Chủ Nhật, 11 tháng 11, 2012

Bằng tiến sĩ chủ yếu để làm quan

Làm giáo sư ở Việt Nam
Đi làm giáo sư: danh và lợi


Nếu như với nước ngoài, việc cầm tấm bằng tiến sĩ mới chỉ là có đủ trình độ để xử lý thông tin, bước khởi đầu cho con đường nghề nghiệp thênh thang trước mặt, thì tại Việt Nam, tấm bằng tiến sĩ lại được coi như điểm cuối cùng của quá trình đào tạo, kết thúc sự phấn đấu bằng cấp nghề nghiệp.
Với quan niệm như vậy, nên  số nghiên cứu sinh đang làm tiến sĩ ở các trường đại học, phần đông là vì bắt buộc phải làm để lên chức hoặc do nhà trường yêu cầu phải có bằng tiến sĩ mới được giảng dạy.
Vì thế, ngay từ khi bắt tay vào làm, việc bỏ thời gian nghiên cứu cho luận án của mình đã khiến họ mất rất nhiều công sức, thời gian tiền của…kèm cả gánh nặng hoàn thành một ngưỡng cuối cùng của sự nghiệp. Vượt qua điểm cuối này là họ đã có thể giảng dạy ở mức giá trị cao hơn, được thăng tiến hơn và chả dại gì lại đâm đầu vào một quá trình nghiên cứu mới khi vừa thoát ra khỏi đó. Chưa kể, một số tiến sĩ có bằng nhưng không hề phải nghiên cứu gì để làm luận án.
Vì thế, việc nhận định chất lượng và số lượng công trình nghiên cứu khoa học của VN thấp, hệ thống và chất lượng đào tạo giáo dục ĐH có nhiều bất cập, không gắn kết đào tạo và nghiên cứu, cũng như khả năng tiếng Anh của giảng viên kém... tại hội thảo “Giáo dục ĐH VN hội nhập quốc tế”, do Quỹ phát triển ĐHQG tổ chức ở TP.HCM hôm 9/11, là điều hoàn toàn bình thường.
                            
Theo GS. Nguyễn Văn Tuấn (ĐH New South Wales, Úc) cho hay, VN hiện có khoảng 24.000 tiến sĩ và 9.000 GS và PGS, nhưng số công trình nghiên cứu khoa học công bố lại ít và kém nên nằm vào nhóm thấp nhất các nước Đông Nam Á, chỉ đứng 76/141 quốc gia trong bảng xếp hạng trí tuệ toàn cầu năm 2012.
Một lý do được đưa ra là số lượng sinh viên tăng quá nhanh, nên đa số GS, tiến sĩ ở các trường ĐH phải dành toàn bộ thời gian “chạy sô” giảng dạy, đương nhiên không có thời gian nghiên cứu. Hơn nữa, đổ tại cho kinh phí nghiên cứu khoa học ít và sử dụng chưa hiệu quả, trang thiết bị phục vụ nghiên cứu thiếu và lạc hậu, nên khoảng 70% tiến sĩ không làm nghiên cứu khoa học, mà chỉ đi giảng dạy hoặc làm các chức vụ hành chính và quản lý vẫn là con số chưa sát thực.
Đúng là có bằng tiến sĩ thì đi dạy là đương nhiên, nhưng do Việt Nam lại thành lập các Viện nghiên cứu độc lập với các trường ĐH (theo hệ thống Nga Xô), nên các tiến sĩ này lại càng không có cơ hội tiếp xúc và dành thời gian cho việc nghiên cứu. Họ sẽ chỉ dạy suông mà thiếu những cập nhật, phát hiện mới trong quá trình nghiên cứu, cũng như không rèn cho sinh viên thói quen nghiên cứu hoặc say mê nghiên cứu một đề tài nào đó cùng với thầy của mình. Vì vậy, mà nền khoa học nước nhà ngày càng đi vào ngõ cụt.
Một minh chứng rõ nét nhất cho việc lấy tấm bằng tiến sĩ chỉ để làm quan, đó là trong số 20 Bộ trưởng đương chức của Việt Nam thì có đến 12 người có bằng tiến sĩ. Từ Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến GS-TS, cho đến Bộ trưởng Giao thông vận tải Đinh La Thăng cũng có bằng tiến sĩ, Bộ trưởng Tài chính Vương Đình Huệ GS-TS, Bộ trưởng bộ NN và PTNT Cao Đức Phát –TS, Bộ trưởng Công thương Vũ Huy Hoàng – TS, Bộ trưởng GD-ĐT Phạm Vũ Luận GS-TS, Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang – TS…và lẽ đương nhiên Thống đốc NHNNVN Nguyễn Văn Bình cũng là tiến sĩ khoa học.
Với ngần này tiến sĩ đứng đầu các bộ ngành, bận rộn với công việc quản lý thì thời gian đâu cho họ nghiên cứu khoa học. Đòi hỏi điều này tại thời điểm họ đương chức là quá xa xỉ. Còn khi đã về hưu thì chẳng còn muốn làm việc, nữa là có thói quen nghiên cứu khoa học, bởi bao nhiêu tâm sức đã dành cho việc đấu đá, giữ ghế cả rồi. Vì thế có tấm bằng tiến sĩ cũng là có thể đặt một chân lên nấc thang thăng tiến. Điều này sẽ chỉ có ở Việt Nam, nơi năng lực và bằng cấp không phải để nghiên cứu mà là để trở thành tấm vé vào cửa, nếu may mắn có thể lọt được vào trung tâm quyền lực lớn của đất nước thì sao. Biết đâu đấy, ai mà chả có quyền hy vọng!

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét