Thứ Bảy, 17 tháng 9, 2011

Nhà văn Lê Lựu làm em sợ quá

Thư giãn cuối tuần. Blog 
Thứ sáu, ngày 16 tháng chín năm 2011

Nhà văn Lê Lựu làm em sợ quá

Mình ham đọc báo thật đấy nhưng quả thật không thích tờ An ninh thế giới. Chả phải vì nó là báo công an mà bởi nó ngày càng tệ. Nói như thế nghĩa là ngày xưa cũng thích.
Lại nhớ cái thời tờ này có lúc đỉnh phát hành lên tới hơn nửa triệu (có người còn chắc như đinh đóng cột rằng tới 700 ngàn) bản/kỳ, thiên hạ phát rồ với An ninh thế giới, ngồi quán cà phê nào cũng thấy những anh chị vừa nhâm nhi cà phê vừa mải miết gò mắt vào từng trang báo khổ A4. Làng báo phục thượng tá Hữu Ước quá trời, nghĩ tay này có bùa ngải gì mà mê hoặc người ta đến thế.



Dạo ấy văn phòng đại diện phía nam của An ninh thế giới đặt trong khuôn viên doanh trại lực lượng công an vũ trang trên đường Phạm Viết Chánh, Q.1, Sài Gòn, gần cơ quan mình, cách nhau chỉ vài trăm bước chân. Người phụ trách là Trương Nam Hương, nhà thơ. Nói chả phải khoe, Hương với mình là chỗ thân tình, vốn học trò mình, có tập thơ nào ra đều nhớ tặng thầy với những lời hết sức tình cảm. Hương sống có trước có sau, đàng hoàng, mình rất quý. Hồi đó cùng lớp Hương còn có Nguyễn Quốc Chánh cũng tay thơ cự phách, giọng điệu rất ngang tàng độc đáo, phá cách. Hương và Chánh chọn 2 lối đi khác nhau, chả thể bảo ai thành công hơn ai.
Lại kể, làm báo như Hương quả thật đắc ý. Đận World Cup 1998, nghe anh Nguyễn Viện bảo thằng Hương nó dám bỏ ra một phần ba tháng lương mua hẳn 1 cái tivi màu mới để coi riêng với anh em bạn bè, khỏi làm phiền vợ con, mình cứ lắc đầu lè lưỡi. Khiếp quá đi mất, tivi những mấy triệu một cái, thu nhập cả tháng của mình chưa được nửa chiếc mà hắn chỉ cần xuất chi 1/3 đã giải quyết xong nhu cầu nhất thời, sao chả lè lưỡi. Lại thêm lần anh Xuân Hòa viết bài về cụ Đống Ngạc, trợ lý của Tổng bí thư Lê Duẩn, kể chuyện chính cụ Ngạc là người thảo bản điếu văn nổi tiếng đọc trong tang lễ cụ Hồ ngày 9.9.1969, bài dài mấy ngàn chữ, anh Hòa gửi báo nhà nhưng chả biết sao báo nhà không chịu đăng, mình biết chuyện bảo anh Hòa, ông cứ chuyển cho tôi. Mình sang đưa Trương Nam Hương, Hương bảo thầy cứ để em. Tuần sau y gọi điện báo tin đã đăng, nguyên xi không cắt chữ nào. Tuần sau nữa Hương gọi sang lĩnh nhuận bút, trả hẳn 1 triệu, mình gửi cho anh Hòa, anh còn không tin.

Thứ Sáu, 16 tháng 9, 2011

Hạt sạn lớn trong một tác phẩm về Bác Hồ

Buồn và cười (ra nước mắt vì cái xã hội này):

Hạt sạn lớn trong một tác phẩm về Bác Hồ

Truyện tranh được xem là sản phẩm văn hóa đọc được giới trẻ quan tâm nhất. Chính vì đặc thù đó, các nhà làm sách đã ngày càng quan tâm đến mảng truyện tranh. Công ty Phan Thị đã trở thành đơn vị tiên phong trong lĩnh vực này với những bộ truyện tranh mang đậm tính giáo dục, từ lịch sử, khoa học, đến văn học, thể thao... Tuy nhiên, công ty này đã phạm sai lầm trong một cuốn sách viết về Bác Hồ.
Nhân kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước (5-6-1911- 5-6-2011), 70 năm Người trở về trực tiếp lãnh đạo nhân dân ta đứng lên giành chính quyền (28-1-1941 - 28-1-2011), 42 năm ngày mất của Người (2-9-1969 - 2-9-2011) và 5 năm thực hiện cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, Nhà Xuất bản Kim Đồng đã đầu tư để thực hiện một bộ truyện tranh về Bác.
Công ty Phan Thị đã được tin tưởng giao thực hiện việc biên soạn, vẽ tranh cho bộ truyện tranh về Bác có nhan đề chung Bác Hồ sống mãi. Bộ sách dự kiến gồm 20 cuốn là những kỷ niệm sâu sắc về cuộc đời hoạt động cách mạng và tấm lòng nhân ái của Bác. Bộ sách sẽ được phát hành đến hệ thống thư viện các trường học, trở thành công cụ hữu ích trong công tác giáo dục thiếu niên nhi đồng, là cẩm nang cần thiết trong cuộc vận động “Tuổi trẻ Việt Nam học tập và làm theo lời Bác”, cần thiết trong hành trang của mỗi học sinh phấn đấu là con ngoan, trò giỏi, cháu ngoan Bác Hồ.
Đến nay, 5 cuốn đầu tiên trong bộ sách đã được ra mắt bạn đọc gồm: Từ mái ấm Nà Lọm, Mệnh lệnh của Bác Hồ, Thăm làng cá Cát Bà, Cháu muốn xem nhà Bác, Hãy yêu thương các cháu. Các câu truyện có nội dung gần gũi, dễ hiểu, tranh vẽ đơn giản, hình ảnh Bác được tạo hình không quá cầu kỳ nên dễ tạo cảm giác thân thiện.
Thế nhưng, giữa những điều tốt đẹp lại xuất hiện một hạt sạn lớn, gây phản cảm nặng nề. Ở cuốn sách Thăm làng cá Cát Bà, trang 19 miêu tả cảnh Bác đến thăm một gia đình người dân, Bác đã trao tặng các em thiếu nhi ở đây một cuốn sách. Thật bất ngờ, cuốn sách Bác cầm trên tay lại là cuốn Thần đồng Đất Việt tập 123 (ảnh)




Khi viết về lãnh tụ, mọi chi tiết đều cần sự chuẩn xác tuyệt đối. Việc xuất hiện một cuốn truyện tranh hiện đại, ra mắt năm 2011 trong bối cảnh một câu chuyện kể về lãnh tụ năm 1959 (năm Bác về thăm làng cá Cát Bà, Hải Phòng) là một sự xúc phạm cả về lịch sử lẫn nhân vật mà không có lý do nào bào chữa được. Nhiều ý kiến cho rằng, việc đặt hình ảnh một sản phẩm của chính Công ty Phan Thị lên tay Bác Hồ là một cách quảng cáo trá hình quá thô thiển và gây phản cảm nơi bạn đọc. Họa chăng không phải người Việt Nam mới làm vậy.

TRÍ THỨC LÀ GÌ?

Trí thức là gì?

Tháng Chín 15, 2011
Đôi lời: Thời gian gần đây, nhiều người bàn về trí thức. Vậy trí thức là gì? Ai là trí thức? Vai trò của trí thức như thế nào trong xã hội?…
Nhận được bản dịch công phu của dịch giả Quốc Trung, Da Vàng blog xin giới thiệu cùng quý độc giả để cùng tìm hiểu, nghiên cứu.
Tác giả: Chức Sa Mộng – Người dịch: Quốc Trung
Về định nghĩa trí thức là gì, theo quan điểm thịnh hành ở các nước, trí thức là chủ thể đã qua đào tạo chuyên ngành, nắm vững kiến thức chuyên môn, lấy tri thức làm thủ pháp mưu sinh, lấy lao động trí óc làm nghề nghiệp
Hiện nay, giới học thuật Trung Quốc nhìn chung cho rằng, trí thức là người lao động trí óc có trình độ văn hóa tương đối cao, chủ yếu lấy việc sáng tạo, tích lũy, tìm hiểu, truyền bá, quản lí và ứng dụng kiến thức văn hóa khoa học là ngành nghề, được phân bố trong các lĩnh vực nghiên cứu khoa học, giáo dục, kĩ thuật công trình, văn hóa nghệ thuật, y tế…, là chủ thể được Trung Quốc gọi chung là “tầng lớp có thu nhập trung bình”.
Trí thức với tư cách là một khái niệm mang tính chính trị và là một tầng lớp xã hội tương đối độc lập sẽ tồn tại lâu dài, và cuối cùng sẽ phát triển cùng với trình độ cao của sức sản xuất, sẽ biến mất cùng với sự biến mất của khoảng cách chênh lệch giữa công nhân với nông dân, giữa nông thôn với thành thị, giữa lao động trí óc với lao động thể lực.
1) Trí thức là một trong 4 loại người lao động lớn của Trung Quốc: Công nhân, nông dân, quân nhân, trí thức, tức trí thức là người lao động trí óc, người lao động kĩ thuật chuyên môn. Như: Giáo viên, bác sĩ, kĩ sư và nhà khoa học đều là những trí thức điển hình.
2) Trí thức là người đọc sách (“độc thư nhân”) thời cổ đại, hoặc là sự tiếp diễn hiện đại của “sĩ” thời cổ đại. Hoài bão của “độc thư nhân” thời cổ đại là “dĩ thiên hạ vi kỉ nhiệm, vi quốc (đế) phân ưu, vi dân thỉnh nguyện”, đồng thời hoàng đế cũng thực sự trọng đãi và tôn trọng họ. Xét từ góc độ này, xã hội Trung Quốc hiện đại đã không còn trí thức.
3) Xã hội hiện đại vẫn có những người thích được ở vào địa vị trí thức, hoặc có thói quen nói những lời kính cẩn với trí thức, thường là chỉ những người có trình độ văn hóa tương đối cao, học hành tương đối nhiều.
4) Biệt danh của trí thức là “xú lão cửu” (tạm dịch: loại người thối tha thứ 9), phản ánh địa vị chính trị và kinh tế thấp hèn của trí thức trong và sau Cách mạng Văn hóa .

I. Đối tượng mà từ “trí thức” muốn chỉ là gì?
Không ít học giả Trung Quốc cho rằng từ “trí thức” (tiếng Hán: tri thức phần tử “知识分子”- ND) được dịch từ tiếng Tây. Giáo sư Diệp Khải Chính ở Khoa xã hội Trường Đại học Đài Loan đã có sự trao đổi khá tường tận về vấn đề này. Theo quan điểm của Diệp Khải Chính, khái niệm “trí thức” bắt nguồn từ Phương Tây. Ở Châu Âu có hai từ có liên quan đến khái niệm “trí thức”, nếu nói theo tiếng Anh tương đối thông dụng hiện giờ thì một là intelligentsia (giới trí thức – ND), hai là intellectual (người trí thức – ND).
Hai từ này lần lượt thuộc Đông Âu và Tây Âu, mang ý nghĩa lịch sử khác nhau.
Từ intelligentsia bắt nguồn từ nước Nga, do nhà văn Nga Boborykin (Petr Dmitrievich Boborykin; 1836-1921 đề xuất vào năm 1860, được dùng để chỉ riêng một nhóm nhân vật đã đưa triết học Đức vào nước Nga.

Thứ Năm, 15 tháng 9, 2011

Bàn tay Vô hình vs. Kinh tế thị trường định hướng XHCN

Trong bối cảnh nhà nước ta liên tục can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của nền KT theo Nguyên tắc của kinh tế thị trường định hướng XHCN, chúng ta hãy nhìn lại Nguyên tắc cơ bản của kinh tế thị trường:

Bàn tay Vô hình đối lập với Kinh tế thị trường định hướng XHCN

Lý thuyết về Bàn tay Vô hình là lý thuyết đánh dấu sự ra đời của kinh tế học. Trong đó, nhà kinh tế học vĩ đại Adam Smith đã chỉ ra rằng trong khi chạy theo lợi ích riêng của mình, con người phụng sự xã hội nhiều hơn anh ta chủ trương làm điều đó và bằng cách đó làm tăng của cải của xã hội.

Ông đã viết 1 câu để đời: “The invisible hand is created by the conjunction of the forces of self-interest, competition, and supply and demand, which are capable of allocating resources in society”. (Bàn tay vô hình được hình thành bởi sự kết hợp của tính tư lợi, sự cạnh tranh, cầu và cung có khả năng điều tiết các nguồn lực trong xã hội)
Dường như các nhà phân tich kinh tế của VN không chú ý phân tích bài bản như dưới đây, vì sao mà THE INVISIBLE HAND với 3 thành tố (lợi ích cá nhân, cạnh tranh thị trường, luật cung cầu) đã đang và sẽ đánh bại nền KT thị trường theo định hướng XHCN.
Thực tế, không một lực can thiệp tại bất cứ quốc gia nào, trong lịch sử KT tài chính thế giới, đi ngược lại các thành tố này mà thành công, tạo nên 1 nền KT hùng mạnh, vững chắc.
Theo Adam Smith và sau này được các kinh tế gia tư bản phát triển thêm:

SOS kinh tế Việt Nam

Đọc giải trí:

SOS kinh tế Việt Nam

Mới chỉ cách đây có hơn 1 năm, trong phiên đăng đàn trả lời chất vấn trước Quốc hội của Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng, Phó Thủ tướng còn dõng dạc tuyên bố:

Nguyễn Sinh Hùng khi là Phó Thủ tướng thường trực Việt Nam
Theo Phó thủ tướng, GDP năm nay của Việt Nam tuy chỉ có 106 tỷ USD, nhưng đến 2020 sẽ tăng lên 300 tỷ USD và năm 2030 là 700 tỷ, đến 2040 ước đoán cỡ 1,2 – 1,4 nghìn tỷ USD. Đến 2050, khi hoàn thành toàn tuyến, con số đó dự kiến sẽ tăng gấp đôi.
Ông phân tích thêm: “Thu nhập bình quân đầu người hiện nay là 1.200 USD, nhưng với tốc độ tăng trưởng kinh tế tương lai thì đến 2020 sẽ là 3.000 USD, và lần lượt tăng lên mức 6.000, rồi 12.000 và sẽ đạt 20.000 vào năm 2050″.


Nay, ông Trần Xuân Giá, nguyên Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nhận định: “Việt Nam còn có thể thụt lùi đến mức “gia nhập lại” nhóm các nước kém phát triển, có thu nhập bình quân đầu người thấp của thế giới…”
Trần Xuân Giá - Nguyên Bộ trưởng Kế hoạch và Đầu tư


Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Lạm phát do đâu?

Lạm phát do đâu?

Lạm phát có những nguyên nhân chung, có nguyên nhân sâu xa, tiềm ẩn từ thời gian trước và do có độ trễ của chính sách, nên cần xem xét diễn biến trong thời gian dài.
Diễn biến lạm phát
Trong 36 năm qua (tính từ năm 1976), lạm phát tại Việt Nam chỉ có 1 năm giảm (2000), 12 năm tăng 1 chữ số, 20 năm tăng 2 chữ số, 3 năm tăng 3 chữ số.
Thời kỳ 1976-1985, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tăng rất cao. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế tăng trưởng chậm, có năm bị giảm, làm mất cân  đối cung cầu (thiếu cung), tiền nhiều hơn hàng.
Thời kỳ 1986-1991, lạm phát phi mã, trong đó 1986-1988 tăng tới 402,1%/năm. Nguyên nhân chủ yếu là do kinh tế bị khủng hoảng, tăng trưởng thấp, làm cho thị trường bị thiếu cung, tiền nhiều hơn hàng. Có một nguyên nhân quan trọng là việc thực hiện lộ trình giá thị trường đối với hầu hết những mặt hàng bao cấp hiện vật bằng tem phiếu định lượng trong thời kỳ trước, tạo ra mặt bằng giá chung mới cao hơn nhiều.
Thời kỳ 1992-1995, lạm phát còn cao, nhưng đã thấp hơn nhiều so với các thời kỳ  trước. Nguyên nhân chủ yếu do cung đã tăng (tăng trưởng kinh tế 1991-1995 đạt 8,2%/năm, đặc biệt lương thực vượt nhu cầu trong nước, đã có xuất khẩu với khối lượng lớn; Chính phủ đưa ra phương châm: đối với ngân sách thì thu lấy mà chi; đối với ngân hàng thì vay lấy mà cho vay-có nghĩa là Nhà nước không phát hành tiền cho bội chi ngân sách và bội chi tiền mặt.
Thời kỳ 1996-2003 được coi là thiểu phát, khi CPI tăng rất thấp (mặc dù năm 1998 tăng cao 9,2% do tác động của khủng hoảng khu vực, với tỷ giá năm 1997 tăng 14,2%, năm 1998 tăng 9,6% và giá lương thực tăng 23,1%, giá thực phẩm tăng 8,6%. Nhưng nhìn chung cả thời kỳ này đã có 3 năm, trong đó có 1 năm giảm, 2 năm tăng thấp; giá lương thực, thực phẩm giảm hoặc tăng thấp.
Thời kỳ từ 2004 đến nay là thời kỳ lạm phát cao trở lại, gần như lặp đi lặp lại, cứ 2 năm tăng cao mới có 1 năm tăng thấp hơn.
Năm 2004 tăng 9,5%, năm 2005 tăng 8,4%, thì năm 2006 tăng 6,6%. Năm 2007 tăng 12,63%, năm 2008 tăng 19,89%, thì năm 2009 tăng 6,52%.
Năm 2010 tăng 11,75%, năm 2011 sau 8 tháng đã tăng 15,68% (nếu tính theo năm thì tháng 8/2011 so với cùng kỳ năm trước đã tăng tới 23,02%). Dự báo cả năm phải phấn đấu tích cực mới ở mức 18% (nếu theo “quy luật” trong mấy năm qua thì khả năng năm 2012 sẽ tăng thấp hơn và từ đó có thể nhận thấy việc Chính phủ đưa ra chỉ tiêu dưới 10% của năm 2012 là có tính khả thi).
Nguyên nhân