Thứ Sáu, 15 tháng 7, 2011

Khủng hoảng tư tưởng của chủ nghĩa tư bản phương Tây

Joseph E. Stiglitz (Project Syndicate, 06/07/2011):

Khủng hoảng tư tưởng của chủ nghĩa tư bản phương Tây

NEW YORK – Chỉ mới vài năm trước đây, hệ tư tưởng đầy sức mạnh dựa trên niềm tin cho rằng thị trường tự do và không bị bất kì trói buộc nào đã đưa thế giới đến bờ vực của sự phá sản. Ngay cả trong thời kì phát triển nhất, tức là từ đầu những năm 1980 đến năm 2007, chủ nghĩa tư bản không bị nhà nước điều tiết kiểu Mĩ cũng chỉ mang đến sự thịnh vượng cho những người giàu có nhất trong những nước giàu có nhất trên thế giới mà thôi. Trên thực tế, trong giai đoạn này phần lớn người dân Mĩ đều thấy rằng thu nhập của họ đã giảm đi từng năm hay là dẫm chân tại chỗ.
Hơn thế nữa, sự phát triển sản xuất của Mĩ về mặt kinh tế là không bền vững. Khi phần lớn thu nhập quốc gia của Mĩ rơi vào túi một số ít người thì sự phát triển chỉ có thể tiếp tục bằng cách bơm tiền cho người ta chi tiêu và tạo ra một núi nợ nần.
Tôi là một trong số những người từng hi vọng rằng cuộc khủng hoảng tài chính sẽ dạy cho người Mĩ (và cả một số người khác nữa) bài học về sự kiện là cần phải có nhiều công bằng hơn, nhà nước phải can thiệp nhiều hơn, và phải có sự cân bằng hơn giữa nhà nước và thị trường. Nhưng hóa ra là ngược lại, sự trỗi dậy của môn kinh tế học theo trường phái hữu khuynh - do hệ tư tưởng và những nhóm lợi ích đặc thù dắt mũi - lại một lần nữa đe dọa nền kinh tế toàn cầu – hay ít nhất là đang đe doạn nền các kinh tế châu Âu và Mĩ, nơi những tư tưởng này đang tiếp tục đơm hoa kết trái.

Thứ Năm, 14 tháng 7, 2011

Navigating the Road to Riches

Navigating the Road to Riches

Otaviano Canuto

WASHINGTON, D.C. – A switchover of global growth engines is taking place. Developing economies as a whole are now the source of more than half of global GDP growth. As a result, concern has naturally shifted to a new question: Are there risks that some or many of these developing countries could fall prey to the “middle-income trap”?
The “middle-income trap” has captured many developing countries: they succeeded in evolving from low per capita income levels, but then appeared to stall, losing momentum along the route toward the higher income levels of advanced economies. Such a trap may well characterize the experience of most of Latin America since the 1980’s, and in recent years, middle-income countries elsewhere have expressed fears that they could follow a similar path.

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Kinh tế thế giới đang chạm vào lằn ranh suy thoái kép

Kinh tế thế giới đang chạm 

vào lằn ranh suy thoái kép

Mời độc giả theo dõi 2 kỳ bài phân tích về tình hình kinh tế thế giới của TS. Phạm Chí Dũng.
(VEF.VN) - Theo phương pháp so sánh thời gian chu kỳ hồi phục và tái suy thoái giữa cuộc khủng hoảng 2008-2009 với thời kỳ Đại suy thoái 1929-1932, chúng ta có thể tính toán sơ bộ rằng chu kỳ phục hồi của nền kinh tế Mỹ sau cuộc khủng hoảng 2008-2009 sẽ kéo dài 28 tháng, tức đến tháng 10/2011 hay trong quý 4/2011, chu kỳ này sẽ chấm dứt và nền kinh tế Mỹ có thể bắt đầu chu kỳ suy thoái kép (double dip).

Phần 1. Những ẩn số của phương trình suy thoái
Ẩn số từ tâm trạng bi quan

Kinh tế thế giới: Suy thoái kép có thể bắt đầu khi nào?

Kinh tế thế giới: Suy thoái kép

có thể bắt đầu khi nào?

(VEF.VN) - Theo tổng kết của chuyên gia nước ngoài, lịch sử của chu kỳ tăng trưởng kinh tế thường kéo dài 3 năm. Mà quá trình hồi phục sau khủng hoảng 2008-2009 đã trải qua hơn 2 năm và 3 năm rưỡi kể từ đỉnh chu kỳ kinh doanh tháng 12/2007. Do vậy những chuyên gia này tính toán một chu kỳ suy thoái mới có thể bắt đầu vào năm 2012.
Ở phần 1 của loạt bài Kinh tế thế giới đang chạm vào lằn ranh suy thoái kép, TS. Phạm Chí Dũng đã phân tích các ẩn số từ bất ổn tâm lý, nợ công, thị trường chứng khoán và thị trường BĐS thế giới. Trong phần 2, tác giả sẽ tiếp tục đi tìm câu hỏi về thời điểm của cuộc suy thoái kép có thể diễn ra trên toàn cầu.

Why Is Protectionism Dormant?

Why Is Protectionism Dormant?

Though countries enacted hundreds of protectionist measures during the global financial crisis, only a small part of world trade ― just 0.8 percent between October 2008 and October 2009 — was affected. Even the most frequent targets of trade-discriminatory measures, such as China, and perpetrators including India, saw export and import trends change little, respectively, during the crisis.
Moreover, the impact appears to have subsided quickly: The share of world trade affected by protectionist measures from May to October 2010 fell to 0.2 percent and world trade flows surpassed pre-crisis levels in 2010.
But protectionism is not dead yet, as evidenced by its increase during the crisis, the rise in protectionist measures in the past six months, and the high barriers to trade that persist across large sectors. And, with the legacy of the last crisis, governments are now more vulnerable than before to the resurgence of protectionism if another global crisis strikes. It is therefore essential to understand the forces that helped limit protectionism during the last crisis.

The Future of the Renminbi as an International Currency

The Future of the Renminbi as an International Currency

China is successfully promoting the use of its currency, the renminbi (RMB), for international trade and investment. Economic logic suggests that this will eventually require full convertibility—the ability to change the RMB into another currency for any purpose and in any amount, without restriction. RMB reserve currency status1 will also require China to establish an open capital account and deeper and more competitive capital markets.
Thus, although internationalization of the RMB has attractions for both China and the rest of the world, it presents substantial challenges. In the short term, China’s highly controlled exchange rate, capital account regime, and structural current account surplus complicate efforts to generate outflows of RMB and manage return inflows of RMB. Its relatively high inflation also makes the authorities reluctant to facilitate returning RMB.
In the longer term, opening the capital account would force China to make its exchange rate more flexible in order to retain control over domestic interest rates. Given the reduced role this would imply for the government in the economy, political considerations may block complete convertibility for investment purposes for many years to come.

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

Đi bộ mỗi ngày giúp đẩy lùi 24 loại bệnh

Đi bộ mỗi ngày giúp đẩy lùi 24 loại bệnh

 Chỉ cần 30 phút đi bộ nhanh hoặc đạp xe mỗi ngày cũng đủ giúp bạn tránh xa khỏi 2 tá bệnh, trong đó có chứng mất trí nhớ và ung thư.

Bỏ ra chút thời gian vận động mỗi ngày cũng mang lại lợi ích to lớn cho sức khỏe của bạn, nhờ làm chậm lại quá trình lão hóa của cơ thể.  

Các nhà nghiên cứu đã đưa ra kết luận này sau khi kiểm tra 40 nghiên cứu đã thực hiện trong vòng 4 năm qua.

Ngoài việc làm giảm những bệnh như tiểu đường, loãng xương, trầm cảm, béo phì và cao huyết áp..., vận động nửa tiếng mỗi ngày cũng làm giảm nguy cơ bị ung thư (điều này thấy rõ trên một số dạng ung thư cụ thể như ung thư ruột kết...). Và nếu thời gian luyện tập tăng lên, thì lợi ích cũng gia tăng theo.

Với cánh đàn ông chịu khó vận động khi làm việc, thay cho việc ngồi lỳ ở bàn, tỷ lệ ung thư tuyến tiền liệt cũng giảm hẳn, báo cáo trên International Journal of Clinical Practice cho biết.

ĂN CHAY VÀ SỨC KHỎE

ĂN CHAY VÀ SỨC KHỎE

Nguyễn Thượng Chánh, DVM

Ăn chay (còn được gọi là ăn lạt) không phải là vấn đề mới mẻ gì đối với người Việt Nam mình. Ngược lại, các dân tộc Tây phương, từ vài chục năm nay đã xem việc không ăn thịt, không ăn cá là một phương pháp dưỡng sinh mới để duy trì một sức khỏe tốt. Trong bài viết nầy vấn đề ăn chay được trình bày qua cái nhìn của khoa học dinh dưỡng. Các lý do khác, như tôn giáo, tín ngưỡng, bảo vệ súc vật, bảo vệ môi sinh và sinh thái đều nằm ngoài khả năng hiểu biết của người viết.
* * *
ĂN CHAY CŨNG CÓ LẮM KIỂU
Thường thì ăn chay có nghĩa là không ăn thịt và cá cũng như bất cứ sản phẩm nào xuất phát từ loài vật. Nếu uống sữa và ăn những sản phẩm được làm từ sữa thì gọi là lacto vegetarian… Không uống sữa nhưng lại ăn hột gà, đó là ovo vegetarian…  Còn vừa dùng cả sữa lẫn hột gà thì người ta gọi là ovo lacto vegetarian…  Những ai ăn chay trường một cách khắc khe thuần túy thì tiếng Anh gọi là những vegan còn tiếng Pháp là végétarien strict hay végétalien.

10 nền kinh tế thảm hại nhất thế giới

Không hiểu so với ta thì họ tệ hơn hay ta tệ hơn ? Sợ là ta tệ hơn.

10 nền kinh tế thảm hại nhất thế giới


Forbes vừa tổng kết 10 nơi yếu kém nhất trên thế giới trong tổng số 177 nền kinh tế căn cứ vào tốc độ tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người, lạm phát và cán cân thanh toán trong 3 năm từ 2010 đến 2012.
1. Madagascar
GDP bình quân đầu người: 387 USD, lạm phát: 8,5%.
Giá bán lẻ gạo ở đây đã tăng gấp đôi chỉ trong vòng hai năm qua, trong khi đó, hàng nghìn người đã bị mất việc làm trong ngành dệt may sau một cuộc đảo chính quân sự năm 1999, buộc Mỹ phải đưa Madagascar ra khỏi Đạo luật cơ hội và phát triển châu Phi. Đạo luật này cho phép các nước tham gia có quyền ưu tiên tiếp cận thị trường Mỹ. Với tình hình chính trị vẫn còn nhiều bất ổn như hiện giờ, Madagascar có rất ít cơ hội thu hút vốn đầu tư nước ngoài trong năm nay.

Nghề lái taxi của người Việt ở Pháp

Nghề lái taxi của người Việt ở Pháp

Theo thống kê hiện ở Pháp có khoảng 5.000 tài xế taxi là người gốc Việt. Họ hành nghề đông nhất ở Paris, tiếp đó là Cannes, Nice, Lyon, Bordeaux... Để được hành nghề này, họ phải đầu tư khá nhiều thứ và gặp muôn vàn khó khăn.
 
 Nghề tài xế taxi được nhiều người Việt chọn lựa tại Pháp
 
Anh Lê Văn Sanh, quê gốc ở TPHCM, qua Pháp định cư từ năm 1985 cho biết, để được làm tài xế taxi trước nhất bạn phải biết lái xe từ 2 năm trở lên. Kế đó phải đi học 4 tháng đủ thứ linh tinh, nào là học cách hô hấp cứu người lúc khách bị tai nạn trong xe, học về thuế, tính toán, đường phố, ngõ ngách nơi mình đăng ký hành nghề... với học phí khoảng 2.500 euro/khoá. Các ông thầy sẽ kết thúc khoá học bằng cách kiểm tra rất ngẫu nhiên, đưa cho bạn chọn một ô số nào đó, ví dụ như từ khách sạn Le Meridien, khu Montparnasse đến China Town, quận 13. Trong vòng 7 phút, bạn phải lật bản đồ, tìm phương án đi nhanh chóng, tiện lợi cho khách nhất. Trường hợp bị kẹt xe thì chọn phương án nào, tính toán ra sao.

Tuyên ngôn Ðộc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

Tuyên ngôn Ðộc lập của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ

“The United States of America” người Trung Quốc dịch là “Hợp chúng quốc Mỹ Lợi Kiên” (“chúng” trong “quần chúng”, “đại chúng”, có nghĩa là đông, là nhiều, chứ không phải “chủng” trong “chủng tộc”, “chủng loại”), gọi tắt là Mỹ quốc. Cách gọi trên đã được người Việt Nam tiếp thu nhưng cắt bớt đi, chỉ gọi là Mỹ vì “mỹ” trong tiếng Việt không có nghĩa gì có thể gây hiểu lầm khi nói chuyện nên gọi luôn là Mỹ cho ngắn gọn. Cũng vì những lý do tương tự mà người Việt Nam đã gọi Pháp Lan Tây là Pháp, Đức Ý Chí là Đức, Nga La Tư là Nga… “Hợp chúng quốc” trong “Hợp chúng quốc Mỹ Lợi Kiên” là dịch nghĩa của “The United States”, còn “Mỹ Lợi Kiên” là dịch âm của “America”,
Tên gọi Hoa Kỳ là từ đàu ra? Hồi cuối thế kỷ 19 người Trung Quốc khi sang Mỹ nhìn thấy cờ nước có rất nhiều sọc ngang và ngôi sao, trông tựa như những bông hoa nên đã gọi quốc kỳ nước My là “hoa kỳ” (cờ hoa), gọi nước Mỹ là “hoa kỳ quốc” (nước cờ hoa). Ngày nay tên gọi Hoa Kỳ không còn phổ biến ở Trung Quốc nhưng trong tiếng Việt vẫn còn được sử dụng rất nhiều. Hoa Kỳ và Hợp chúng quốc Mỹ Lợi Kiên là hai tên gọi khác nhau chỉ cùng một quốc gia nhưng không thể ghép lại với nhau thành “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” hoặc tệ hơn nữa là còn ghi sai chính tả thành “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”. Đã nói Hoa Kỳ thì đừng thêm “hợp chúng quốc” vào. Làm thế không khác nào thay vì nói “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” lại nói là “Cộng hòa nhân dân Tàu”, “Cộng hòa nhân dân Trung Quốc”.

Tại sao thế kỷ 21 không thuộc về Trung Hoa

Tại sao thế kỷ 21 không thuộc về Trung Hoa

By Fareed Zakaria, viết cho CNN
Một cảnh chào mừng ngày thành lập Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 90, tổ chức vào ngày 28 tháng 6 vừa qua. Ảnh: Getty Images/CNN
Trung Hoa sẽ không là thế lực thống trị của thế kỷ 21 vì 3 nguyên nhân: Kinh tế, chính trị và địa chính trị.

Chủ Nhật, 10 tháng 7, 2011

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU (phần 3)

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU

LUIS SEPÚLVEDA


VIII

Thời gian còn lại trong ngày, người ta dành cho hai cái xác chết.
Họ quấn hai người lại bằng cái võng của Miranda, mặt đối mặt, để tránh cho họ đi về cõi vĩnh hằng như những kẻ xa lạ cô đơn. Sau đó họ khâu kín tấm khăn liệm bất đắc dĩ lại, buộc vào đó những hòn đá to ở bốn góc.
Họ kéo lê cái gói nặng đến một cái đầm lầy gần đó, nhấc nó lên, lăn nó lấy đà, rồi ném vào đám cỏ lác và hồng nước dại. Cái gói chìm dần, làm sủi những bong bóng to kéo theo nó đám cỏ dại và những con cóc bị bất ngờ.
Họ trở về cái quán lúc bóng tối đã làm chủ rừng già. Lão béo phân công mọi người canh gác. Hắn chỉ định hai người canh bốn tiếng một. Sao đó đổi phiên với hai người khác. Còn riêng hắn thì được ngủ yên tới sáng không bị đánh thức.

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU (phần 2)

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU

LUIS SEPÚLVEDA

IV

Sau năm ngày lênh đênh trên sông, Antonio José Bolivar tới được làng El Idilio. Khung cảnh làng có những thay đổi. Đối diện với dòng sông có khoảng hai chục nóc nhà, nối nhau thành một dẫy. Nhà cuối cùng to nhất, được đóng một tấm biển phía trên cửa với một dòng chữ sơn mầu vàng “Toà thị chính”. Làng El Idilio cũng đã có bờ ke bằng gỗ, nơi ông tránh không cập bến. Ông xuôi theo dòng nước, cho đến khi mệt mỏi mới cập thuyền vào bờ. Đó là nơi ông dựng căn nhà để ở bây giờ.

MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU (phần 1)


MỘT ÔNG GIÀ ĐỌC TIỂU THUYẾT TÌNH YÊU
LUIS SEPÚLVEDA
(1949~)
Luis Sepúlveda sinh năm 1949 tại Ovalle, Chile. Sau khi tốt nghiệp trung học, ông học ngành kịch nghệ tại Đại Học Quốc Gia Chile. Năm 1969, ông được học bổng 5 năm để tiếp tục học ngành kịch nghệ tại Đại Học Mátxcơva, nhưng chỉ sau 5 tháng, ông bị đuổi học vì đã kết bạn giao du với một vài người bất đồng chính kiến dưới chế độ Xô-viết, và phải quay về Chile.
Ngày 19.2.2009, ông được trao tặng giải thưởng lớn Premio Primavera de Novela với số tiền 200 ngàn Euro cho tiểu thuyết La sombra de lo que fuimos [Bóng tối của quá khứ chúng ta, 2009].
Cuốn Un viejo que leía novelas de amor [Một ông già đọc tiểu thuyết tình yêu, 1989] là tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Cuốn này đã được xuất bản qua hơn 60 ngôn ngữ.