Không có gì quý bằng Nguyên và Trung của tôi - Hãy đứng trên đôi vai người khổng lồ nhờ tri thức đọc

Hãy đứng trên đôi vai người khổng lồ nhờ tri thức đọc. Chúng ta cô đơn, bất lực và bế tắc vì có thể ở đâu đó có vài lời hô hào ủng hộ, ngưỡng mộ những hành động đấu tranh của chúng ta phản đối nhóm người cai trị gian ác, tham lam và đầy quyền lực. Nhưng thử hỏi, nếu xảy ra chuyện gì, chẳng hạn chúng ta bị bắt giam, tù đày, dù ai cũng biết là trái luật và dù ai cũng hiểu là hành động bất nhân của nhóm người cai trị, thì thử nhìn xem liệu có mấy người sẽ xuống đường phản đối, ký thư ngỏ kiến nghị đòi thả tự do cho chúng ta ?

Thứ Ba, 21 tháng 2, 2017

Có phải chân đàn bà thường lạnh?

Có phải chân đàn bà thường lạnh?
20/02/2017 - Chân đàn bà thường lạnh. Họ lội dưới nước, dẫm trong bùn đất, dầm trong mưa lạnh. Mười ngón chân bấu chặt vào đất như một thói quen.
Nắng xuân luồn qua tán na hắt từng vạt nhỏ vào hiên. Bà già ngồi cạy đất trong kẽ móng chân, lẩm bẩm ngâm Kiều:
Ngoài vườn, con dâu bà đang lúi húi làm đất gieo hạt giống rau. Dù chồng chị đã gắt: “Rau đầy, ăn hết đâu mà cứ trồng nhiều để lại mất thời gian chăm bẵm”. Nhưng đàn bà nông thôn bao giờ chẳng vậy, rảnh rỗi tay chân là cảm thấy khó chịu nên phải kiếm việc gì đó làm. Ngồi không mà để vườn rậm rạp, cỏ mọc um tùm đâu có được. Nên hết nhổ cỏ thì cuốc đất. Hết vun xới chỗ này lại tưới tắm chỗ kia.

Chân đàn bà thường lạnh. Họ lội dưới nước, dẫm trong bùn đất, dầm trong mưa lạnh. Mười ngón chân bấu chặt vào đất như một thói quen. Ngay cả khi đã ủ trong chăn thì chân đàn bà vẫn lạnh. Những ông chồng thỉnh thoảng lại giật mình khi chạm vào chân vợ. Bà già nhớ đến những giây phút cuối cùng trước lúc chồng nhắm mắt. Ông run run giơ bàn tay gầy guộc chỉ còn da bọc xương để nắm lấy chân bà. Ông nói trong chút sức tàn lực kiệt: “Sống cả đời, đến hôm nay tôi mới biết chân bà rất lạnh”. Nói rồi ông đi. Ngoài vườn cây đào ra hoa muộn cũng đã trút những cánh mỏng manh cuối cùng xuống cội.

Ông đi rồi, bà già vẫn có thói quen đun một nồi nước ngâm chân vào buổi tối. Vài lát gừng tươi, vỏ bưởi khô vừa thơm vừa ấm. Lúc còn sống, ông thường nhẹ nhàng đặt từng chân vào chậu rồi cằn nhằn: “Sao nóng thế?”. Bà vội vã thêm từng chút nước lạnh và luôn miệng hỏi: “Ðược chưa?”. Bà chiều ông lắm. Chiều từ ngụm trà sen xanh trong đáy chén đến cốc rượu thuốc trong bữa cơm. Từ mảnh cơm cháy thơm giòn đáy nồi đến cả những miếng mứt gừng ngậm vào sáng sớm. Sống như ông mới đáng sống. Mỗi ngày đều vui vẻ dạo chơi với cuộc đời. Ông sống đúng kiểu nhâm nhi thưởng thức. Người ngoài chẳng bao giờ thấy ông nhăn nhó. Cứ điềm nhiên sống và thong thả cười.

Sáng nào cũng thấy ông ngồi uống trà bên chiếc bàn cũ ở góc sân. Vài tiếng ho khan của ông cũng làm bà thắt ruột. Dù chính lưng bà đang đau nhức, xương khớp đang rời rạc kêu than. Bốn giờ sáng bà đã lật đật dậy đun nước pha trà cho ông đúng lúc sương trời dày đặc. Ra giếng múc được gầu nước thì sương đã đậu trắng trên mái tóc, chiếc áo len màu gụ và xuyên qua cả lớp tất chân. Nhóm xong bếp, bà hơ bàn chân lạnh buốt trên lửa. Nhưng chân bà không chịu ấm lên như thể sương đã ngấm vào từng thớ thịt. Bà đun cho đến khi nước trong siêu cạn chỉ còn đủ pha một ấm trà thì ông thức dậy. Bà mở hộp chè, mùi sen tỏa ra thơm ngát cả căn nhà…


