Đề án tổng thể tái cơ cấu kinh tế
1. Nâng cao chất lượng các quy hoạch, gắn chiến lược với quy hoạch và kế
hoạch, nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch phát triển
Nâng
cao chất lượng các dự án quy hoạch (cả quy hoạch tổng thể và quy hoạch chi
tiết) gắn với tăng cường hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với công
tác quy hoạch. Mọi chiến lược và quy hoạch phát triển đều phải xuất phát trước
hết từ tổng thể, các ưu tiên phát triển chung của cả nước đến các vùng kinh tế,
địa phương và cơ sở. Theo tinh thần đó, Chính phủ, các bộ, Ủy ban nhân dân các
tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương phải rà soát lại các quy hoạch tổng thể
phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch phát triển ngành và sản phẩm quốc gia
trên cơ sở cập nhật các dự báo đảm bảo thực hiện các nội dung và định hướng tái
cơ cấu tổng thể nền kinh tế, nhất là tái cơ cấu ngành sản xuất và dịch vụ phù
hợp với từng vùng kinh tế, phát huy tiềm năng lợi thế của địa phương; gắn kết
sản xuất với tiêu thụ sản phẩm và đảm bảo phát triển bền vững. Trong đó, chú
trọng việc hoàn thiện và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy hoạch
phát triển kết cấu hạ tầng, các quy hoạch đô thị, khu công nghiệp, kể cả các
khu công nghiệp nhỏ, các quy hoạch ngành và sản phẩm quan trọng thuộc loại ưu
tiên phát triển.
Các giải pháp ổn định kinh tế vĩ mô
luôn thuộc nhóm ưu tiên thực hiện để hỗ trợ và thúc đẩy các nội dung khác của
tái cơ cấu kinh tế. Mục tiêu ưu tiên của quản lý kinh tế vĩ mô không chỉ là lạm
phát thấp hợp lý, mà còn phải bảo đảm được lòng tin của thị trường và dân chúng
đối với lạm phát kỳ vọng hợp lý; đồng thời, Chính phủ phải có khả năng và nguồn
lực để đối phó thành công với những bất ổn, biến động của thị trường trong và
ngoài nước.
a. Về chính sách tiền tệ và phát triển
thị trường tài chính
-
Điều hành linh hoạt, chủ động, có hiệu quả chính sách tiền tệ, phù hợp
với nguyên tắc thị trường có sự quản lý của nhà nước nhằm ổn định giá trị đồng
tiền, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng, sự an toàn và
hiệu quả của hệ thống thanh toán quốc tế; góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững.
- Nghiên cứu, từng bước chuyển cơ
chế điều hành chính sách tiền tệ theo hướng lấy lạm phát làm mục tiêu đảm bảo
kiểm soát lạm phát phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và chỉ tiêu lạm phát do
Quốc hội phê duyệt; phối hợp hài hòa giữa điều hành chính sách tiền tệ và chính
sách quản lý ngoại hối, chính sách lãi suất đồng Việt Nam với lãi suất ngoại
tệ;
- Tăng thêm vai trò và trách nhiệm
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong hoạch định và điều hành chính sách tiền
tệ; phối hợp đồng bộ chính sách tiền tệ với các chính sách kinh tế vĩ mô khác,
đặc biệt là chính sách tài khóa;
- Đổi mới cơ chế và chính sách quản
lý ngoại hối, quản lý vàng; triển khai đồng bộ các giải pháp khắc phục tình
trạng đô la hóa nền kinh tế, giảm dần và tiến tới xóa bỏ việc sử dụng ngoại tệ,
vàng làm phương tiện thanh toán trên lãnh thổ Việt Nam; tập trung tối đa ngoại
tệ vào hệ thống các tổ chức tín dụng; tự do hóa thận trọng các giao dịch vốn
phù hợp với cam kết quốc tế, đồng thời, bảo đảm kiểm soát có hiệu quả các rủi
ro liên quan, kiểm soát luồng chu chuyển ngoại tệ trong nền kinh tế và qua biên
giới.
- Tổ chức quản lý chặt chẽ, đồng bộ
và có hiệu quả các thị trường tiền tệ, đặc biệt là thị trường phái sinh, thị
trường ngoại tệ và thị trường vàng để huy động tối đa các nguồn lực cho đầu tư
phát triển kinh tế; đồng thời, góp phần bảo đảm cho các hoạt động tiền tệ, ngân
hàng được thực hiện một cách an toàn, lành mạnh và đúng pháp luật.
-
Thực hiện đầy đủ, nhất quán và triệt để các giải pháp của Đề án tái cơ cấu hệ
thống tài chính giai đoạn 2011-2015 ban hành kèm theo Quyết định số 254/QĐ-TTg
ngày 01 tháng 3 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ.
b. Thực hiện chính
sách tài khóa chủ động, linh hoạt đảm bảo an ninh tài chính quốc gia, ổn định
kinh tế vĩ mô, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của đất nước
- Thực hiện
chính sách tài khoá theo hướng chủ động giảm chi tiêu của Chính phủ trong thời
kỳ tăng trưởng kinh tế cao, ổn định, qua đó, giảm bội chi ngân sách, tạo nguồn
lực và khả năng để mở rộng chi tiêu kích cầu hoặc xử lý biến động bất thường khác trong thời kỳ kinh
tế suy giảm.
- Áp dụng khung chi tiêu trung hạn theo hướng từng bước
giảm dần bội chi ngân sách xuống mức hợp lý, kiểm soát có hiệu quả chất lượng, quy
mô, tốc độ gia tăng nợ công và nợ nước ngoài đảm bảo luôn ở trong giới hạn và
tiêu chuẩn an toàn theo thông lệ quốc tế phổ biến.
- Đổi mới cơ chế quản lý và phân cấp ngân sách giữa Trung
ương và địa phương; thực hiện nghiêm kỷ
luật tài khoá (dự toán ngân sách, mức thâm hụt ngân sách, quy mô, tốc độ gia
tăng và mức trần nợ công), tăng cường quản lý chi và nâng cao hiệu quả sử dụng các khoản chi ngân
sách.
- Tăng cường công khai hoá, minh bạch hoá các thông tin
về tài khoá và trách nhiệm giải trình của các cơ quan nhà nước và những người
đứng đầu các cơ quan nhà nước có liên quan trong phân bố, quản lý và sử dụng
các khoản chi tiêu từ ngân sách nhà nước.
- Nghiên cứu, soạn thảo và sớm ban hành Luật (sửa đổi, bổ
sung) Luật Ngân sách nhà nước.
c. Về các giải pháp khác
- Tăng
cường năng lực, hiệu lực quản lý nhà nước đối với hệ thống tài chính bằng cách:
+ Xây dựng và năng cao năng lực dự báo (gồm cả dự báo
ngắn hạn và trung hạn) về diễn biến tình hình kinh tế vĩ mô, diễn biến thị
trường trong và ngoài nước và những tác động của chúng đến ổn định kinh tế vĩ
mô;
+ Ban hành đầy đủ các quy tắc, chuẩn mực về chế độ quản
trị nói chung và về kế toán, kiểm toán, công khai hóa và minh bạch hóa nói
riêng phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế phổ biến áp dụng đối với các tổ
chức tín dụng, công ty tài chính; đồng thời, thiết lập thể chế đảm bảo thực thi
và tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc và chuẩn mực nói trên;
+ Thực hiện giám sát, đánh giá, xác định
định mức tín nhiệm, đo lường mức độ tuân thủ các nguyên tắc quản trị tốt đối
với các tổ chức tín dụng, công ty tài chính, các công ty niêm yết,.v.v.. để
phân loại đối tượng quản lý; qua đó, tập trung nguồn lực nhiều hơn vào các đối
tượng cần được giám sát và quản lý.
- Phối hợp chặt chẽ và hiệu quả chính sách tiền tệ và
chính sách tài khóa trong duy trì vững chắc ổn định kinh tế vĩ mô và các cân
đối vĩ mô.
- Chủ động kiểm soát có hiệu quả và duy trì các cân đối
lớn của nền kinh tế bao gồm: cân đối giữa tiêu dùng và tiết kiệm, giữa tiết
kiệm và đầu tư, cân đối ngân sách, cân đối cán cân thương mại, cán cân vãng lai
và thanh toán quốc tế; đa dạng hoá hình thức và tăng cường năng lực dự phòng
quốc gia, dự trữ ngoại tệ để đối phó với khủng hoảng và biến động bất thường ở
cả trong nước và trên thị trường quốc tế.
Các giải pháp tái cơ cấu nâng cao
hiệu quả đầu tư công chia thành hai nhóm. Đó là các giải pháp trước mắt và các
giải pháp trung và dài hạn.
a. Các giải pháp trước mắt tập trung
khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, đầu tư phân tán và đầu tư thiếu đồng bộ
đã tồn tại từ nhiều năm nay, cụ thể là:
- Thực hiện đầy đủ và nhất quán nội
dung Chỉ thị số 1792/CT-TTg ngày 15 tháng 10 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ
về tăng cường quản lý vốn đầu tư từ ngân sách và vốn trái phiếu chính phủ,
trong đó, đặc biệt nhấn mạnh đến các biện pháp quản lý liên quan đến phê duyệt
dự án và bố trí vốn đầu tư, đảm bảo vốn đầu tư phải được bố trí tập trung để
hoàn thành dự án trong thời gian sớm nhất, qua đó, giảm thất thoát lãng phí và
nâng cao hiệu quả đầu tư.
- Các dự án đã được quyết định đầu
tư phải thực hiện đúng theo mức vốn kế hoạch được giao, không làm đọng nợ xây
dựng cơ bản. Mọi trường hợp bổ sung vốn, điều chuyển vốn trong nội bộ ngành,
lĩnh vực phải được cơ quan có thẩm quyền giao vốn chấp thuận.
- Về tổng hợp, giao kế hoạch vốn đầu
tư từ ngân sách nhà nước năm 2012, phải rà soát, lập và cơ cấu lại danh mục các
dự án để bố trí vốn theo hướng ưu tiên bố trí vốn cho các dự án đã hoàn thành, các dự
án dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2012-2013 và vốn đối ứng cho các dự án ODA
theo đúng tiến độ thực hiện. Đối với các
dự án không bố trí được vốn trong kế hoạch năm 2012, thì sẽ chuyển đổi sang đầu
tư theo hình thức khác, hoặc huy động các nguồn vốn hợp pháp khác để thực hiện,
hoặc tạm dừng thực hiện năm 2012.
- Đối với vốn trái phiếu chính phủ,
trong giai đoạn 2012-2015 không bổ sung thêm dự án mới, trừ trường hợp đặc biệt
cần thiết; đồng thời, phải rà soát, lựa chọn và sắp xếp lại dự án đã có trong
danh mục sử dụng trái phiếu chính phủ trong giai đoạn 2011-2015 và kế hoạch năm
2012 theo các nguyên tắc: tập trung vốn cho các dự án đã hoàn thành và đã bàn
giao đưa vào sử dụng; ưu tiên bố trí vốn cho các dự án dự kiến hoàn thành trong
năm 2012-2013; còn lại các dự án không
bố trí được vốn, thì chuyển sang thực hiện đầu tư theo hình thức khác, hoặc huy
động vốn đầu tư hợp pháp từ các nguồn khác để thực hiện hoặc tạm thời đình
hoãn, chuyển sang giai đoạn sau năm 2015.
- Về phân cấp quyết định và giao kế
hoạch vốn trái phiếu chính phủ, căn cứ nghị quyết của Ủy ban thường vụ quốc
hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định tổng mức vốn và danh mục dự án; ủy quyền Bộ
trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư giao kế hoạch vốn cho từng dự án cụ thể.
b. Về trung và dài hạn, thực hiện
đổi mới cơ bản thể chế phân bố, phân cấp, quản lý, sử dụng và giám sát, đánh
giá đối với đầu tư nhà nước, bao gồm:
- Nghiên cứu, đưa toàn bộ vốn đầu tư
nhà nước, gồm cả vốn trái phiếu chính phủ và vốn đầu tư nhà nước ngoài ngân
sách khác vào khuôn khổ chi tiêu và khuôn khổ đầu tư trung hạn, đảm bảo cân đối
ngân sách nhà nước phản ánh đầy đủ và chính xác các khoản thu chi, tăng
cường kỷ luật, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong quản lý chi ngân sách,
kiểm soát chặt chẽ nợ công và giữ vững an ninh tài chính quốc gia.
- Xác định danh mục ngành, lĩnh vực
ưu tiên đầu tư, bao gồm xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ[1], đào tạo phát
triển nguồn nhân lực có trình độ công nghệ, kỹ thuật cao, đầu tư phát triển
dịch vụ y tế và phúc lợi xã hội, đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn và nâng
cao năng lực quản lý và hiện đại hóa quản lý nhà nước. Vốn đầu tư của ngân sách
trung ương ưu tiên phân bố thực hiện các dự án quốc gia, các dự án vùng và liên
vùng. Đồng thời, xác định những dự án hạ tầng khả thi, có khả năng hoàn vốn đủ
mức hấp dẫn để kêu gọi tham gia góp vốn cùng đầu tư của khu vực tư nhân.
Không tiếp tục phân bố vốn đầu tư
mới vào các ngành mà khu vực tư nhân có khả năng và sẵn sàng đầu tư kinh
doanh như dịch vụ thương mại, khách sạn,
nhà hàng, kinh doanh bất động sản và một số ngành, lĩnh vực khác.
-
Nghiên cứu, soạn thảo ban hành Luật quản
lý đầu tư công, Luật quản lý vốn đầu tư kinh doanh của nhà nước tại các doanh
nghiệp, Nghị định về quản lý đầu tư
trung hạn; đồng thời, nghiên cứu, xây dựng kế hoạch đầu tư trung hạn 2013-2015 để
phân bố, quản lý và sử dụng vốn đầu tư công, thay cho kiểu phân bố, quản lý vốn
đầu tư hàng năm như hiện nay.
- Thiết lập và vận hành quy trình hợp lý, chặt chẽ và có hiệu quả về
xác định, thẩm định, lựa chọn và thực hiện dự án đầu tư nhà nước, gồm tám bước
như sau:
+ Xác định chủ trương định hướng
chiến lược của đầu tư nhà nước phù hợp với các quy hoạch phát triển có liên
quan, mục tiêu và lĩnh vực ưu tiên đầu tư của khung quản lý đầu tư trung hạn;
+ Đánh giá, thẩm định ban đầu đối
với các đề xuất dự án, loại bỏ các dự án không phù hợp với chủ trương định
hướng chiến lược, quy hoạch phát triển và khung quản lý đầu tư trung hạn;
+ Thẩm định, đánh giá hiệu quả kinh
tế-xã hội của dự án;
+ Rà soát, đánh giá lại kết quả thẩm
định dự án;
+ Lựa chọn dự án và lên kế hoạch
ngân sách; dự toán vốn đầu tư của các dự án được chọn phải phù hợp với số vốn
đầu tư kế hoạch có thể cân đối được trong cùng thời kỳ;
+ Thực hiện đầu tư, thay đổi, bổ
sung (nếu cần thiết);
+ Hoàn thành đưa vào sử dụng; và
+ Theo dõi, đánh giá hiệu quả dự án,
so sánh hiệu quả kinh tế - xã hội thực tế với hiệu quả kinh tế - xã hội theo
thẩm định.
Chỉ có những dự án đáp ứng tiêu chí về hiệu
quả kinh tế-xã hội mới được lựa chọn; trong khi nguồn vốn hạn hẹp, phải tập
trung vốn đầu tư thực hiện các dự án quan trọng nhất, có hiệu quả kinh tế - xã
hội cao nhất trong số các dự án đã chọn theo quy trình nói trên, khắc phục đầu
tư dàn trải, phân tán, thiếu đồng bộ và kém hiệu quả.
- Các cấp có thẩm quyền chịu trách
nhiệm kiểm soát chặt chẽ phạm vi, quy mô của từng dự án đầu tư theo đúng mục
tiêu, lĩnh vực và chương trình đã được phê duyệt; chỉ được quyết định đầu tư
khi dự án đã được lựa chọn theo đúng quy trình và thứ tự ưu tiên, đã xác định
rõ nguồn vốn và khả năng cân đối, bố trí đủ vốn hoàn thành dự án đầu tư ở từng
cấp ngân sách. Xác định được nguồn vốn và bố trí cân đối đủ vốn là nội dung
không thể thiếu trong hồ sơ dự án trình cấp có thẩm quyết quyết định.
- Thực hiện công khai hóa, minh bạch
hóa thông tin về đầu tư; đồng thời, tăng cường
thẩm quyền và năng lực của hệ thống giám sát đối với đầu tư công, khuyến khích
và tạo điều kiện cho hoạt động giám sát của cộng đồng đối với các dự án đầu tư
công nói riêng và hoạt động đầu tư công nói chung; xác lập cụ thể quyền và
trách nhiệm của cộng đồng trong vai trò giám sát đối với đầu tư công.
4. Tái cơ
cấu DNNN, đồng thời, nâng cao chất lượng doanh nghiệp tư nhân và đầu tư nước
ngoài
a. Tái cơ cấu DNNN
Mục tiêu của tái cơ cấu DNNN là góp
phần thay đổi cơ chế quản lý và phân bố nguồn lực quốc gia, nâng cao hiệu quả
hoạt động và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp nói riêng và toàn bộ
doanh nghiệp nhà nước nói chung, đảm bảo DNNN, nhất là các các tập đoàn, tổng
công ty nhà nước thực hiện tốt hơn vai
trò và chức năng trong nền kinh tế tương xứng với nguồn lực và nhiệm vụ được
giao.
- Xác định và phân định rõ vai trò,
chức năng của các DNNN trong nền kinh tế, trên cơ sở đó, các doanh nghiệp nhà
nước được phân loại để áp dụng cơ chế quản lý, giám sát và đánh giá phù hợp. DNNN
được phân chia và phân biệt thành bốn nhóm sau đây:
+ Nhóm 1: gồm các doanh nghiệp cung
cấp dịch vụ công ích, thực hiện nhiệm vụ an ninh, quốc phòng;
+ Nhóm 2: gồm các doanh nghiệp
là công cụ, lực lượng vật chất để Nhà nước can thiệp, điều tiết thị trường, ổn
định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an ninh lương thực, an ninh năng lượng và các loại
dự trữ quốc gia khác;
+ Nhóm 3: gồm các doanh nghiệp thực
hiện các nhiệm vụ phát triển quốc gia trên các lĩnh vực, ngành nghề mà doanh
nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác không làm hoặc chưa làm được;
+ Nhóm 4: gồm các doanh nghiệp còn
lại.
Xây dựng cơ chế quản lý, giám sát và đánh giá đặc thù riêng đối với các
doanh nghiệp thuộc nhóm 1,2 và 3; đồng thời, đẩy nhanh tiến độ cổ phần hoá, đa
dạng hoá sở hữu đối với các doanh nghiệp còn lại.
- Áp dụng khung
quản trị hiện đại theo thông lệ quốc tế đối với doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu
100% vốn và doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nước:
+ Tách chức năng
đại diện chủ sở hữu nhà nước với chức năng quản lý nhà nước và chức năng giám
sát độc quyền trong kinh doanh của các cơ quan hành chính nhà nước; đồng thời,
thiết lập cơ quan đầu mối chuyên trách thực hiện đầy đủ tất cả các quyền sở hữu
nhà nước; chịu trách nhiệm giám sát, tổng hợp, theo dõi và đánh giá kết quả hoạt động , cơ cấu và hiệu quả sử dụng
tài sản, thực trạng bảo toàn và phát triển vốn ở từng doanh nghiệp nói riêng và
khu vực doanh nghiệp nhà nước nói chung.
+ Hoàn thiện các
quy chế quản trị nội bộ tập đoàn/tổng công ty theo các chuẩn mực và thông lệ
quốc tế, bao gồm: Quy chế người uỷ quyền thực hiện quyền chủ sở hữu nhà nước,
Quy chế hoạt động của HĐTV hoặc HĐQT và Ban Kiểm soát, Quy chế làm việc của Ban
Giám đốc; các quy trình quản lý như quy trình mua sắm và quản lý TSCĐ, quy
trình mua bán hàng hoá, dịch vụ, quy trình tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ,v.v…
+ Đổi mới cơ chế
tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ quản lý chủ chốt của tập đoàn, tổng công ty; sắp
xếp, bố trí lại cán bộ, nhất là các cán bộ quản lý chủ chốt; chủ động quy
hoạch, đào tạo, đãi ngộ và bố trí hợp lý cán bộ quản lý đảm bảo thực hiện được
mục tiêu chiến lược và phát triển ổn định lâu dài của tập đoàn, tổng công ty.
+ Thực hiện công
khai và minh bạch hoá thông tin đối với các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Tập
đoàn, tổng công ty phải công bố công khai các thông tin sau đây:
* Sứ mệnh và các
mục tiêu cụ thể hàng năm;
* Báo cáo tài
chính hợp nhất có kiểm toán của tập đoàn, tổng công ty và báo cáo tài chính
hàng năm có kiểm toán của các công ty con;
* Các quyết định
của cơ quan chủ sở hữu; các nghị quyết, quyết định của hội đồng quản trị hay
HĐTV và biên bản các cuộc họp tương ứng;
* Danh mục các
dự án đầu tư và tiến độ thực hiện các dự án đầu tư hiện hành;
* Các giao dịch
có quy mô lớn, khoản vay hay cho vay lớn và các giao dịch bất thường khác;
* Thông tin về
thị trường, dự báo về thị trường sản phẩm có liên quan, về những rủi ro thị
trường có liên quan;
* Thông tin về
các bên có liên quan, và về các giao dịch với bên có liên quan;
* Thông tin về nhân
thân, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp, các vị trí quản lý đã nắm
giữ, cách thức được bổ nhiệm, công việc quản lý được giao, cách thức trả lương
và các lợi ích khác của những cán bộ chủ chốt; thông tin về những người có liên
quan và ích lợi có liên quan của họ với công ty, bản tự kiểm điểm, đánh giá
hàng năm của họ trên cương vị là người quản lý doanh nghiệp,.v.v..
- Thực hiện tái cơ cấu toàn diện các tập đoàn,
tổng công ty nhà nước trên các mặt : sứ mệnh và chiến lược phát triển, ngành
nghề kinh doanh và sản phẩm chủ yếu, tài chính và nhân sự, quản trị và quản lý nội bộ,.v.v.. Cụ thể là:
+ Các tập đoàn,
tổng công ty phải xác định cụ thể sứ
mệnh; xây dựng, bổ sung sửa đổi chiến lược phát triển và các chỉ tiêu đo lường
kết quả thực hiện mục tiêu chiến lược tương ứng; xác định các ngành nghề kinh
doanh chính và các ngành nghề hỗ trợ liên quan. Tập trung đầu tư, đổi mới công
nghệ, đổi mới tổ chức quản lý để phát triển các ngành nghề kinh doanh chính đảm
bảo các tập đoàn, tổng công ty trở thành doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và
có năng lực cạnh tranh hàng đầu trong các ngành, lĩnh vực có liên quan.
+ Đối với các
ngành kinh doanh không liên quan, nhất là ngân hàng, tài chính, chứng khoán,
bất động sản, bảo hiểm, thì các tập đoàn, tổng công ty phải hoàn thành thoái
vốn trước năm 2015 bằng các giải pháp thích hợp như:
Một là, bán toàn
bộ cổ phần, phần vốn góp của công ty mẹ - tập đoàn/tổng công ty cho các tổ
chức, cá nhân ngoài tập đoàn/tổng công ty; không được bán hoặc chuyển giao
trong nội bộ tập đoàn/tổng công ty.
Hai là, chuyển
giao toàn bộ số cổ phần, phần vốn góp sang tập đoàn, tổng công ty nhà nước có
chuyên ngành kinh doanh chính thuộc các lĩnh vực tương ứng nói trên.
Ba là, chuyển
giao hoặc sáp nhập, hợp nhất toàn bộ doanh nghiệp do tập đoàn/tổng công ty nắm
giữ 100%vốn với tập đoàn/tổng công ty và doanh nghiệp có cùng ngành nghề kinh
doanh với doanh nghiệp được chuyển giao/hợp nhất hay sáp nhập nói trên.
+ Các tập đoàn, tổng
công ty phải cơ cấu lại hoạt động kinh doanh, phân bố lại các nguồn lực và đổi
mới, nâng cao hiệu lực quản trị nội bộ và hiệu quả quản lý theo các hướng sau
đây:
Một là, xây dựng
phương án và thực hiện tái cơ cấu các doanh nghiệp thành viên, tái cơ cấu danh
mục đầu tư tại các công ty liên kết theo hướng tập trung chuyên môn hoá, phân
công phối hợp và bổ sung trong nội bộ
tập đoàn,tổng công ty; khắc phục đầu tư dàn trải, phân tán và cạnh tranh nhau
trong nội bộ từng tập đoàn, tổng công ty.
Hai là, rà soát,
đánh giá lại danh mục các dự án đầu tư; đình hoãn hoặc chuyển giao các dự án
chưa cần thiết, dự án ngoài lĩnh vực kinh doanh chính, tập trung vốn đầu tư và
hoàn thành một cách sớm nhất các dự án thật sự cần thiết và hiệu quả.
+ Rà soát, đánh
giá, tập hợp và phân loại nợ (gồm các khoản nợ phải thu và phải trả) của công
ty thành viên và toàn bộ tập đoàn,tổng công ty; xử lý các khoản nợ quá hạn,
không có khả năng thanh toán theo các hình thức thích hợp; thực hiện giải thể
hoặc phá sản theo quy định của pháp luật đối với các doanh nghiệp thành viên
liên tục bị thua lỗ, không thanh toán được các khoản nợ đến hạn.
+ Thiết lập và vận
hành tốt hệ thống thông tin quản lý, gồm thông tin về mục tiêu, kế hoạch và kết
quả hoạt động tài chính, thông tin về mục tiêu, kế hoạch và kế quả hoạt động
kinh doanh, thông tin về kết quả kiểm soát nội bộ (thường xuyên và định kỳ),
kết quả kiểm toán, thông tin về danh mục đầu tư, chất lượng danh mục các khoản
đầu tư và tiến độ thực hiện các dự án đầu tư, thông tin về từng cán bộ quản lý
chủ chốt của tập đoàn/tổng công ty và các lợi ích của họ có liên quan đến tập
đoàn/tổng công ty; thông tin về sự kiện quan trọng liên quan đến tập đoàn/tổng
công ty nói chung, các đơn vị thành viên nói riêng, về các rủi ro và biến động
bất thường liên quan,.v.v...
Căn cứ vào các định hướng trên đây, các bộ,
ngành, Uỷ ban nhan dân các tỉnh thành phố trực thuộc trung ương, các tập đoàn,
tổng công ty và các doanh nghiệp khác phải xây dựng đề án, kế hoạch tái cơ cấu
riêng phù hợp trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt để triển khai thực hiện.
b. Thực hiện các chương trình quốc gia về phát
triển, nâng cao chất lượng các doanh nghiệp dân doanh
Thực tế cho thấy từ năm 2000 đến nay
khu vực kinh tế tư nhân trong nước đã tăng trưởng vượt bậc về số lượng; một số
doanh nghiệp đã lớn mạnh và trở thành tập đoàn kinh tế, thuộc vào nhóm các
doanh nghiệp lớn nhất của cả nước. Tuy vậy, đại đa số doanh nghiệp vẫn có quy
mô vừa và nhỏ, phạm vị hoạt động chủ yếu ở địa phương; năng lực tiếp nhận
chuyển giao và đổi mới công nghệ, năng lực quản lý, v.v. còn thấp; sự kết nối
và hợp tác giữa các doanh nghiệp cũng còn hết sức yếu kém. Nói chung, năng lực
nội tại của các doanh nghiệp chưa đủ mạnh để có thể mở rộng quy mô một cách
vững chắc, trở thành doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trên phạm vi quốc gia
và quốc tế. Vì vậy, để góp phần nâng cao chất lượng và năng lực cạnh tranh của
các doanh nghiệp, Chính phủ thực hiện một số chương trình và các giải pháp hỗ
trợ phát triển doanh nghiệp, bao gồm:
- Chương trình hỗ trợ đổi mới và
nâng cao năng lực công nghệ đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Chương trình đào tạo và nâng cao
năng năng lực quản lý cho các chủ sở hữu và người quản lý doanh nghiệp;
- Chương trình hỗ trợ nâng cao hiệu
lực quản trị công ty;
- Chương trình hỗ trợ nâng cao chất
lượng sản phẩm (với các dịch vụ tuyên truyền, giới thiệu và hướng dẫn áp dụng
các tiêu chuẩn, quy chuẩn chất lượng, dịch vụ thử nghiệm, kiểm nghiệm, đánh giá
và chứng nhận chất lượng sản phẩm dịch vụ,.v.v..);
- Chương trình hỗ trợ kết nối doanh
nghiệp, kết nối trường đại học, viện nghiên cứu và các tổ chức dịch vụ phát
triển kinh doanh với các doanh nghiệp nhỏ và vừa;
- Tiếp tục thực
hiện Chương trình “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam” để nâng cao ý thức tiêu
dùng hàng Việt Nam và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm đối với các doanh nghiệp nhỏ và
vừa.
c. Nâng
cao hiệu lực quản lý nhà nước và chất lượng các dự án đầu tư nước ngoài với một số giải pháp cụ thể sau đây:
- Xây dựng và thực hiện chiến lược
vận động và xúc tiến đầu tư trực tiếp nước ngoài để phát triển các ngành, nghề
ưu tiên phát triển, đẩy nhanh tốc độ tái cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
- Xây dựng tiêu chí cụ thể đánh giá,
thẩm định và lựa chọn nhà đầu tư và dự án đầu tư nước ngoài nhằm đạt được các
mục tiêu:
+ Thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đổi mới và
nâng cao năng lực công nghệ;
+ Có khả năng tạo ra ngoại tệ đủ bù đắp nhu
cầu chi ngoại tệ của dự án, báo gồm cả chuyển vốn và lợi nhuận ra nước ngoài,
góp phần giảm thâm hụt và tiến tới cân bằng cán cân thương mại;
+ Sử dụng hợp lý, hiệu quả tài
nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường;
+ Tăng tỷ trọng giá trị gia tăng nội
địa;
- Xây dựng và thực hiện các gói giải
pháp ưu đãi và hỗ trợ cụ thể, linh hoạt trên cơ sở đàm phán, thỏa thuận với các
tập đoàn đa quốc gia để thu hút đầu tư của họ vào các ngành công nghệ cao, giá
trị gia tăng cao, xây dựng mạng sản xuất và chuỗi cung ứng nội địa liên kết với
hoạt động sản xuất của của các tập đoàn đa quốc gia.
- Đổi mới hệ thống quản lý, vận động
và xúc tiến đầu tư nước ngoài; đồng thời, tăng cường năng lực và hiệu lực giám
sát thực hiện đầu tư sau đăng ký. Tách chức năng nghiên cứu, hoạch định chính
sách, pháp luật về đầu tư nước ngoài và chức năng vận động, xúc tiến, giám sát
và hỗ trợ các nhà đầu tư; thành lập Cơ quan xúc tiến đầu tư Việt Nam (Vietnam
Invest).
- Củng cố công tác giám sát, theo
dõi và quản lý FDI sau cấp phép bằng các giải pháp:
+ Duy trì mối liên hệ thường xuyên
với các nhà đầu tư để kịp thời nắm bắt các vướng mắc, khó khăn gặp phải trong
quá trình đầu tư. Cơ quan xúc tiến đầu tư phải là đầu mối một cửa, chủ trì phối
hợp với các cơ quan liên quan khác đề xuất
các giải pháp tháo gỡ hoặc hỗ trợ kịp thời cho nhà đầu tư;
+ Tăng cường năng lực, xây dựng hệ
thống thông tin quốc gia, thống nhất toàn quốc về đầu tư nước ngoài;
+ Giám sát thường xuyên và kịp thời
phát hiện các dự án FDI sử dụng sai mục đích, kém hiệu quả các ưu đãi đầu tư
(đặc biệt là đất đai và hạ tầng); kịp thời thu hồi và chuyển giao các nguồn lực
đó cho những dự án hiệu quả hơn; định kỳ đánh giá kết quả thu hút và hiệu quả
kinh tế-xã hội của đầu tư nước ngoài;
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực
hiện các giải pháp chống chuyển giá ngay từ khi xây dựng các công trình xây dựng.
Trọng tâm chính sách là cải cách mở
rộng quy mô và hiệu quả hoạt động của các loại thị trường, nhất là thị trường
các yếu tố sản xuất; có bước đột phá về nâng cao tính minh bạch, bình đẳng, giảm
phí tổn và rủi ro của môi trường kinh doanh. Các giải pháp cụ thể bao gồm:
a. Tiếp tục và tăng cường áp đặt
nguyên tắc thị trường cạnh tranh đối với doanh nghiệp nhà nước, nhất là tập
đoàn, tổng công ty nhà nước; loại bỏ trên thực tế các ưu tiên, lợi thế do thể
chế tạo ra đối với DNNN so với các doanh nghiệp khác trong các lĩnh vực sau
đây:
- Xây dựng, soạn thảo và tham vấn
chính sách;
- Tiếp cận thông tin từ các cơ quan
quản lý nhà nước;
- Tiếp cận quyền sử dụng đất và các
nguồn tài nguyên khác;
- Tiếp cận vốn tín dụng, nhất là tín
dụng đầu tư của nhà nước.
b. Tiếp tục mở cửa thị trường các
ngành, lĩnh vực kinh doanh độc quyền tự nhiên hoặc do các tập đoàn, tổng công
ty nhà nước thống lĩnh hoặc giữ thị phần chi phối; hạn chế dần và tiến tới loại bỏ hoặc kiểm soát có hiệu quả
vị thế độc quyền hoặc thống lĩnh thị trường của các doanh nghiệp trong các
ngành, lĩnh vực đó.
c.
Trên cơ sở xác lập và kiểm soát chặt chẽ quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp,
nghiên cứu và từng bước thiết lập thị trường chính thức về quyền sử dụng đất,
cho phép và tạo điều kiện chuyển đổi, chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo cơ
chế thị trường nhằm tăng nguồn cung về đất, giảm giá đất và chi phí xây dựng hạ
tầng mới; đồng thời, tăng cường công khai, minh bạch trong quản lý quy hoạch,
nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với quy hoạch sử dụng đất.
d. Tiếp tục kế thừa và phát huy kết
quả Đề án 30 về đơn giản hoá thủ tục hành chính, tiếp tục đột phá về đơn giản
hoá và hợp lý hoá hệ thống thủ tục hành chính trên một số lĩnh vực quản lý nhà
nước, bao gồm đất đai, đầu tư và xây dựng, hải quan, thuế, quảng cáo, vận tải
hàng hóa và xuất nhập khẩu, vệ sinh, an toàn thực phẩm.
e. Tiếp tục hoàn thiện và nâng cấp
hệ thống thông tin quốc gia về doanh nghiệp, tiếp tục nâng cao chất lượng, đơn
giản hoá thủ tục và giảm chi phí đăng ký doanh nghiệp.
g. Nghiên cứu, đánh giá, thực hiện
bổ sung, sửa đổi các luật hiện hành hợp thành môi trường pháp lý về kinh doanh
theo hướng tháo bỏ rào cản, bãi bỏ hoặc bổ sung, sửa đổi các quy định lạc hậu, không thân thiện và
không phù hợp với cơ chế thị trường, với hội nhập kinh tế quốc tế; đổi mới tư
duy, phương thức quản lý để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước, mở rộng và tăng
thêm cơ hội đầu tư và kinh doanh. Các luật đó bao gồm:
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Luật Đất
đai và các nghị định hướng dẫn thi hành;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Luật Đầu
tư và các nghị định hướng dẫn thi hành;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Luật Xây
dựng và các nghị định hướng dẫn thi hành;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Luật kinh
doanh bất động sản;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Luật
Thương mại và các nghị định hướng dẫn thi hành;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) các luật
thuế, nhất là các quy định về ưu đãi đầu tư có liên quan và các quy định hướng
dẫn thi hành;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Luật Doanh
nghiệp và các luật khác có liên quan; các nghị định hướng dẫn thi hành;
- Luật (sửa đổi, bổ sung) Bộ Luật
Dân sự;
- Và một số luật, pháp lệnh khác.
a. Bổ sung, thay đổi danh mục ngành,
nghề khuyến khích đầu tư, chỉ bao gồm các ngành nghề ưu tiên phát triển đã được
xác định phù hợp với định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành và cơ cấu nội bộ ngành
kinh tế-kỹ thuật.
b. Thực hiện chế độ ưu đãi và khuyến
khích đầu tư đủ lớn về quy mô, đa dạng về công cụ và hình thức, vừa thúc đẩy hỗ
trợ, vừa lôi kéo và thu hút đầu tư có chất lượng cao đảm bảo phát triển các
ngành ưu tiên phát triển; các biện pháp ưu đãi
đầu tư đều phải có mục tiêu, thời hạn và
điều kiện ràng buộc, chế tài cụ thể, rõ ràng.
c. Đổi mới cơ chế
phân cấp quản lý nhà nước đối với đầu tư theo hướng:
- Các dự án đầu tư
xây dựng công trình được chia thành 3 loại, dự án cấp quốc gia, dự án cấp vùng
và dự án cấp địa phương để có cơ chế quản lý phù hợp;
- Chỉ chấp thuận đầu
tư và cấp phép xây dựng công trình đối với các dự án đầu tư xây dựng công trình
có đủ các điều kiện sau đây:
+ Địa điểm đầu tư
và quy mô sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng và
phát triển đô thị, quy hoạch phát triển hạ tầng kỹ thuật;
+ Đáp ứng các yêu
cầu về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật;
+ Có hiệu quả kinh
tế-xã hội đáp ứng các yêu cầu theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp
diện tích đất quy hoạch để đầu tư phát triển công nghiệp có hạn, không đáp ứng
đủ nhu cầu của nhà đầu tư, thì ưu tiên giao đất, cho thuê đất đối với dự án
thuộc ngành, nghề ưu tiên phát triển.
- Thiết lập cơ chế tăng
cường phối hợp giữa các địa phương trong vùng kinh tế trong thực hiện quy
hoạch, chiến lược phát triển, thực hiện thu hút đầu tư và thẩm định, chấp thuận
các dự án đầu tư xây dựng.
- Xây dựng quy trình hợp lý, liên thông giải
quyết các thủ tục hành chính về đầu tư–xây dựng, từ chấp thuận chủ trương đầu
tư, đánh giá tác động môi trường, thẩm định và chấp thuận dự án đầu tư, thỏa
thuận về giao đất, cho thuê đất,… đến cấp giấy phép xây dựng; đồng thời, thực
hiện cơ chế dịch vụ một cửa liên thông trong việc thực hiện các thủ tục hành
chính nói trên;
- Nâng cao thẩm
quyền, tăng cường năng lực và thực hiện có hiệu quả giám sát của cơ quan trung
ương về quản lý đầu tư xây dựng công trình bảo đảm dự án đầu tư được chấp thuận
đáp ứng đầy đủ tiêu chí, thực hiện đúng tiến độ, có hiệu quả kinh tế-xã hội;
tăng cường công khai hóa thông tin và trách nhiệm giải trình của các cơ quan
quản lý nhà nước về đầu tư và các vấn đề có liên quan.
7. Thực hiện các chương trình đồng bộ hỗ trợ
phát triển các cụm sản xuất liên ngành đối với các sản phẩm ưu tiên phát triển,
đặt dưới sự chỉ đạo tập trung, thống nhất từ trung ương (về mục tiêu, nguồn
lực, cơ chế và cách thức thực hiện, theo dõi, đánh giá và bổ sung, điều
chỉnh,.v.v..) nhằm tăng hàm lượng khoa học,
tăng tỷ lệ giá trị nội địa và nâng cao năng lực cạnh tranh. Cụ thể là:
a. Chương trình lấy mạng sản xuất và
chuỗi cung ứng các sản phẩm cụ thể được
ưu tiên phát triển là đối tượng chính sách;
b. Thực hiện đồng bộ các giải pháp
chính sách theo hướng phối hợp và kết hợp tất cả các chính sách có liên quan(như
sơ đồ sau đây) để hỗ trợ những công đoạn cần thiết nhất, đảm bảo kết nối được
tất cả các công đoạn và các bên có liên quan trong chuỗi sản xuất, kết nối
doanh nghiệp trong nước với các doanh nghiệp nước ngoài, kết nối sản xuất trong
nước với mạng sản xuất và chuỗi cung ứng toàn cầu. Các chính sách đó bao gồm:
-
Hỗ trợ nghiên cứu, phát triển và chuyển giao công nghệ;
-
Khuyến khích, ưu đãi và xúc tiến đầu tư;
-
Xúc tiến thương mại và hỗ trợ xuất khẩu, tiêu thụ sản phẩm;
- Phát triển cơ sở hạ tầng, nhất là
hạ tầng chuyên biệt, hạ tầng ngoài các khu công nghiệp;
- Dịch vụ thu thập, tập hợp và cung
cấp thông tin thị trường;
- Hỗ trợ đào tạo kỹ năng lao động,
nâng cao chất lượng nhân lực phù hợp với yêu cầu của các công đoạn trong chuỗi
sản xuất;
- Xây dựng và áp dụng các tiêu chuẩn
và quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng, các tiêu chuẩn môi trường theo
ngành hoặc theo tiêu chuẩn quốc tế, cung cấp dịch vụ thẩm định, đánh giá và xác
nhận tiêu chuẩn, quy chuẩn để kết nối có hiệu quả những công đoạn sản xuất
trong chuỗi giá trị;
- Cung cấp dịch vụ thí nghiệm, thử
nghiệm các sản phẩm mới,. v.v…
c. Thực hiện các biện pháp hỗ trợ đa
dạng, linh hoạt phù hợp với điều kiện và yêu cầu cụ thể của từng bộ phận trong
mạng sản xuất và lợi ích của các bên có liên quan; kết nối có hiệu quả các bộ
phận sản xuất các sản phẩm thượng nguồn và các sản phẩm hạ nguồn tạo thành
chuỗi cung ứng giá trị từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm, gắn sản xuất với thị
trường tiêu thụ.
Đồng thời, kết hợp, phối hợp và lồng
ghép chính sách phát triển ngành với chính sách phát triển vùng; hình thành mối
liên kết giữa các địa phương trong vùng thông qua các liên kết ngành.
d. Căn cứ vào các nội dung và định hướng nói trên, các bộ:
Công thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Văn hoá, Thể thao và Du lịch
chủ trì, phối hợp với các bộ, uỷ ban nhân dân các tỉnh thành phố có liên quan
xây dựng các đề án phát triển mạng sản xuất và chuỗi cung ứng đối với các sản
phẩm ưu tiên phát triển, có khả năng tham gia mạng cung ứng toàn cầu, trình Thủ
tướng Chính phủ phê duyệt trong Quý IX 2012 để triển khai thực hiện.
Nội dung của từng chính sách hỗ trợ hay can thiệp của nhà nước phải được
xác định tương ứng căn cứ vào các điểm yếu hay rào cản nội tại của từng khâu
trong mạng sản xuất và chuỗi cung ứng có liên quan; khắc phục được các điểm yếu
hoặc rào cản cụ thể đó theo cơ chế thị trường để nâng cao hiệu quả của từng
khâu và của toàn bộ chuỗi giá trị sản xuất, phân bố hợp lý lợi ích của các bên
trong mạng sản xuất và chuỗi giá trị, thúc đẩy phát triển bền vững toàn chuỗi
giá trị sản xuất, hoặc nâng cấp và tăng tỷ lệ nội địa của các chuỗi giá trị ở
trên lãnh thổ nước ta.
[1] Thực
hiện theo Đề án “ Xây dựng hệ thống hạ tầng
đồng bộ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước giai đoạn
2011-2020” của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp
hành Trung ương khoá XI.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét