam là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phần lớn trong số đó có dưới 10 lao động. Bên cạnh đó là khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể. Nhìn bề ngoài, đó là một lực lượng đông đảo. Nhưng về thực chất, đó là một hệ sinh thái phân mảnh, thiếu tích lũy, thiếu khả năng đầu tư dài hạn.

Một nền kinh tế có thể có rất nhiều doanh nghiệp, nhưng nếu phần lớn trong số đó không đủ lớn để đầu tư công nghệ, không đủ sâu để tham gia chuỗi giá trị, thì “số lượng” không thể chuyển hóa thành “năng lực”.

Điều này thể hiện rất rõ qua năng suất và vị thế. Năng suất lao động của khu vực tư nhân trong nước vẫn thấp hơn đáng kể so với khu vực FDI, và thậm chí thấp hơn cả khu vực nhà nước. Tỷ lệ doanh nghiệp Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu không tăng lên, 
mà còn có xu hướng giảm. Điều đó có nghĩa là không chỉ yếu, mà còn đang tụt lại.

Một nguyên nhân cốt lõi nằm ở chỗ đầu tư cho tương lai quá thấp. R&D – thứ quyết định năng lực công nghệ – gần như vắng bóng trong phần lớn doanh nghiệp. Mô hình quản trị vẫn mang nặng tính gia đình, thiếu minh bạch, thiếu chuẩn mực hiện đại. Trong một cấu trúc như vậy, doanh nghiệp có thể lớn về tài sản, nhưng rất khó lớn về năng lực.

Và khi không có năng lực công nghệ, không có sản phẩm lõi, không có chuỗi cung ứng riêng, thì cái gọi là “tập đoàn” chỉ là một dạng tích lũy tài sản, chứ chưa phải là một thực thể công nghiệp.

So với các nền kinh tế đi trước như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc, sự khác biệt nằm ở chỗ họ đã hình thành được một lớp doanh nghiệp đủ lớn để đầu tư dài hạn, đủ mạnh để làm chủ công nghệ, và đủ sâu để dẫn dắt chuỗi giá trị. Việt Nam cũng có những doanh nghiệp lớn, nhưng phần lớn cái “lớn” đó nằm ở quy mô tài sản, không phải ở năng lực sản xuất.

Vì vậy, việc kêu gọi chuyển từ bất động sản và tài chính sang sản xuất, hay tăng đầu tư cho R&D, về mặt định hướng là đúng. Nhưng nếu chỉ dừng ở lời kêu gọi, thì sẽ không đủ.

Vấn đề không nằm ở việc thay ngành.
Vấn đề nằm ở việc thay “luật chơi”.

Nếu lợi nhuận từ đầu cơ vẫn cao hơn sản xuất, nếu đầu tư dài hạn vẫn rủi ro hơn đầu tư ngắn hạn, nếu minh bạch vẫn là một bất lợi cạnh tranh thay vì một lợi thế, thì không có lý do gì để doanh nghiệp tự thay đổi. Khi đó, mọi hội thảo, mọi khuyến nghị, sẽ chỉ dừng lại ở mức đúng về mặt lý thuyết – nhưng không đủ lực để thay đổi thực tế.

Gã nghĩ, cần nhìn thẳng vào một điều khó nghe: nền kinh tế nào cũng có một giai đoạn tăng trưởng dựa vào tài sản. Nhưng nếu kéo dài quá lâu, thì tài sản sẽ phình ra, còn năng lực sản xuất sẽ teo lại. Đến một lúc nào đó, giá trị thực không theo kịp giá trị giấy. Và khi đó, cái gọi là “nghịch lý” hôm nay sẽ trở thành rủi ro của ngày mai.

Những con số đã nói rõ:
– Hơn 50% doanh thu của khu vực tư nhân lớn nằm ở tài chính và bất động sản
– Dưới 10% đến từ chế biến, chế tạo
– 97% doanh nghiệp là nhỏ và vừa, phần lớn dưới 10 lao động
– Năng suất thấp hơn FDI
– Tỷ lệ tham gia chuỗi giá trị toàn cầu đang giảm
– R&D yếu, quản trị thiếu chuẩn hóa

Những con số đó không rời rạc. Chúng ghép lại thành một bức tranh nhất quán. Và bức tranh đó dẫn đến một kết luận không thể né tránh:

Đây không phải là một nghịch lý.
Đây là một hệ quả.
Một hệ quả của một cấu trúc đã lệch trong một thời gian đủ dài.

Và câu hỏi cuối cùng không còn là: vì sao doanh nghiệp không làm chế tạo.

Mà là: bao giờ cấu trúc đó được điều chỉnh – để sản xuất trở lại là một lựa chọn đáng tin, chứ không phải là một canh bạc.

1 nhận xét:

  1. Bài viết rất hay; và dĩ nhiên tôi hoàn toàn đồng ý với người viết. Nhân tiện cũng xin cảm ơn anh Đức đã đưa bài này lên.

    Trả lờiXóa