Ảnh: Trần Duy

Hồi ấy các con còn ở xa, nhà chỉ có hai ông bà quanh quẩn. Ông vui với sách, chim cu gáy và cây cảnh. Bà bận rộn với mấy luống rau thơm và hoa trái trong vườn. Rau thơm ngày nào cũng có người đặt mua cho các cửa hàng, quán nhậu dưới thị xã. Mỗi thứ vài cân, mình bà hái cũng đủ mỏi lưng. Ðám húng chó, kinh giới, tía tô cứ hái lại chồi rất nhanh. Ban đầu bà chỉ định trồng cho ông ăn nhưng về sau lại thành nguồn thu nhập chính. Ông có lương quân đội, tháng nào cũng lĩnh nhưng không tiêu đến.

Hai người già thì tiêu pha, ăn uống có là bao. Ông ăn uống không đòi hỏi thứ gì cao sang, ngon bổ nhưng lại rất cầu kỳ. Cầu kỳ ở chỗ bữa nào cũng phải có lá nhội trên mâm. Lá nhội cuốn gỏi cá hoặc cuốn với thịt ba chỉ thì ngon hết nấc. Gia vị cũng thường là muối trắng trộn với lá nhội giã nhuyễn. Thêm vài món rau thơm nhấm nháp thế là cứ lai rai với vài ly rượu thuốc. Bà ăn cơm với cá khô mặn chát, dưa muối, lạc rang. Mà thực ra bà ăn cơm bằng những tiếng “khà” sảng khoái của ông già khi nhấp từng hớp rượu. Bữa nào ông đau, ăn uống không ngon là bà thấy miệng mình đang nhai rơm. Khô khốc. Cũng có khi ông chán cơm. Chán một cách bất thường không lý do. Bà già cũng thở dài bỏ bữa.

Những đêm mùa đông bà hay đắp chăn kín đầu. Khẽ khàng ngửi mùi gừng, mùi hoa bưởi tỏa ra từ hai bàn chân ông. Bà nằm co lại tự ủ ấm cho mình. Ðêm trở giấc bà cũng không dám chạm vào chân ông. Dù rất thèm hơi ấm của người bạn đời làm thịt da mình bớt lạnh. Bàn chân bà đi đất cả ngày. Có khi lội dưới ruộng rau muống đến tê cóng. Những kẽ móng chân bám đất đen sì. Gót chân nứt nẻ bật máu. Mỗi bước đi đều đau nhoi nhói.

Nhưng ông không bao giờ biết. Vì ông còn mải ngửa cổ nhìn chim trong lồng, nhìn những chùm hoa trên giàn buông thõng. Ông không bao giờ nhìn xuống chân bà suốt bảy mươi năm. Bà vẫn cần mẫn đun nước cho ông ngâm chân. Thỉnh thoảng ông lại giãy nảy “nước gì mà nóng thế”. Bà cười hiền, lẩm bẩm thanh minh “tại tay tôi lạnh quá nên thử nước không chuẩn”. Nước giếng lạnh quá mà.

Bà ngồi giặt lại đống chiếu chăn, mùng màn. Chăn nhung nặng, bà phải cho chân vào dẫm. Lúc ấy chắc ông còn đang bận đọc sách. Nhà không gần đường mà bụi bặm vẫn nhiều. Tuần nào bà cũng phải mang những cuốn sách của ông ra giũ bụi. Bà ít chữ, mấy luống rau còn cuốn hút tâm trí bà hơn sách báo. Nhưng bà nâng niu chúng vì biết một nửa phần hồn của ông nằm ở sách. Có hôm ông bỏ cơm. Bà gặng hỏi thì ông bảo:

- Tôi thấy thương người ta quá nên đâu nuốt nổi.

- Người ta là ai?

- Thì người đàn bà trong câu chuyện ấy chứ ai.

Bà nhìn theo hướng tay ông thấy cuốn sách đọc dở đang rưng rưng trước gió. Bà cằn nhằn:

- Hơi đâu mà thương người không có thật.

- Thật chứ sao không? Ðọc sách mà lúc nào cũng nghĩ nó không có thật như bà thì đọc làm gì.

- Ờ thì… tôi cũng đâu có đọc.

Bà lại cười hiền khô, lẩm bẩm xót xa “nhịn bữa thế này đêm đói làm sao ngủ được”. Bà ngồi ăn một mình, miếng cơm khô khốc trong cổ họng. Ðêm ấy thấy ông trằn trọc, bà dậy nhóm lửa nấu mì cho ông. Trời tối om, bà lọ mọ ra vườn hái ít rau thơm. Nấu mì là phải rắc ít hành, mùi thái nhỏ. Ăn vậy ông mới chịu. Mì ngon quá hoặc là do đang đói quá nên ông mải ăn mà không nhìn thấy bà ngồi nhai búp chuối non đắp vào vết thương ở bàn chân. Lúc mò mẫm ra vườn mảnh sành sắc nhọn đã cắm xuyên qua chiếc dép nhựa mòn vẹt của bà. Bà đã nhiều lần nhắc ông đừng vứt linh tinh các mảnh vỡ ra vườn. Nhưng mỗi lần làm rơi vỡ thứ gì là ông cứ tiện tay quăng.

Cả đêm ấy bà không ngủ được. Vết thương ở chân tấy nhức. Sáng ra bà tính hỏi xem trong những cuốn sách ông từng đọc có thấy người ta dạy cách cầm máu và chữa vết thương mau lành lại? Hoặc hỏi ông có thấy người đàn bà nào ngồi ôm vết thương suốt đêm, thức nghe chồng mình ngáy? Ðấy là tính vậy thôi chứ bà đâu hỏi. Có hỏi ông cũng sẽ tỉnh rụi bảo “chắc là có đủ hết ấy chứ. Sách đâu có thiếu gì. Chỉ là tôi chưa đọc đến mà thôi”. Bà sẽ lại cười hiền khô, lẩm bẩm nói với ông mà như nói với chính mình “đúng là sách chẳng thiếu gì…”.

Ông không bệnh tật gì nhưng tự nhiên cứ yếu dần đi. Những sợi tóc trên đầu ông cứ đua nhau bạc. Ngón tay run run lật từng trang sách. Ông hay kêu khó thở. Nằm im lìm ngoài chõng tre nhìn chênh chếch vào vòm nắng qua tán cây khế ngọt. Với ông nắng cũng phải đẹp đẽ và thi vị cỡ đó. Lung linh, tinh nghịch và ngọt như nhụy hoa trà. Bà chạy đôn chạy đáo đi bốc thuốc bổ cho ông. Cố gắng để chiều theo những ý thích của ông. Nhưng ngay cả món lá nhội ông ăn cũng không còn thấy ngon, sách không buồn đọc. Chỉ thấy bỗng nhiên ông thèm quấn quýt bên bà. Thỉnh thoảng lại gọi “bà ơi, bà à”. Gọi vậy thôi, gọi để thấy bà dù đang bận việc gì ngoài vườn cũng vội vã chạy lại sốt sắng lo lắng hỏi han.

Bà không dám rời mắt khỏi ông. Ði chợ cũng mua bán vội vàng để về với ông. Mấy luống rau không người chăm cỏ mọc đầy, ốc sên cắn cụt. Ðến chuối chín cây cả buồng bà cũng mặc chim, chuột khoét nham nhở hết. Bà còn bận ngồi bên cạnh đọc sách cho ông nghe. Mắt bà kém, bà vừa đọc vừa dịch từng chữ một. Ðọc sách kiểu như bà thật là khó xuôi tai. Người bình thường cũng cảm thấy khó chịu huống hồ ông. Ấy vậy mà ông im lặng kiên nhẫn lắng nghe. Mà cũng chẳng biết ông có đang nghe thật hay đầu óc còn mải để trên vòm cây khế ngọt. Thỉnh thoảng bà thấy ông khẽ mỉm cười.

Ông mất lúc đang nằm ngắm nắng trên vòm cây khế ngọt. Nói đúng hơn là ông đã uống những giọt nắng ngọt như nhụy hoa trà trước khi nhắm mắt. Tay ông dần buông những ngón chân đen đúa và lạnh lẽo của bà. Bà mang những ký ức về ông để túc tắc đi nốt quãng đời còn lại. Vợ chồng con trai về ở cùng nhà để trông nom bà lúc trái nắng trở trời. Con dâu tính cũng giống bà thích quẩn quanh vườn tược. Ðôi chân những người đàn bà thôn quê luôn lún trong bùn đất. Nên có nhiều hôm nhìn ra vườn bà như bắt gặp hình ảnh của mình lom khom giữa màu xanh tươi non trù phú.

Vắng ông bà cũng yếu dần đi. Nhường mảnh vườn lại cho con dâu chăm tưới. Bà ngồi đầu hiên, chỗ ngày xưa ông hay ngồi ngóng nắng. Bà ngồi nghe đài, tiếng dò sóng lẹt xẹt lẫn trong tiếng lá rơi xào xạc. Bà nheo đôi mắt đã mờ như sương sớm nhìn nắng qua kẽ lá. Ừ nhỉ… giờ thì bà thấy nắng cũng lung linh và ngọt như nhụy hoa trà.

Vũ Thị Huyền Trang
http://phunuonline.com.vn/tinh-yeu-hon-nhan/co-phai-chan-dan-ba-thuong-lanh-93871/

1 nhận xét: