Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 14 tháng 5, 2018

Kỷ niệm: GS Phan Đình Diệu và Viện Tin học

Lai Tran Mai: Bài này tôi lưu trong Blog năm 2012. Đăng lại hôm nay để các bạn đọc và hiểu hơn về GS Phan Đinh Diệu 'kẻ sĩ chân chính, cương trực' (xem thêm: "Tin buồn: GS Phan Đình Diệu từ trần" và giới khoa học thời trước và đầu đổi mới. Trong những năm 1983-1984, tôi thường xuyên tới Viện Khoa học tính toán và điều khiển chạy nhờ máy tính khi giải các mô hình toán kinh tế (phải trả tiền thuê máy theo giờ, chỗ anh Vũ Duy Mẫn và anh Ngô Trung Việt) và có hợp tác với một số nhà khoa học của Viện để thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học... nên có nhiều kỷ niệm với Viện này.

Hiệu Minh có nhắc lại chuyện GSTSKH Phan Đình Diệu và GSVS Nguyễn Văn Hiệu, tôi cũng muốn ghi lại một vài ấn tượng. GS Diệu thì tuyệt vời, anh em trẻ chúng tôi rất quý. Viện sĩ Hiệu thì thường được anh em gắn đôi với Giáo sư tiến sĩ khoa học Nguyễn Thúc Loan. Lúc đó bác Hiệu nổi tiếng nói nhiều, hứa nhiều nhưng làm chẳng được bao nhiêu; còn bác Loan thì lang thang khắp nơi, phát biểu vung mạng (có trường hợp bạn tôi làm luận án tiến sĩ Toán đã xong, trường tổ chức buổi bảo vệ thử để ít hôm sau làm thật; vô phúc thế nào bác Loan đi qua rẽ vào dự, phát biểu bác bỏ hết cả luận án, chẳng GS, TS nào của trường dám cãi bác, thế là bạn tôi phải làm lại từ đầu, không được làm nghiên cứu sinh bên khoa Toán nữa mà phải chuyển sang làm bên khoa Thống kê, 3-4 năm sau mới hoàn thành bản luận án hoàn toàn mới). Do đó mới có câu bác Hiệu nên nhường dấu nặng cho bác Loan để trở thành bác Hiêu (Hươu Vượn), còn bác Loan thêm dấu nặng để trở thành bác Loạn (Hiệu Minh cũng nhắc tới chuyện Hiêu này). Anh em trẻ đặc biệt chê bác Hiêu làm chính trị nhiều quá, nhất là lại chường mặt ra đọc dự thảo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (12-1986) để Đại hội biểu quyết thông qua, lúc đó chúng tôi xem trực tiếp trên Tivi, tất cả đều chửi bác Hiệu...

Riêng đối với bác Loan, nhiều người không ưa bác song cá nhân tôi rất quý vì bác thật thà, tốt bụng, chan hòa với bọn trẻ chúng tôi. Bác hay rẽ vào phòng tôi, có gì ăn nấy, sau leo lên bàn làm việc của tôi ngủ rất ngon lành như đứa trẻ (tôi thì xếp 3 cái ghế thành hàng và nằm ngủ bên cạnh). Nghe nói trình độ bác rất siêu, tôi không làm trong lĩnh vực của bác (điều khiển học và thích nghi) nên tôi không rõ. Trên mạng hồ sơ khoa học của Bộ Giáo dục và Đào tạo (http://hskh.moet.gov.vn) đưa tin bác sinh năm 1940, năm 1969 đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ, năm 1973 bảo vệ thành công luận án tiến sĩ khoa học (mới có 33 tuổi), đều tại Nga; đã hướng dẫn thành công 6 luận án Tiến sĩ và 6 luận văn Thạc sĩ, đã giảng dạy cho nhiều khoá sinh viên đại học và cao học của Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội và ĐH Bách Khoa TPHCM, đã công bố 98 công trình bằng tiếng Nga, Anh, Đức, Việt trên các tạp chí trong và ngoài nước (chủ yếu là công bố ở nước ngoài. Năm 1991 khi gặp bác ở Mockba, bác nói với tôi là đã công bố hơn 200 công trình ở nước ngoài - quá giỏi. Bác cũng viết khá nhiều sách bằng cả tiếng Việt và tiếng Nga. Sau tháng 12 năm 1991 tôi không gặp lại bác, nhưng rất nhớ. Ngày 5.2.2012, khi đọc phần bình luận về bài "Ngô Kiều Oanh – tiếng hót phận hồng nhan" trên Blog Hiệu Minh, thì được 1 bạn đọc người nhà GSTS Nguyễn Thúc Loan cho biết ông đã mất năm 2007 sau một tai biến (xem thêm về GSTS Loan ở cuối bài này). Thật vô cùng thương tiếc GS Loan và xin thắp nén hương tưởng nhớ tới GS.

Vài kỷ niệm với Viện Tin học
Hiệu Minh, Theo blog Hiệu Minh

Phòng lập trình 30 năm (2007)
Hồi về khu Đồi Thông (Liễu Giai – Hà Nội) nhận việc, mình thấy có cái lò gạch bỏ không, nghĩ ngay đến cái nhà của Chí Phèo. Quanh đó trồng chuối, có cái mương nhỏ, thấy như Nam Cao sáng tác truyện đó ở đây.

Thứ Năm, 26 tháng 4, 2018

Thế nào là Gia tộc, Gia họ, Gia hệ

Bài này mình viết đầu năm 2014, nhân đọc bài "‘Lò’ sẽ đốt “gia tộc họ Lê - Trương” ở Sài Gòn?", mình đăng lại.
Gia tộc, gia họ, gia hệ
Lại Trần Mai: Đọc bài Dấu ấn 'con ông cháu cha' của nguyên thủ trên Tuanvietnam, mình có cảm hứng viết 1 đoạn giải thích. Tuy nhiên hơi dài nên mình tách riêng làm thành bài này.

Image result for gia đình trung hoa
Cuối năm con cháu về thăm chúc Tết lão gia tử
Ở các nước châu Á, vấn đề gia tộc (dòng chính bên nội), gia họ (thêm họ hàng xa, dâu rể và thế lực bên gia tộc dâu rể), gia hệ (thêm bè phái, đệ tử cùng chung quan điểm, vận mệnh) cực kỳ quan trọng và là bệ phóng cho các chính trị gia leo dần lên các nấc thang quyền lực trong bộ máy công quyền. Thông thường trong hệ thống này, sẽ có một gia tộc làm nòng cốt, xung quanh là các vệ tinh, nhất hô vạn ứng. Trong gia tộc nòng cốt đó, tộc trưởng (lão gia tử) và hội đồng tối cao (các con trai và cháu đích tôn của tộc trưởng) phân chia con cháu thành vài loại, trong đó có 2 loại chính:

Thứ Sáu, 6 tháng 10, 2017

Phim ‘Cuộc chiến Việt Nam’ và đáy giếng lịch sử

Phim ‘Cuộc chiến Việt Nam’ và đáy giếng lịch sử
Trước khi người Việt Nam có thể làm một bộ phim cho chính mình thì bộ tài liệu của Burns và Novick là cơ hội tốt nhất để chúng ta, đặc biệt là người Việt trẻ, hiểu hơn về lịch sử viết bằng máu của dân tộc mình. Như Ken Burns đã nói “tiến bộ và hoà giải chỉ đến khi chúng ta ít quả quyết hơn về những gì mình biết,” hoà giải chỉ đến khi chúng ta dám thừa nhận những gì mình biết chỉ là khoảng trời gói gọn trong miệng giếng. Những nỗ lực như “Cuộc chiến Việt Nam” sẽ như nước mưa giải thoát chúng ta khỏi đáy giếng hiện thực của chính mình.

Phim ‘Cuộc chiến Việt Nam’ và đáy giếng lịch sử. Ảnh: internet
Nguyễn Nhật Huy - “Trở về từ Việt Nam cũng nhức nhối như chính cuộc chiến” – Karl Marlantes, một cựu binh Mỹ mở đầu bộ sử thi truyền hình mới nhất của Ken Burns và Lynn Novick trình chiếu trên kênh PBS. Ở Mỹ, suốt nhiều năm sau chiến tranh, không ai nói về Việt Nam vì nó quá chia rẽ, giống như “sống trong một gia đình với ông bố nghiện rượu.” Cuộc chiến Việt Nam giống như một sang chấn tinh thần mà không ai muốn nhắc đến. Chỉ tới gần đây khi những người lính xưa đã trở thành ông bà thì “thế hệ babyboomers mới bắt đầu tự hỏi: điều gì đã xảy ra?”

Thứ Hai, 2 tháng 10, 2017

Chiến tranh VN, cuộc chiến “nấu đậu đốt cành đậu”

Chiến tranh Việt Nam, cuộc chiến “nấu đậu đốt cành đậu”
chúng ta hãy quay trở lại tháng 11 năm 1971 với câu chuyện đối thoại giữa Mao Trạch Đông và Phạm Văn Đồng. Mao Trạch Đông nói: “Cán chổi ngắn quá, không thể quét tới nơi quá xa được. Đối với Đài Loan, chổi của chúng tôi phải với hơi xa mất một chút. Đồng chí ạ, Nguyễn Văn Thiệu Miền Nam Việt Nam cũng nằm ngoài phạm vi năng lực của các đồng chí, chúng ta phải chấp nhận tình hình này.” Phạm Văn Đồng trả lời: “Chổi của Miền Bắc Việt Nam cũng đủ dài đấy.”
Từ trái qua, theo chiều kim đồng hồ: Fidel Castro, Mao Trạch Đông, Leonid Brezhnev, TBT ĐCS Liên Xô; Gustáv Husák, Bí thư Thứ nhất của ĐCS Czechoslovakia; Władysław Gomułka, Bí thư Thứ nhất ĐCS Ba Lan. Ảnh: Time

Chiến tranh Việt Nam vẫn chưa kết thúc?

Chiến tranh Việt Nam vẫn chưa kết thúc?
Nguyễn Quang Dy - “Chưa kết thúc” (unfinished business) không phải là chữ của tôi mà là của đạo diễn phim này. Một số bạn bè bảo tôi bình luận về phim “The Vietnam War” (Ken Burns & Lynn Novik, PBS, Sept 2017). Khó quá vì tôi đã xem hết đâu mà dám bình luận. Ở Việt Nam làm sao xem được PBS. Dù có trong tay trọn bộ 10 tập phim (dài 18 giờ) thì cũng phải mất vài ngày mới xem hết. 
Image result for Ken Burns and Lynn Novick,
Ken Burns and Co-Director Lynn Novick on the 
Lessons in Their Latest Documentary, The Vietnam War
Vì vậy đành phải xem lướt qua một lượt (fast forward) để có khái niệm, chỉ dừng lại xem đoạn nào cần thiết, như đọc lướt (skim-reading) một cuốn sách quá dầy. Thứ nhất, phim này dài quá, dù có kiên trì xem hết thì cũng dễ bội thực. Thứ hai, mới xem qua một lượt đã có cảm tưởng “Déjà Vu” nên cũng mất hứng thú. Thứ ba, tôi tò mò muốn lắng nghe xem các bên bình luận thế nào (tuy không biết các vị đó đã xem hết chưa). Vì vậy, bài viết này đơn giản chỉ là một số ấn tượng chung ban đầu, chứ không phải bình luận chi tiết.

Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại

Hà Tiên và sự hình thành nước Việt Nam hiện đại

29/09/2017 08:00 - Vũ Đức Liêm
Hà Tiên ngày nay là thị xã vùng biên nhỏ nhắn, bình yên, thơ mộng nép mình bên bờ vịnh Thailand. Hà Tiên của hai trăm năm trước là một trong những trung tâm kinh tế sôi động nhất ở Đông Nam Á, nơi diễn ra các tranh chấp chính trị và quân sự không ngừng giữa người Việt, người Thái, người Khmer và các cộng đồng người Hoa. Lịch sử của vùng đất này là minh chứng sống động cho sự đa dạng trong thống nhất của quá trình hình thành nên lãnh thổ và dân tộc Việt Nam.

Một phần biển Mũi Nai, Hà Tiên, Kiên Giang ngày nay. 
Vùng đất này nằm giữa các diễn ngôn lịch sử rất khác biệt, nhiều khi bị trùm phủ dưới các huyền thoại tạo ra bởi chủ nghĩa dân tộc. Bài viết này chỉ ra những nhân tố cốt lõi làm nên sự thịnh vượng của Hà Tiên và tìm kiếm sự gắn kết của nó đối với lịch sử Việt Nam, như một phần của công cuộc định hình nên không gian của nước Việt Nam hiện đại.

Đường biên giới VN – Campuchia có từ thời Nguyễn

Sự hình thành đường biên giới Việt Nam – Campuchia thời Nguyễn

15/09/2017 14:19 - Vũ Đức Liêm
Bài viết này phản bác lại luận điểm rằng đường biên giới Việt Nam-Campuchia là sáng tạo của người Pháp. Trái lại, nó là sản phẩm của các nỗ lực của nhà Nguyễn ở đầu thế kỷ XIX trong việc hoạch định biên giới, tổ chức lãnh thổ, và xác lập các hệ thống phòng thủ, cũng như bố trí dân cư dọc theo đường ranh giới mà theo đó sẽ định hình nên đường biên hiện đại giữa hai quốc gia.
Đường ranh giới Việt Nam-Cao Miên trên bản đồ tỉnh An Giang. Nguồn: "Đại Nam Nhất Thống Dư Đồ" (1861, EFEO microfilm, A.1600, 76a).

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2017

Những Nghịch lý và Ngộ nhận về Việt Nam

Những Nghịch lý và Ngộ nhận về Việt Nam
Nguyễn Quang Dy - “Chúng ta không thể thay đổi được quá khứ, nhưng chúng ta có thể sắp xếp lại tương lai” “We cannot change the past, but we can reshape the future” (Dalai Lama).
Chiến tranh Viêt Nam đã đi vào lịch sử lâu rồi. Đã 42 năm kể từ khi cuộc chiến đó chấm dứt, nhưng người ta vẫn còn tranh luận về Chiến Tranh Việt Nam (hay còn gọi là cuộc “Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai”). Tại sao “bóng ma Việt Nam” đến giờ vẫn còn ám ảnh người Mỹ và người Việt, nhất là thế hệ những người đã trực tiếp dính líu vào Việt Nam, dù là quân nhân hay dân sự và nhà báo. Tại sao người ta vẫn tiếp tục viết sách và làm phim về Việt Nam? Phải chăng vì Chiến tranh Việt Nam có quá nhiều nghịch lý và ngộ nhận?

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2017

Một thế kỷ thăng trầm của chủ nghĩa cộng sản

Một thế kỷ thăng trầm của chủ nghĩa cộng sản
18/07/2017 Một trăm năm sau Cách mạng Tháng Mười Nga, liệu phượng hoàng có vươn lên từ đống tro tàn của lịch sử? “Ura! Ura! Ura!”[1] Tôi vẫn nhớ rất rõ âm thanh ấy, khi những người lính nghiêm trang trong quân phục xám đến chào chỉ huy của họ: “Chúc mừng kỷ niệm 70 năm Cách mạng Xã hội Chủ nghĩa Tháng Mười Vĩ đại!”

Năm 1987, khi còn là một sinh viên trao đổi ở Moskva, trong một sáng tháng 11 hanh khô, tôi đã đến Đường Gorky để xem một đoàn binh diễu hành đến Quảng trường Đỏ. Các quan chức cấp cao của Liên Xô và nước ngoài ngồi trên khán đài chủ trì buổi lễ trong khi những người lính trẻ tỏ lòng tôn kính của họ trước Lăng Lenin. Màn diễu binh ấn tượng này là nhằm thể hiện sức mạnh cách mạng lâu dài của chủ nghĩa cộng sản và phạm vi toàn cầu của nó.

Những chiến binh “phát đạt” nhờ tha hoá thể chế

Những chiến binh “phát đạt”: Từ may mắn lịch sử đến tha hoá thể chế
NGUYỄN QUỐC TẤN TRUNG, 17/07/2017 Các tướng lĩnh quân đội đang liên tục “nã pháo” vào nhau trong cuộc khẩu chiến về việc quân đội có nên làm kinh tế hay không. Hồ Chí Minh giúp cuộc cách mạng Việt Nam có nền tảng dân sự rõ ràng hơn nhiều so với các cuộc cách mạng dân tộc giải phóng thuộc địa khác ở Nam Mỹ hay châu Phi. Thành công của đảng Cộng sản Việt Nam là sử dụng bạo lực như một công cụ đắc lực, nhưng lại không để quyền lực của nhóm tướng lĩnh quân sự có thể che khuất các chức danh dân sự được bầu khác.

Tổng Giám đốc Viettel, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng, 
tại một sự kiện ra mắt sản phẩm của tập đoàn. Ảnh: NetNews.
Câu chuyện quân phiệt cũ
Trong một tài liệu giải mật của Trung Tâm Tài Liệu Quốc Phòng Hoa Kỳ nghiên cứu về vai trò của quân đội tại các quốc gia đang phát triển, chủ nghĩa quân phiệt luôn là một vấn đề lớn, và sẽ để lại rất nhiều hệ quả cho các quốc gia này sau khi cách mạng chống thực dân thành công.

Thứ Tư, 7 tháng 6, 2017

(4) Lượm lặt tiếp trong đám giỗ ông Võ Văn Kiệt (kỳ 4)

Đối với bác Kiệt, mình vừa thích và vừa không thích. Thích vì thời bác làm Bí thư Sài Gòn (1976-1982), bác đã tìm mọi cách để Sài Gòn được phép vượt rào (làm trái pháp luật) để phát triển; thậm chí khi bị một vài cơ quan trung ương ngăn cản cấm đoán, bác đã thẳng thừng gọi đó là "những hàng rào của chủ nghĩa bảo thủ", và bác đã trừng phạt một số cơ quan này sau khi nắm được chức Thủ tướng (1991). Trong khi bác làm Bí thư Sài Gòn thì bác Lê Văn Lương làm Bí thư Hà Nội (làm trong 10 năm 1977-1986); dân gian thường so sánh 2 bác bằng 1 câu: "Kiệt mà không kiệt; Lương mà bất lương". Bác Kiệt cũng rất quan tâm tới giới khoa học, đã từng gọi chúng tôi đến báo cáo về các mô hình kinh tế, các kết quả phân tích và dự báo dựa trên mô hình... mà chúng tôi thực hiện. Bác nghe rất chăm chú; sau đó giao cho thư ký, đồng thời là tiến sĩ toán học Nguyễn Địch, thường xuyên gặp chúng tôi để nắm thông tin và giúp đỡ. Thời bác làm thủ tướng (1991-1997) là giai đoạn đất nước phát triển rực rỡ nhất, đúng cách nhất, chủ yếu dựa vào nội lực, vào tự do hóa kinh tế và tư nhân hóa. Không thích vì bác quá địa phương chủ nghĩa. Khi làm Chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước, bác đã quá ưu ái cho Nam Bộ, ưu tiên cung cấp hàng viện trợ của Liên Xô cho Nam Bộ, tạo giá cánh kéo có lợi cho nông sản, bất lợi cho hàng công nghiệp, làm cho vùng Đông và Tây Nam bộ sản xuất toàn nông và công nghiệp tiêu dùng, lại giàu hơn vùng công nghiệp nặng phát triển ở phía Bắc; đây là một nghịch lý phát triển vì vùng nông nghiệp giầu hơn vùng công nghiệp. Do đó, dân Nam Bộ cực kỳ yêu thích bác. Thậm chí khi bác chần trừ chưa muốn cho các doanh nghiệp nào đó vượt rào, nhiều người bảo "anh cứ mần đi, trung ương bắt anh vô tù thì cả Nam bộ sẽ thăm nuôi".
Lượm lặt tiếp trong đám giỗ ông Võ Văn Kiệt (kỳ 4)
Lưu Trọng Văn - Gã có nghe một nhà báo rất rành chuyện chính trường thủ thỉ rằng, mới đây có một số cán bộ lão thành cao cấp đã gặp lãnh đạo đảng bày tỏ lo ngại sự thiếu giám sát của đảng sẽ đẩy tình trạng tham nhũng, lợi ích nhóm không kiểm soát được dẫn tới nguy cơ tan đảng. Và nhóm lão thành đó đã kiến nghị nội bộ rằng để tránh sự tan đảng cần thiết phải tái lập đảng Lao động song song với đảng Cộng sản để có thể giám sát xây dựng nhau.
Có bạn của gã trách gã, đến đám giỗ nhà người ta tại sao kể chuyện linh tinh, linh ta về những người đều là người thân của nhà người ta trong đám giỗ nhà người ta làm gì?
Rõ là lời trách chính đáng lắm.

Thứ Hai, 29 tháng 5, 2017

55 Câu ca dao bất hủ đi cùng đất nước

55 Câu ca dao bất hủ đi cùng đất nước
1. Nam Kỳ Khởi Nghĩa tiêu Công Lý
Đồng Khởi vùng lên mất Tự Do
2. 
Ngày xưa chửi Mỹ hơn người
Ngày nay nịnh Mỹ hơn mười lần xưa
Ngày xưa đánh Mỹ không chừa
Ngày nay con cái lại lùa sang đây
Ngày xưa Mỹ xấu, Ðảng hay
Ngày nay Ðảng ngửa hai tay xin tiền !
3. 
Trồng mía, trồng ớt, trồng hành
Vì nghe lời đảng mà thành bể niêu
Trồng tiêu rồi lại trồng điều
Vì nghe lời đảng mà niêu tan tành

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2017

(6) Bản án chế độ thực dân Pháp: TỆ THAM NHŨNG

Bản án chế độ thực dân Pháp – Chương VI
TỆ THAM NHŨNG TRONG BỘ MÁY CAI TRỊ
Hồ Chí Minh
Một cựu nghị sĩ đi thăm thuộc địa về, đã phải kêu lên: “So với bọn viên chức thuộc địa thì những tên cướp đường còn là những người lương thiện!”. Mặc dù đồng lương rất hậu (một nhân viên Pháp mới bổ dụng, dù có dốt đặc đi nữa, lương ít nhất cũng 200 đồng = 2.000 phrăng mỗi tháng), nhưng các ngài viên chức ấy vẫn không bao giờ thoả mãn, họ muốn kiếm chác nhiều hơn, bằng đủ cách.
Ngân sách Nam Kỳ chẳng hạn, năm 1911 là 5.561.680 đồng (12.791.000 phrăng); năm 1912 là 7.321.817 đồng (16.840.000 phrăng). Năm 1922, ngân sách đó lên tới 12.821.325 đồng (96.169.000 phrăng). Một con tính đơn giản cho chúng ta thấy giữa hai năm 1911 và 1922, trong ngân sách của thuộc địa này có một sự chênh lệch là 83.369.000 phrăng. Số tiền đó chạy vào đâu? Tất nhiên là vào các khoản chi về nhân sự, vì các khoản này ngốn gần hết 100% tổng số thu.

Thứ Ba, 9 tháng 5, 2017

Cải cách điền địa ở VN Cộng hòa (nhiều ảnh đẹp)

Trong khi cả nước năm 1980 chỉ sản xuất được 11,6 triệu tấn thóc, tương đương khoảng 7,2 triệu tấn gạo thì với diện tích đất ít ỏi ở Nam Việt Nam năm 1974, sản lượng gạo sản xuất cũng đã đạt 7,2 triệu tấn. Đáng nói là năm 1974 miền Nam sản xuất trong điều kiện chiến tranh, còn ngoài Bắc lãnh đạo đổ lỗi cho chiến tranh nên sản xuất hầu như ngưng trệ, người dân sống chủ yếu bằng nguồn viện trợ nước ngoài. Thể chế đi ngược lòng dân rồi cũng sẽ bị thay đổi. Bài học từ Chương trình Người Cày Có Ruộng của Việt Nam Cộng Hòa là phải trao lại quyền sở hữu ruộng đất cho nông dân. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Nông dân có giàu thì nước mới mạnh. Nông dân sẽ luôn là tầng lớp chính của dân tộc Việt Nam và lịch sử đã chứng minh họ luôn là nền tảng trong việc bảo vệ và xây dựng quốc gia. 
Cải cách điền địa ở Việt Nam Cộng hòa ra sao?
Nguyễn Quang Duy, gửi tới BBC từ Úc, 24 tháng 9 2014
Trong khi miền Bắc phóng tay Cải cách Ruộng đất tiêu diệt tầng lớp địa chủ thì chính quyền miền Nam liên tục tiến hành tư hữu hoá đất đai, thực hiện công bằng xã hội, nâng cao đời sống nông dân. Qua việc thu mua đất từ các điền chủ rồi bán lại hay phát cho nông dân, trước năm 1975 mọi gia đình nông dân miền Nam đều đã thật sự làm chủ mảnh đất tư hữu của mình.


Ông Ngô Đình Diệm đã tiến hành cải cách nông thôn khi còn làm Thủ tướng
Chương trình Người Cày Có Ruộng (NCCR) là một cuộc cách mạng xã hội, thay đổi tận gốc rễ nông thôn miền Nam. Chương trình được thực hiện trong ôn hòa, dựa trên tinh thần thượng tôn luật pháp, hoà giải và hòa hợp xã hội. Một mặt tôn trọng quyền lợi của chủ đất, khôi phục và bảo vệ quyền tư hữu đất đai. Mặt khác giúp tòan thể nông dân có ruộng cày.

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2017

Cần có lời thành tâm sám hối và xin lỗi từ Đảng

Nhớ lại và Suy ngẫm từ mấy câu chuyện sau 30-4-1975
Đào Công Tiến - Mấy đề xuất những việc cần làm: (1) Cần tổ chức lễ tưởng niệm nạn nhân chiến tranh của cuộc chiến 30 năm (1945 – 1975) ở Việt Nam ngang tầm quốc lễ, thay vì chỉ là lễ mừng hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước, như đã được tổ chức hàng năm suốt 41 năm qua. Quốc lễ tưởng niệm hàng năm, mỗi năm một lần, vào thời điểm thích hợp là lúc 11h30 ngày 30 tháng 4. (2) Cần có lời thành tâm sám hối và xin lỗi từ đảng Cộng sản tới nhân dân – cộng đồng các dân tộc Việt về những quyết sách sai lầm từng đưa đến những đau thương mà dân tộc phải gánh chịu như đã nêu ở trên.
Ngày 30-4-2017 đang đến gần, tiếp tục gợi nhớ và thôi thúc suy ngẫm về những sự kiện lớn – kết thúc chiến tranh Việt Nam kéo dài 30 năm (1945-1975) và bắt đầu một “giai đoạn mới” cho thời hậu chiến của miền Nam nói riêng và Việt Nam nói chung.

Thứ Sáu, 7 tháng 4, 2017

Luận ‘anh hùng’ - đâu là lịch sử thực của Việt Nam

Luận ‘anh hùng’
Một chế độ có quá nhiều sự dối trá thì việc gì cũng khiến người ta bán tín, bán nghi. Không còn biết đâu là thật, đâu là giả. Tranh cãi về Võ Thị Sáu vừa tạm lắng trên facebook nói riêng và mạng xã hội nói chung nhưng vì thực – hư là một mớ bòng bong nên bất đồng vẫn còn nguyên và chắc chắn sẽ còn dây dưa rất lâu….
“Chị Sáu” điên hay tỉnh?
“Chị Sáu” là cách mà nhiều thế hệ ở Việt Nam được giáo dục để gọi “anh hùng Võ Thị Sáu.” Theo sách giáo khoa và các tài liệu chính thống do nhà nước phát hành thì “chị Sáu” không phải họ “Võ” tên Thị Sáu. Tên đúng của “chị Sáu” là Nguyễn Thị Sáu, sinh năm 1933, cư trú tại Phước Thọ, Đất Đỏ, nay thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Thứ Ba, 4 tháng 4, 2017

Khúc biến tấu buồn: Chuyện Mai và Tôi

Khúc biến tấu buồn
Cái ác còn ngự trị, thì không bao giờ có thể nói đến chuyện “ nhân bản”, “đạo đức”. Nó dám chà đạp lên tất cả, nó gây những tội ác không ai có thể nghĩ tới. Loài người mãi mãi phải cảnh giác với cái ác. Truyện ngắn “ Khúc biến tấu buồn” tôi viết, muốn có một tiếng nói cảnh tỉnh điều đó.
Tranh Du kích Đồng Tháp của họa sĩ Phạm Văn Đôn
…Gia đình tôi là một gia đình tư sản ở Sài Gòn. Ba, mẹ đều không muốn tôi đi theo con đường binh nghiệp.
Sự kiện “ mậu thân” sáu tám ập đến, trực tiếp chứng kiến đặc công giải phóng đánh vào toà Đại sứ Mỹ, Tổng nha cảnh sát… máu kiêu hùng trong người tôi nổi lên. Trong lớp tôi, một số bạn bè có ý định ra “ bưng” (1) tham gia cách mạng, một, hai người đến bí mật rủ tôi. Không một chút đắn đo, tôi theo liền.

Thứ Hai, 3 tháng 4, 2017

Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi

Hãy ngủ yên Đà Nẵng của tôi ơi
– Anh sắp phải đi xa. – Em biết. – Sao em biết, anh chưa nói với em mà? – Anh nói với em rồi. “Anh phải vô Sài Gòn học đại học. Học xong anh sẽ về quê, không đi nữa.” Em còn nhớ anh nói với em câu đó lúc mấy giờ, ngày nào và tại đâu nữa kìa. – Không phải. Đó là chuyện hồi chưa “giải phóng”, bây giờ thì khác. – Bây chừ anh tính đi đâu? – Anh vượt biên. Nếu đi lọt, có thể anh sẽ qua Mỹ học. – Bộ ở Việt Nam không có trường cho anh học sao. Em nghe nói Mỹ xa lắm, chắc là xa hơn Sài Gòn nhiều. Mùa hè làm sao anh về thăm quê được. – Anh sẽ về nhưng chắc không phải mùa hè. – Anh lại hứa.

Đà Nẵng trước năm 1975. Ảnh: internet

Chủ Nhật, 2 tháng 4, 2017

(2) Hà Nội năm 1940 qua 50 bức ảnh tuyệt đẹp

Hà Nội năm 1940 qua 50 bức ảnh tuyệt đẹp

Toàn cảnh cầu Long Biên, lúc này vẫn còn nguyên vẹn.

Gỗ được tập kết bên bờ sông Hồng, gần cầu Long Biên.